CHUYÊN ĐỀ 5
THANH TRA, KIỂM TRA TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
1.Thanh tra, kiểm tra việc sử dụng đất đai ở cơ sở
1.1. Một số vấn đề cơ bản về thanh tra, kiểm tra đất đai
1.1.1. Khái niệm
Hoạt động thanh tra, kiểm tra là một trong những chức năng thiết yếu của
quá trình quản lý nhà nước; nó góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu lực,
hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước.
Thanh tra việc quản lý và sử dụng đất đai, là việc xem xét tại chỗ của cơ
quan có thẩm quyền đối với công tác quản lý nhà nước về đất đai của các cơ quan
có chức năng quản lý nhà nước về đất đai và việc quản lý, sử dụng đất của người
sử dụng đất. Qua đó nhằm rút ra những nhận xét, kết luận và xử lý theo thẩm
quyền, hoặc kiến nghị và cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý, khắc phục những
nhược điểm, thiếu sót, phát huy những ưu điểm, góp phần nâng cao hiệu lực quản
lý nhà nước về đất đai và hiệu quả sử dụng đất.
1.1.2. Mục đích, phạm vi hoạt động thanh tra, kiểm tra đất đai
- Mục đích
Thanh tra, kiểm tra đất đai là chức năng thiết yếu của công tác quản lý đất
đai, qua đó mà biết được kết quả tác động của cơ quan quản lý nhà nước đối với
đối tượng quản lý tốt hay chưa tốt để khắc phục mặt chưa tốt, bảo đảm cho pháp
luật được chấp hành nghiêm chỉnh, bảo đảm pháp chế, tăng cường kỷ cương trong
quản lý đất đai.
Hiện nay việc sử dụng đất không đúng mục đích được giao, không theo qui
hoạch, kế hoạch, mua bán chyển nhượng đất trái chính sách đang khá phổ biến.
Đối với cơ quan quản lý đất đai cũng còn nhiều nơi cũng còn buông láng, không
ngăn chặn được việc chuyển đất nông nghiệp vào mục đích khác, hồ sơ quản lý
chưa đầy đủ vv
Vì vậy thanh tra, kiểm tra việc quản lý và sử dụng đất đai nhằm mục đích:
+ Bảo đảm cho đất đai được sử dụng một cách hợp lý, đúng qui hoạch, kế
hoạch nâng cao hiệu quả về sử dung đất.
hội, tổ chức chính trị- xã hội- nghề nghiệp, tổ chức - xã hội- nghề nghiệp, tổ chức
kinh tế, tổ chức kinh tế- xã hội, tổ chức sự nghiệp công, đơn vị lực lượn vò trang
nhân dân và các tổ chức khác theo quy định của Chính phủ được nhà nước giao
đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất;
Tổ chức kinh tế nhận chuyển quyền sử dụng đất;
+ Hộ gia đình, cá nhân trong nước được Nhà nước giao đất, cho thuê đất,
nhận chuyển quyền sử dụng đất hoặc được công nhận quyền sử dụng đất;
+ Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng
địa bàn thôn, làng, bản, ấp, bun, phum, sóc và các điểm dân cư tương tự cùng
phong tục tập quán hoặc có chung dòng họ được nhà nước giao đất hoặc công nhận
quyền sử dụng đất;
+ Cơ sở Tôn giáo gồm chùa, nhà thê, thánh thất, thánh đường, tu viện,
trường đào tạo riêng của tổ chức tôn giáo và các cơ sở khác của tôn giáo được nhà
nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất;
+ Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao;
+ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư, hoạt động văn hóa, hoạt
động khoa học thường xuyên hoặc về sống ổn định tại Việt Nam được nhà nước
giao đất, cho đất, được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở;
+ Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam theo pháp luật về đầu
tư được nhà nước Việt Nam cho thuê đất.
- Nội dung thanh tra đất đai
Theo điều 132 Luật Đất đai 2003, nội dung thanh tra, kiểm tra đất đai bao gồm:
+ Thanh tra việc quản lý nhà nước về đất đai của UBND các cấp
+ Thanh tra việc chấp hành pháp luật đất đai của người sử dụng đất và tổ
chức, cá nhân khác.
Thanh tra đối với người quản lý nhà nước về đất đai là việc thanh tra việc
chấp hành pháp luật của người quản lý thông qua việc thực hiện chức năng, nhiệm
vụ của người quản lý theo quy định của pháp luật.
Thanh tra đối với người sử dụng đất là việc thanh tra việc chấp hành pháp
luật của người sử dụng đất thông qua việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người
thanh tra ra văn bản chính thức, kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý theo quy định
của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các kết luận, kiến nghị và
quyết định xử lý của mình.
1.2. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật đất đai của người sử
dụng đất
1.2.1. Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất
Theo điều 106 Luật Đất đai 2003 quy định về quyền chuyển đổi, chuyển
nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng, cho quyền sử dụng đất; quyền thế
chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
Người sử đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho
thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, tặng, cho quyền sử dụng đất khi có
đủ các điều kiện sau:
- Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
- Đất không có tranh chấp;
- Quyền sử dụng đất không bị kê biên để đảm bảo thi hành án;
- Trong thời hạn sử dụng đất.
Khi thanh tra nội dung này cần chú ý xem xét:
- Điều kiện để thực hiện các quyền của người sử dụng đất;
- Trình tự, thủ tục thực hiện;
- Việc thực hiện nghĩa vụ tài chính;
- Mục đích, thời hạn sử dụng đất sau khi chuyển quyền.
1.2.2. Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện nghĩa vụ của người sử dụng
đất
* Thanh tra, kiểm tra mục đích sử dụng đất.
- Đối với người sử dụng đất phi nông nghiệp:
+ Kiểm tra việc thực hiện quy hoạch kế hoạch sử dụng đất được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền duyệt.
+ Kiểm tra việc thực hiện dự án đầu tư.
+ Kiểm tra ranh giới sử dụng từng vị trí so và hồ sơ và bản vẽ mặt bằng công
trình.
đất và lệ phí địa chính.
* Thanh tra, kiểm tra việc đền bù thiệt hại cho người có đất bị thu hồi giao cho
mình.
Nhà nước thu hồi đất của người sử dụng đất mà người bị thu hồi đất có giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất theo qui định điều 50 Luật đất đai 2003 để sử dụng vào mục đích quốc
phòng an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi được bồi
thường.
Đối tượng phải đền bù là : tổ chức cá nhân trong nước, tổ chức cá nhân nước
ngoài được nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng
an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích cộng.
Nội dung thanh tra , kiểm tra bao gồm:
- Đền bù thiệt hại về đất:
+ Xem xét giá đất đền bù (nếu tính bằng tiền).
+ Diện tích loại đất đền bù có đúng và diện tích, giá đất, loại đất trước khi
thu hồi hay không?
- Xem xét việc đền bù thiệt hại về tài sản:
+ Bao gồm công trình kiến trúc, cây trồng, vật nuôi, các tài sản khác gắn
liền với đất và xem xét đền bù có đúng giá trị còn lại của tài sản không?
+ Việc ổn định chỗ ở và sản xuất cho người có đất bị thu hồi.
*.Thanh tra, kiểm tra việc giao lại đất khi nhà nước có quyết định thu
hồi
1.3. Xử phạt vi pham pháp luật về đất đai đối với người sử dụng đất
1.3.1. Các hành vi vi phạm, hình thức và mức xử phạt
* Các hành vi vi phạm hành chính trong sử dụng đất
Các hành vi vi phạm hành chính trong sử dụng đất bao gồm:
- Sử dụng đất không đúng mục đích;
- Lấn, chiếm đất;
- Huỷ hoại đất;
- Gây cản trở cho việc sử dụng đất của người khác;
thể và căn cứ và các trình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà có thể áp dụng từ mức phạt
tối thiểu cho đến mức phạt tối đa (Từ 100 nghìn đồng cho đến 30 triệu đồng ).
1.3.2. Thời hiệu xử phạt
- Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là hai (02)
năm kể từ ngày vi phạm hành chính được thực hiện.
- Đối với cá nhân đó bị khởi tố, truy tố hoặc đó có quyết định đưa ra xét xử
theo thủ tục tố tụng hình sự, nhưng sau đó có quyết định đình chỉ điều tra hoặc
đình chỉ vụ án mà hành vi vi phạm có dấu hiệu vi phạm hành chính, thì thời hiệu
xử phạt vi phạm hành chính là ba (03) tháng kể từ ngày người có thẩm quyền xử
phạt nhận được quyết định đình chỉ và hồ sơ vụ vi phạm.
- Trường hợp hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính mà hành vi vi phạm
hành chính chưa bị xử phạt thì người có thẩm quyền không thực hiện xử phạt vi
phạm hành chính mà chỉ áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.
- Trong thời hạn xử phạt mà người có hành vi vi phạm lại có hành vi vi
phạm hành chính mới hoặc cố trình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì thời hiệu xử
phạt được tính lại kể từ thời điểm có hành vi vi phạm hành chính mới hoặc từ thời
điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt.
1.3.3. Nguyên tấc xử phạt
- Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, đình chỉ, xử lý kịp thời,
gắn và trách nhiệm của chính quyền cấp cơ sở, và công tác kiểm tra, thanh tra
đất đai. Việc xử phạt vi phạm hành chính phải được tiến hành nhanh chóng,
công minh, triệt để; mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc
phục theo quy định của Nghị định này và quy định của pháp luật có liên quan.
- Việc xử phạt vi phạm hành chính phải do người có thẩm quyền thực hiện.
- Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt hành chính một lần.
Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì từng người
vi phạm đều bị xử phạt.
Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì bị xử phạt về
từng hành vi vi phạm.
- Không xử lý vi phạm hành chính trong các trường hợp thuộc trình thế cấp
(10.000.000) đồng đối với đất nông nghiệp, từ hai mươi lăm triệu (25.000.000)
đồng đến dưới năm mươi triệu (50.000.000) đồng đối với đất phi nông nghiệp;
+ Mức bốn (4): Trường hợp giá trị quyền sử dụng đối với diện tích đất
bị vi phạm quy đổi thành tiền từ mười triệu (10.000.000) đồng trở lên đối với
đất nông nghiệp, từ năm mươi triệu (50.000.000) đồng trở lên đối với đất phi
nông nghiệp.
- Đối với diện tích đất bị vi phạm là đất chưa sử dụng thì áp dụng giá đất
nông nghiệp thấp nhất của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tại thời điểm xử
phạt.
1.3.5. Thẩm quyền xử phạt
* Thẩm quyền của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc xử phạt vi
phạm hành chính
- Thẩm quyền của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn
+ Phạt cảnh cáo;
+ Phạt tiền đến năm trăm nghìn (500.000) đồng;
+ Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá
trị đến năm trăm nghìn (500.000) đồng;
+ Buộc khụi phục lại trình trạng của đất trước khi vi phạm.
- Thẩm quyền của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh
+ Phạt cảnh cáo;
+ Phạt tiền đến hai mươi triệu (20.000.000) đồng;
+ Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;
+ Buộc khụi phục lại trình trạng của đất trước khi vi phạm.
- Thẩm quyền của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương
+ Phạt cảnh cáo;
+ Phạt tiền đến ba mươi triệu (30.000.000) đồng;
+ Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;
+ Buộc khụi phục lại trình trạng của đất trước khi vi phạm.
tổ chức vi pham, hành vi vi phạm; địa điểm xảy ra vi phạm; họ, tên, chức vụ của
người ra quyết định; điều khoản của văn bản pháp luật được áp dụng quyết định.
Quyết định này phải được giao cho người bị xử phạt một bản. Trường hợp phạt
tiền thì trong quyết định phải ghi rõ mức tiền phạt. Người vi phạm có thể nộp tiền
phạt tại chỗ cho người có thẩm quyền xử phạt. Trong trường hợp nộp tiền phạt tại
chỗ thì được nhận biên lai thu tiền phạt.
* Lập biên bản
Khi phát hiện vi phạm hành chính về sử dụng đất thuộc phạm vi quản lý của
mình, thì người có thẩm quyề đang thi hành công vụ phải kịp thời lập biên bản, trừ
trường hợp xử phạt theo thủ tục đơn giản.
Trong biên bản phải ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm lập biên bản; họ, tên,
chức vụ người lập biên bản; họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp của người vi phạm; giờ,
ngày, tháng, năm, địa điểm xảy ra vi phạm; hành vi vi phạm; Các biện pháp ngăn
chặn vi phạm han hành chính và bảo đảm việc xử phạt ( nếu có); trình trtạng tang
vật, phương tiện bị tạm giữ (nếu có); lời khai của người vi phạm hoặc đại diện tổ
chức vi phạm…
Biên bản phải được lập thành ít nhỏt hai bản và phải được người lập biên
bản, người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm ký; nếu có người chứng kiến,
người bị thiệt hại hoặ đại diện tổ chức bị thiệt hại thì họ cùng phải ký vào biên bản.
Biên bản lập xong phải được giao cho người vi phạm một bản, nếu vụ vi
phạm vượt quá thẩm quyền của người lập biên bản thì người đó phải gửi biên bản
đến người có thẩm quyền xử phạt.
* Ra quyết định xử phạt
- Đối với việc đơn giản, hành vi vi phạm rõ ràng, không cần xác minh thêm
thì phải ra quyết định xử phạt trong thời hạn không quá mười (10) ngày, kể từ ngày
lập biên bản về vi phạm hành chính.
- Đối với vụ vi pham có nhiều trình tiết phức tạp như tang vật, phương tiện
cần giám định, cần xác định rõ đối tượng vi phạm hành chính hoặc những trình tiết
phức tạp khác thì thời hạn ra quyết định xử phạt là ba mươi (30) ngày, kể từ ngày
lập biên bản về vi phạm hành chính.
thuẫn, những bất hoà, họ tranh giành nhau về quyền quản lý và quyền sử dụng trên
khu đất đó. Mỗi bên đều cho rằng quyền quản lý và quyền sử dụng phải thuộc về
mình mới đúng pháp luật.
Thực chất của việc tranh giành nhau về quyền quản lý, quyền sử dụng trên
khu đất đó là tranh giành nhau về thực hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trên
khu đất cụ thể. Vì vậy họ không thể cùng nhau tự giải quyết mà phải yêu cầu cơ
quan cơ có thẩm quyền phân xử (giải quyết).
Vậy tranh chấp đất đai là sự tranh giành nhau giữa các chủ thể của quan hệ
pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng trên một
khu đất cụ thể
2.1.2. Các dạng tranh chấp đất đai
Theo quy định tại điều 136 và điều 137 luật đất đai năm 2003, có các loại
hình tranh chấp đất đai sau đây:
- Tranh chấp về quyền sử dụng đất
- Tranh chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất.
- Tranh chấp về quyền sử dụng đất có liên quan đến địa Giới giữa các đơn vị
hành chính ( xã, huyên, tỉnh ).
Trong thực tế những hình thức tranh chấp đai thường gặp bao gồm:
* Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất
- Dạng tranh chầp này thường xảy ra ở vùng nông thôn, việc phát sinh
thường là do lúc chuyển đổi quyền sử dụng đất hai bên không làm hợp đồng viết,
hoặc có hợp đồng viết nhưng đơn giản không đúng quy định của phảp luật. Vì thế
sau một thời gian một bên cảm thấy thiệt thòi nên phát sinh tranh chấp, mặc dù vào
thời đỉêm chuyển đổi hai bên cùng có lợi.
- Về nguyên tắc, nếu hợp đồng hai bên đã hoàn thành, nghĩa là đã giao nhận
đất và quyền sử dụng đất và hợp đồng đó không trái pháp luật, đúng thủ tục quy
định, thì việc tranh chấp đòi lại là không có căn cứ.
* Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất :
Dạng tranh chấp này xảy ra khá phổ biến, việc phát sinh tranh chấp thường là
do một bên hoặc cả hai bên không thực hiện đúng giao kết, như không trả tiền hoặc
Tranh chấp này xảy ra do một bên có hành vi trái pháp luật làm huỷ hoại đất
của bên kia làm cho đất khômg thể sử dụng đựơc, hoặc sử dụng kém hiệu quả (như
làm ô nhiễm sạt, lở đất… ).
* Tranh chấp quyền sử dụng đất
Loại tranh chấp này xảy ra là do một hoặc các bên trtanh chấp có nhận thức
khác nhau về quyền sử dụng đất, bên nào cũng cho là mình mới có quyền sử dụng
đất và đều đưa ra những tài liệu, bằng chứng để chứng minh việc sử dụng hợp pháp
của mình.
* Tranh chấp tài sản gắn liền với đất
Tài sản gắn liền với đất bao gồm nhà ở, vật kiến trúc khác, cây lâu năm có
trên đất.
Thông thường khi tranh chấp các loại tài sản này ( dưới các hình thức như
tranh chấp sở hữu, thừa kế, mua, bán… tài sản ), bao giờ cũng gắn liền với việc
yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất mặc dù nội dung chính là tranh chấp tài sản.
1.1.3. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp
* Thẩm quyền của ủy ban nhân dân các cấp
Theo điều 136 Luật Đất đai năm 2003 và điều 160 của Nghị định số
181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai quy
định: Tranh chấp đất đai trong trường hợp các bên tranh chấp không có giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại
khoản 1, khoản 2 và khoản 5 của Điều 50 Luật Đất đai thì các bên tranh chấp gửi
đơn đến cơ quan hành chính để được giải quyết.Cơ quan hành chính các cấp giải
quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau:
- Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải
quyết đối với tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư và
nhau.
Trường hợp không đồng ý và quyết định giải quyết của Chủ tịch ủy ban
nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì các bên tranh chấp có quyền
gửi đơn xin giải quyết tranh chấp đất đai đến Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương giải quyết; quyết định giải quyết của Chủ tịch ủy ban
của tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, quyết định
giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đó được thi
hành.
* Thẩm quyền của Chính phủ và Quốc hội:
Theo điều 137 Luật Đất đai năm 2003 quy định:
Các tranh chấp đất đai có liên quan đến địa Giới giữa các đơn vị hành chính,
do ủy ban nhân dân các đơn vị đó cùng phối hợp giải quyết. Trong trường hợp
không đạt được sự nhất trí hoặc việc tự giải quyết làm thay đổi địa giới hành chính
thì thẩm quyền giải quyết quy định như sau:
- Trường hợp tranh chấp liên quan đến địa Giới của đơn vị hành chính tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương do Quốc hội quyết định.
- Trường hợp tranh chấp liên quan đến địa Giới của đơn vị hành chính
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, xã, phường, thị trấn do Chính phủ
quyết định.
Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, cơ quan quản lý đất đai của tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có trách
nhiệm cung cấp các tài liệu cần thiết và phối hợp và các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền để giải quyết các tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành
chính.
2.2. Hòa giải tranh chấp đất đai
2.2.1. Khái niệm
Hòa giải là một thủ tục quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp đất đai,
đó là cách thức giải quyết tranh chấp đất đai bằng chính sự tháa thuận của các bên
đương sự. Đây là một thủ tục bắt buộc khi giải quyết tranh chấp đất đai theo quy
đinh tại Điều 135 Luật đất đai “ Nhà níc khuyến khích các bên tranh chấp đất đai
tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở “.
Vậy hoà giải tranh chấp đất đai là việc UBND xã tổ chức, tham gia trực tiếp
và vai trò hứơng dẫn, giải thích, động viên các bên đương sự tự nguyện thoả thuận,
thương lượng và nhau về việc giải quyết tranh chấp đất đai.
2.2.2. Ý nghĩa của việc hòa giải
- Việc hòa giải phải kịp thời,thật sự tích cực, kiên trì và chặt chẽ về mặt thủ tục.
2.2.4. Trình tự hòa giải
Trình tự hòa giải một vụ tranh chấp đất đai ở cấp xã cần phải tiến hành theo
trình tự các bước sau:
- Chuẩn bị hòa giải;
- Tổ chức hội nghị hòa giải;
- hoàn tất thủ tục sau hội nghị hòa giải.
* Chuẩn bị hòa giải
- Sau khi tiếp nhận yêu cầu giải quyết của một trong các bên tranh chấp, cán
bộ địa chính xã phải chủ động giúp chủ tịch UBND cùng cấp thu thập các tài liệu
cần thiết có liên quan đến nội dung tranh chấp; làm việc và các bên tham gia tranh
chấp và các tổ chức, cá nhân có liên quan thu thập các thông tin cần thiết nhằm làm
sáng tỏa nguồn gốc, diễn biến quá trtrình sử dụng diện tích đất tranh chấp cũng
như các vấn đề lợi ích có liên quan; đối chiếu và quy định của pháp luật để xác
định quyền sử dụng đất tranh chấp, lợi ích có liên quan đến sử dụng đất của từng
bên. Trên cơ sở đó đề xuất hướng giải quyết.
- Bố trí lịch tổ chức hội nghị hòa giải
* Tổ chức hội nghị hòa giải
- Thành phần hội nghị hòa giải
Tùy theo tính chất, mức độ phứctạp. đối tượng tham gia tranh chấp của từng
vụ việc để xác định thành phần tham dự hội nghị hòa giải. Song những thành phần
bắt buộc phải có mặt bao gồm:
+ Lãnh đạo ủy ban nhân dân cấp xã;
+ Cán bộ Địa chính;
+ Các bên tranh chấp;
+ Những người có quyền lợi, lợi ích và nghĩa vụ có liên quan đến khu đất
tranh chấp.
Ngoài ra tùy thuộc đối tượng tranh chấp là thành viên của tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị xã hội nào đó mà có thể mêi đại diện của tổ chức đó tham dự.
- Trình tự và nội dung hội nghị hòa giải.
Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình
ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa
đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Nếu hòa giải không thành công cần tiếp tục theo dõi, vận động thuyết phục.
Nếu các bên không thay đổi ý kiến thì hướng dẫn họ đến đến cơ quan có thẩm
quyền giải quyết.
Chú ý: Thời hạn thụ lý và kết thỳc hòa giải là 30 ngày làm việc, kể từ
ngày UBND cấp xã nhận được đơn, quá thời hạn trên mà người có trách nhiệm
tổ chức hòa giải không tiến hành hòa giải thì phải bị xem xột, xử lý kỷ luật.
3. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai
3.1. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về đất đai
3.1.1. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại về đất đai
* Các quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại
Theo Điều 162 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 của
Chính phủ về thi hành Luật Đất đai quy định các quyết định hành chính, hành vi
hành chính bị khiếu nại trong lĩnh vực quản lý đất đai như sau:
- Các quyết định hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại
Các quyết định hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại bao gồm:
+ Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép
chuyển mục đích sử dụng đất;
+ Quyết định bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư;
+ Quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc thu hồi giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất;
+ Quyết định về gia hạn thời hạn sử dụng đất.
- Các hành vi hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại
Các hành vi hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại là hành vi của cán
bộ, công chức nhà nước khi giải quyết công việc thuộc phạm vi thực hiện các
quyết định hành chính về giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho
phép chuyển mục đích sử dụng đất; Quyết định bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt
bằng, tái định cư; quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc thu hồi
đầu của Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, nếu
đã khởi kiện ra Tòa án thì không được khiếu nại tiếp lên ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương.
- Thẩm quyền giải quyết đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính
bị khiếu nại không thuộc trường hợp quy định tại Điều 162 của Nghị định số
181/2004/NĐ-CP.
+ Các quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại trong lĩnh vực
đất đai không thuộc trường hợp quy định tại Điều 162 của Nghị định số
181/2004/NĐ-CP bao gồm:
. Khiếu nại về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnhvực đất đai.
Loại khiếu nại này thường phát sinh là do việc ra quyết định xử phạt không
đúng thẩm quyền, không đúng căn cứ pháp luật; ra quyết định xử phạt sai đối
tượng, bị nhầm lẫn; việc ra quyết định xử phạt quá nặng hoặc quá nhẹ ( về mức
phạt và hình thức phạt ) hoặc thiếu khách quan.
. Khiếu nại về việc truy thu thuế, lệ phí về đất đai
Loại khiếu nại này thường phát sinh là do việc ra quyết định thu, truy thu
thuế, lệ phí về đất đai và mức thuế không hợp lý trái quy định, không có căn cứ
hoặc sai thẩm quyền hoặc không đúng thời gian; quyết định thu, truy thu thuế, lệ
phí về đất đai sai đối tượng, diện tích chịu thuế, mức thuế suất thu thuế nhưng
không thực hiện đúng thủ tục; việc thực hiện chính sách miễn giảm thuế không
đúng hoăc không thực hiện.
. Khiếu nại vê việc làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất
Loại khiếu nại này thường phát sinh là do có những sai sót như:
Không tiến hành làm thủ tục chuyển quyền mà không nêu rõ lý do xác
đáng; làm thủ tục nhưng gây phiền hà, sách nhiễu, đòi hỏi những thủ tục không
đúng quy định; thực hiện làm thủ tục nhưng sai sót về giấy tờ ; giải quyết thủ tục
chuyển quyền không đúng trình tự quy định; giải quyết thủ tục chuyển quyền chậm
trễ so và thời hạn quy định; thực hiện thủ tục chuyển quyền chậm trễ không đúng
thẩm quyền…
+ Thẩm quyền giải quyết