Nguyên tắc thay thế đền bù,môn QLNN về tài nguyên và môi trường - Pdf 35

1

TIỂU LUẬN

Đề tài :Tìm hiểu nguyên tắc thay thế ,đền bù .
Môn: Quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường


2

MỤC LỤC
I.Tổng quan về nguyên tắc.
II.Khía cạnh tài nguyên.
III,Tác động tài nguyên.
IV.Kết luận.

I.Tổng quan về nguyên tắc: thay thế ,đền bù tài nguyên- đất
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, giữ vai trò rất quan trọng trong phát triển
kinh tế - xã hội và sự ổn định đời sống của người dân. Việt Nam là một đất nước
nông nghiệp, với khoảng 70% dân số sinh sống ở nông thôn và 48%trực tiếp sống
bằng nghề nông. Đất đã, đang và vẫn sẽ là công cụ sản xuất quan trọng cho nhiều
người dân, đặc biệt là những người nông dân nghèo hiện hàng ngày đang phải lệ
thuộc vào các hoạt động canh tác trên đất. Đất không chỉ đơn thuần là phương tiện
sản xuất mà còn là tài sản quý giá của nhiều hộ gia đình.
Tại Việt Nam kể từ thập niên 40-50 đến nay quan hệ đất đai đã có những thay đổi
căn bản. Sau khi dành độc lập, Nhà nước tiến hành thực hiện chính sách người cày
có ruộng, theo đó đất đai của địa chủ bị tịch thu vàchia lại cho những người dân
nghèo. Thập niên 60-80 được đánh dấu bằng quá trình hợp tác xã hóa, với đất đai
được huy động vào hợp tác để thực hiện sản xuất tập trung. Cuối thập kỷ 80 và đầu
90 đánh dấu quá trình xóa bỏ hợp tác xã, trong bối cảnh đất đai được chia cho các
hộ gia đình. Luật đất đai do Nhà nước ban hành gần đây quy định rõ ràng về các

mọc xuyên qua...
+Thành phần quan trọng nhất của đất là mùn. Mùn của đất được hình thành nhờ sự
tác dụng của các vi sinh vật trong đất, chúng biến các rễ chết, lá rụng... thành thức
ăn cho cây. Mùn như một chất hồ gắn các thành phần của đất, tạo kết cấu xốp để
thấm và giữ nước, dễ cày bừa. Ngược lại, nếu ít mùn đất sẽ chặt, khó cày bừa, chứa
ít không khí, thấm nước kém, dễ mất nước và bốc hơi nhanh.
+Ngoài mùn ra, nước đóng một vai trò quan trọng trong đất. Nước là môi trường
để tiến hành các phản ứng hóa học trong đất, ngoài việc hòa tan các chất dinh
dưỡng giảm độ độc do muối mặn và muối chua, nước cần cho quá trình khoáng
hóa các chất hữu cơ, kho dự trữ thức ăn của cây trồng...


5

+Đất tốt là đất có độ phì nhiêu cao, tức là có khả năng cung cấp cho cây trồng một
số lượng cần thiết nước và các chất dinh dưỡng, đồng thời không được chứa các
chất có hại cho cây trồng.
+Đất tốt là đất có độ thông khí cao (độ xốp), để duy trì sự hô hấp cho rễ cây và các
vi sinh vật sống trong đất.
+Đất tốt là phải có độ pH phù hợp cho sự phát triển của cây trồng.

Như vậy, đất không chỉ làm nền cho cây mọc, cung cấp nước và chất dinh dưỡng.
Nó còn là "một vật thể sống", vì đất là môi trường thuận lợi cho các sinh vật và vi
sinh vật sinh sôi nảy nở. Có thể nói: Đất tốt là đất có kết cấu thích hợp, độ ẩm.
nhiệt độ và độ pH tối ưu, giầu chất dinh dưỡng và có hoạt động sinh học cao.
Ngược với tính chất trên là "đất xấu". Trong thực tế "đất xấu" có thể cải tạo thành
đất tốt được.
-Tài nguyên đất đai là một trong những tài nguyên vô cùng quý giá của con người,
điều kiện sống cho động vật, thực vật và con người trên trái đất, cùng với vòng
quay của bánh xe thời gian thì con người xuất hiện và tác động vào đất đai, cải tạo

chất thải rắn (đất, cát, sỏi) che phủ nhiều vùng đất ven bờ, đồng thời làm tăng xâm
nhập mặn từ biển vào các vùng khai thác làm nhiễm mặn đất và nước ngầm. Hoạt
động nuôi tôm nước lợ/mặn vùng ven bờ cũng gây ra sự nhiễm mặn đất canh tác
nông nghiệp. Sự nhiễm mặn tăng lên cũng có thể gây nhiễm phèn làm chua đất
(hay suy giảm chất lượng đất)..
Ví dụ:ở đồng bằng sông Cửu Long sau vụ lúa bà con nông dân bơm nước mặn vào
ruộng để nuôi tôm làm cho đất bị mặn hóa khó cải tạo lại để trồng lúa…
-Đất đai có quá trình hình thânh lâu dài mới có được và có ý nghĩa quan trọng
trong môi trường sống mà dân số con người ngày càng tăng lên cần đất để ở và
diễn ra hoạt động sản xuất sinh sống vì vậy chúng ta cần cải tạo sử dụng đất hợp lý
để bảo vệ tài nguyên đất ,phát triển bền vững ;lâu dài trong tương lai.

III.Tác động của tài nguyên đất đến đời sống kinh tế-văn hóa,xã hội;
an ninh quốc phòng :
Tài nguyên đất là tài sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động và cùng với quá
trình lịch sử phát triển kinh tế-xã hội, đất đai là điều kiện lao động. Đất đai đóng


7

vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Nếu không có
đất đai thì rõ ràng không có bất kỳ một ngànhsản xuất nà, cũng như không thể có
sự tồn tại của loài người. Đất đai là một trong những tài nguyên vô cùng quý giá
của con người, điều kiện sống cho động vật, thực vật và con người trên trái đất,
cùng với vòng quay của bánh xe thời gian thì con người xuất hiện và tác động vào
đất đai, cải tạo đất đai và biến đất đai từ sản phẩm của tự nhiên lại mang trong
mình sức lao động của con người, tức cũng là sản phẩm của của xã hội.
Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia và nó cũng là
yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật
khác trên trái đất. Các Mác viết: “Đất đai là tài sản mãi mãi với loài người, là điều

Đất đai năm 1993 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghi: “Đất đai
là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần
quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây
dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ
nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai
như ngày nay!”.
Rõ ràng, đất đai không chỉ có những vai trò quan trọng như đã nêu trên mà nó
còn có ý nghĩa về mặt chính trị. Tài sản quý giá ấy phải bảo vệ bằng cả xương máu
và vốn đất đai mà một quốc gia có được thể hiện sức mạnh của quốc gia đó, ranh
giới quốc gia thể hiện chủ quyền của một quốc gia. Đất đai còn là nguồn của cải,
quyền sử dụng đất đai là nguyên liệu của thị trường nhà đất, nó là tài sản đảm bảo
sự an toàn về tài chính, có thể chuyển nhượng qua các thế hệ...

Ở nước ta, các quy định của pháp luật về hỗ trợ, đền bù ngày càng phù hợp với
nhu cầu thực tế cũng như yêu cầu của các quy luật kinh tế.
Các đối tượng được bồi thường, hỗ trợ, đền bù ngày càng được xác định đầy
đủ, chính xác, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước, giúp cho công tác quản
lý của nhà nước được nâng cao, người nhận đền bù cũng thấy thỏa đáng.
Mức bồi thường hỗ trợ ngày càng cao, tạo điều kiện cho người dân có thể
khôi phục lại tài sản bị mất -> giúp người dân ổn định về đời sống và sản xuất.
Nhờ những cải thiện của pháp luật quy định về phương pháp tổ chức, về năng lực
cán bộ, thực hư, tiến độ hoàn thành các dự án đầu tư gần đây đã được rút ngắn hơn
so với các dự án cũ. Góp phần giảm bớt tác động tiêu cực đối với người dân cũng
như đối với dự án.
Việc thực hiện chính sách đền bù, hỗ trợ giúp cho đất nước ta xây dựng cơ
sở vật chất, phát triển kết cấu hạ tầng, xây dựng khu chế xuất, khu công nghiệp,


9



dụng đất nông nghiệp cũng còn những tác động tiêu cực đến điều kiện sống của
người dân như vấn đề ô nhiễm môi trường, các tệ nạn xã hội có chiều hướng gia
tăng. Điều này không những đem lại sự bất ổn cho xã hội mà còn có tác động
không nhỏ đến suy nghĩ, niềm tin của những người dân có đất nông nghiệp bị thu
hồi.
-Đời sống vật chất và tinh thần của phần lớn người dân nông thôn có đất bị
thu hồi trên địa bàn huyện sau khi bị thu hồi khá hơn trước đây .Mặc dù là dấu
hiệu tích cực nhưng điều băn khoăn là sự cải thiện đời sống này mới là vẻ bề
ngoài bởi lẽ người dân có sẵn tiền bồi thường, do chưa biết cách đầu tư sản xuất
kinh doanh trong khu vực phi nông nghiệp nên dùng xây nhà và sắm các phương
tiện sinh hoạt. Khi tiêu hết số tiền đền bù rồi, họ sẽ không còn nguồn thu nhập nào
đáng kể mang tính ổn định, vì không có việc làm chắc chắn.
Do đó, sự phát triển bền vững về đời sống vật chất và tinh thần của hộ bị thu hồi
đất chưa thực sự đảm bảo.
-Người nông dân chưa thật ổn định và chưa yên tâm với phương thức làm ăn.
Hầu hết các ngành nghề nông nghiệp của họ đều bị thách thức. Đầu vào của sản
xuất tăng giảm rất tùy tiện trong khi đầu ra lại bấp bênh. Lối làm ăn manh mún,
nhỏ lẻ không làm chủ được các tình huống của thị trường Vì vậy, họ vẫn đang chới
với trong thị trường và sản xuất đang còn nhỏ lẻ.
-Thu hồi đất nông nghiệp để phục vụ cho. việc phát triển các khu, cụm công
nghiệp đã đem lại những thành tựu to lớn, khẳng định vai trò quan trọng của sự
nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đẩy nhanh tiến trình hội nhập với nền kinh
tế khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, khi các khu, cụm công nghiệp đi vào hoạt động
và ngày càng phát triển, thì đồng thời cũng nảy sinh không ít bất cập, ảnh hưởng
tới đời sống xã hội của cộng đồng.
Về đất lâm nghiệp : hàng chục nghìn ha đất lâm nghiệp chưa có chủ thực sự,
nhiều vụ lấn chiếm, tranh chấp đất rừng xảy ra, giá trị sản xuất lâm nghiệp còn
thấp là những hạn chế trong lĩnh vực phát triển lâm nghiệp thời gian qua. Khai thác
hiệu quả tiềm năng đất lâm nghiệp nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm

sở hữu đất hoặc người không có đất. Hỗ trợ cho những người bị ảnh hưởng về kinh
tế bao gồm đền bù theo giá thay thế đầy đủ cho các tiệt hại về thu nhập hoặc nguồn
sinh kế - thường được gọi là các biện pháp hỗ trợ phục hồi sinh kế hoặc thu nhập.
Những người này phụ thuộc trực tiếp vào đất và thường là những người nghèo
nhất, dễ bị tổn thương nhất trong các công dân của quốc gia thành viên đang phát
triển. Họ có thể gồm có người làm nông lĩnh canh, người thuê tài sản, người thuê
đất và người làm công ăn lương cũng như thợ thủ công, người bán hàng, và các cơ
sở kinh doanh nhr ở trên đất mà họ không sở hữu. Họ có quyền được hưởng đền bù
cho thiệt hại về thu nhập hoặc nguồn sinh kế của họ theo giá thay thế đầy đủ. Các
tài sản bị mất có thể là mùa màng, công trình thủy lợi, cây cối vật nuôi, tường rào,
cửa hàng và các quầy bán hàng rong trong số nhiều tài sản khác.


12

Hỗ trợ tái định cư cho những người như vậy có thể bao gồm trợ cấp ổn định đời
sống về lương thực, cỏ khô và nhiên liệu cho đến khi thu nhập được khôi phục, và
sự tiếp cận khoản vay tín dụng, đào tạo, và cơ hội việc làm theo các chương trình.
Đối với thu hồi đất ảnh hưởng đế công trình thương mại, hỗ trợ tái định cư cho chủ
sở hữu sẽ bao gồm chi phí cho các hoạt động tái thiết, thu nhập thuần bị mất trong
thời kì không thể hoạt động, và chi phí vận chuyển nguyên vật liệu. Chủ sở hữu
cửa hàng có quyền sở hữu đất hoặc có quyền sở hữu đất có thể được công nhận
cũng được quyền hưởng đền bù bằng đất hoặc tiền mặt theo giá thay thế đầy đủ
cho đất mà trên đó họ thực hiện các hoạt động thương mại.
c.

Những lợi ích cho di dời kinh tế.

Các lợi ích cho người bị ảnh hưởng về mặt kinh tế có thể bao gồm cả những nỗ lực
đưa ra sáng kiến đặc biệt hướng tới người nghèo và người dễ bị tổn thương. Một số

làm cho địa phương phải ốn kém nhiều thời gian và chi phí để tổ chức giải quyết
các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo có liên quan; làm ảnh hưởng đến công tác của
chính quyền cho các hoạt động kinh tế-xã hội khác.
Việc chồng chéo trong các quy định về công tác đền bù, hỗ trợ là nguyên nhân
phổ biến dẫn đến sự không đồng bộ và khó khan khi thực hiện công tác đền bù, hỗ
trợ ở địa phương.
Việc để đất không sử dụng do dự án bị kéo dài là lãng phí tài nguyên đất, những
nguồn thu có được từ việc sử dụng đất và các tài sản trên đất. Lãng phí không phải
chỉ là đất đai không được sử dụng hiệu quả, địa phương không phát huy hết tiềm
năng, gây ảnh hưởng chung trong quy hoạch của địa phương, các nhà đầu tư bị
động trong kinh doanh, làm giảm hiệu quả sử dụng vố, mà đặc biệt hơn là đời
sống, sinh hoạt của nhiều người dân có đất trong diện đền bù, hỗ trợ không được
ổn định để tập trung phát triển sản xuất.
=> Đây là sự lãng phí, thiệt hại chung về kinh tế-xã hội của địa phương và của
toàn xã hội.
IV.KẾT LUẬN:
1. Thành tựu đạt được
- Ở nước ta, các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ngày
càng phù hợp hơn với yêu cầu của thực tế cũng như yêu cầu của các quy luật kinh
tế. Quan tâm tới lợi ích của những người bị thu hồi đất, Nghị định 197/2004/NĐCP sau một thời gian thực hiện, đặc biệt là sau sự ra đời của NĐ 84/2007/NĐ-CP
đã thể hiện được tính khả thi và vai trò tích cực của các văn bản pháp luật. Vì thế,


14

công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong thời gian qua đã đạt được các kết quả
khá khả quan, thể hiện trên một số khía cạnh chủ yếu sau:
- Thứ nhất, đối tượng được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ngày càng được xác
định đầy đủ chính xác, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước, giúp cho công
tác quản lý đất đai của Nhà nước được nâng cao, người nhận đền bù cũng thấy thỏa

trong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
- Thứ tám, Đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có năng
lực và có nhiều kinh nghiệm ngày càng đông đảo; sự chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn
của công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư giữa các bộ, ban, ngành có các dự án
đầu tư ngày càng được mở rộng và có hiệu quả.
Nhờ những cải thiện về quy định pháp luật về phương pháp tổ chức, về năng lực
cán bộ thực thi giải phóng mặt bằng, tiến độ giải phóng mặt bằng trong các dự án
đầu tư gần đây đã được rút ngắn hơn so với các dự án cũ, góp phần giảm bớt tác
động tiêu cực đối với người dân cũng như đối với dự án. Việc thực hiện chính sách
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã giúp cho đất nước ta xây dựng cơ sở vật chất,
phát triển kết cấu hạ tầng, xây dựng khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ
cao, các dự án trọng điểm của Nhà nước, cũng như góp phần chuyển đổi cơ cấu
nền kinh tế, ổn định đời sống sản xuất cho người có đất bị thu hồi.
2.

Trở ngại

Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đó chúng ta cũng còn những tồn tại,
vướng mắc khi tiến hành bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, trong đó đặc biệt là vấn đề
giá đền bù, gây những tác động tiêu cực đối với thị trường bất động sản.
- Thứ nhất , chính sách và pháp luật về đất đai, bồi thường thiệt hại còn chưa hoàn
chỉnh, chồng chéo và thường xuyên thay đổi và bổ sung dẫn tới tình trạng so bì,
khiếu nại của người có đất bị thu hồi qua các dự án hoặc một dự án nhưng thực
hiện đất thu hồi qua nhiều năm. Mặt khác, Luật đất đai chưa có cơ chế bắt buộc để
đảm bảo quỹ đất và nguồn vốn xây dựng khu tái định cư trước khi thu hồi đất.
- Thứ hai, chất lượng các khu tái định cư được xây dựng cũng chưa đáp ứng được
yêu cầu có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ.
- Thứ ba, chưa chú trọng tạo việc làm mới, chuyển đổi nghề cho người bị thu hồi
đất.


- Hai là, nâng cao chất lượng công trình quy hoạch tái định cư; chú ý đến yếu tố
văn hóa, tập quán, thói quen của đồng bào các dân tộc khi xây các khu tái định cư.
- Ba là, nâng cao năng lực thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của các ban,
ngành ở địa phương và các đơn vị tư vấn, cũng như tinh thần trách nhiệm, sự tuân


17

thủ trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật, của cán bộ thực thi việc kiểm kê,
kiểm đếm, lập phương án đền bù.
- Bốn là, có một kế hoạch dài hạn với nguồn tài chính đảm bảo trong nhiều năm
để thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Khống chế một cách nghiêm chỉnh về
quy mô thu hồi đất; xác định tiêu chuẩn bồi thường một cách hợp lý và hoàn thiện
hơn nữa quy trình thu hồi đất.
- Năm là, khắc phục những khó khăn trong việc xác định nguồn gốc đất dẫn đến
sự khó khăn trong việc xác định điều kiện để được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
cho người dân.
- Sáu là, ban hành nhiều chính sách hỗ trợ người dân như trú trọng xây dựng các
cơ sở đào tạo nghề, hỗ trợ họ phí cho con em nông dân bị thu hồi đất, quy hoạch và
phát triển các làng nghề hoặc hỗ trợ người tự tìm việc làm.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status