ĐỒ ÁN ĐỘNG CƠ ĐỐT TRONG - Pdf 35

Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

Khoa Công Nghệ Ô Tô

LỜI NÓI ĐẦU
Ô tô là một phương tiện vận tải quan trọng của hệ thống giao thông đường bộ.
Trong hoạt động của cộng đồng, ô tô được sử dụng hết sức đa dạng và linh
hoạt để chuyên chở người hang hóa với các khoảng cách khác nhau, trên nhiều
địa hình.
Ngành công nghiệp ô tô càng ngày phát triển vơi nhiều ứng dụng mới, công
nghệ tiên tiến và thân thiện với môi trường
Nhiều loại nhiên liệu được dung cho ô tô nhưng xăng và dầu diesel vẫn được sử
dụng phổ biến. Một cơ cấu không thể thiếu trên ô tô chính là hệ thống cung
cấp nhiên liệu trên xe ô tô.
Nghiên cứu về hệ thống nhiên liệu trên xe ô tô rất quan trọng, giúp mọi người
hiểu được sự hoạt động từ đó cải tiến hiệu suất làm việc giúp tiết kiệm nhiên
liệu góp phần bảo vệ môi trường.
Do kiến thức về mặt lý thuyết và thực hành còn hạn chế, bài làm của em không
thể tránh khỏi sự thiếu sót. Em mong nhận được những ý kiến đóng góp, cũng
như những chỉ bảo tận tình của thầy giáo.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Nguyễn Thành Bắc đã giúp em hoàn thành
đồ án này.
Hà Nội, Tháng 3 năm 2016
(Sinh viên thực hiện)
Trần Minh Thành

1


MỤC LỤC
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỘNG CƠ ĐỐT TRONG TRÊN THẾ GIỚI

công lớn. Chính là để khai thác các bằng phát minh của Daimler mà năm 1886,
ở Pháp đã thành lập công ty Panhard et Levassor, công ty lớn chuyên sản xuất ô
tô đầu tiên của Pháp. Năm 1894, xe do ba người này thiết kế đã có các bộ phận
chính, bố trí theo các vị trí mà sau này trở thành kinh điển.
Nhưng nhiều nhà chế tạo khác cũng vào cuộc, nhất là De Dion - Bouton,
người đã nhận bằng phát minh sự truyền động cho bánh sau, bằng các-đăng
cũng trong năm 1894 ấy; năm sau, ông đưa ra hệ đánh lửa dùng ắcquy. Năm
1895 cũng là năm đầu tiên mà chiếc ô tô do Daimler chế tạo được lắp bánh hơi,
nhờ Michelin. Và về Daimler, chúng ta ghi nhận rằng, năm 1897 ông đã sáng
chế bộ tản nhiệt hình tổ ong. Năm 1898, một nhà chế tạo là Louis Renault thành
công ngay lập tức với chiếc xe con của ông. Đặc biệt, nó là cái xe đầu tiên được
trang bị một hộp số ba tốc độ, mà một được nối trực tiếp. Cũng chính trên chiếc
xe này, lần đầu tiên xuất hiện máy phát điện một chiều. Boudeville năm 1900 đã
hoàn thành cái manhêtô đánh lửa (tới lúc ấy hệ thống thường dùng là cái ống
nóng sáng, mà đầu được cái bếp nung cho nóng đỏ, đước ấn sâu vào xilanh).
Trong lúc đó, các nhà sáng chế vẫn kiên trì nghiên cứu và hoàn chỉnh xe
điện. Người ta hiểu được lòng tin của họ vào công thức ấy, khi nhớ lại năm
1899, một trong số họ là Jenatzy đã đạt kỉ lục tuyệt đối về tốc độ khi lái chiếc
Jamais Contente (không bao giờ hài lòng) của ông với tốc độ 105,882 km/h. Đầu
thế kỉ 20, ô tô đã tự giải thoát khỏi hình dáng của xe ngựa, trong diện mạo của
nó, chiếc Mercédes năm 1901 là đặc trưng cho sự thay đổi ấy, mà Renault đã
khởi đầu năm 1898. Thời kì này cũng đánh dấu sự khởi đầu của sán xuất ô tô
hàng loạt: Ramson E. Olds sản xuất 1500 ô tô/năm.
4


Tuy nhiên, các tiến bộ kĩ thuật vẫn phát triển. Những năm đầu thế kỉ 20 đã
chứng kiến việc dùng phanh tang trống và khung gầm bằng tôn dập (khung
Daimler, ở Đức, khung Arbel, của xưởng rèn Douai, ở Pháp). Rồi từ 1904, chiếc
ô tô Vauxhall có cần sang số lắp trên cột tay lái. Năm 1905, Pieere Bossu sáng

Oldsmobile tung ra những chiếc ô tô đầu tiên sang số tự động.
Những tiến bộ quan trọng nhất được ghi nhận từ khi kết thúc Thế chiến
Thứ hai: năm 1950, ở Anh đã chế tạo chiếc xe ô tô đầu tiên chạy bằng tuabin khí
(Rover); năm 1952, những chiếc ô tô đầu tiên được sản xuất hàng loạt với tay lái
có trợ lực Chrysler ; năm 1953, xuất hiện cái phanh đĩa trên xe Jaguar của Anh,,
khi tham gia "Hai mươi bốn giờ ở Mans". Năm 1960, ô tô NSU Wankel có động
cơ dùng pittông quay và ô tô chạy trên đệm không khí xuất hiện.
5


Từ những năm 1970 trở đi, các thế hệ ô tô mới đều có đặc điểm chủ yếu
là nâng cao công suất, giảm mức tiêu thụ chất đốt, và khí gây ô nhiễm,. gia tăng
vai trò của thiết bị điện tử (năm 1990 các hệ thống điện tử lắp đặt cho ô tô đã
chiếm 6% giá tiền một xe, và con số này tời năm 2000 tăng gấp ba), các nỗ lực
tăng tiện nghi , độ an tòan, sự hoàn thiện và trang thiết bị: chẳng hạn, đai an toàn
(bắt buộc từ 1973 ở Pháp), hệ thống phanh ABS, đệm an toàn tự thổi phồng, hay
Air Bags (được Mercédes tung ra thị trường lần đầu tiên vào năm 1981), ống xả
xúc tác (do General Motors hoàn chỉnh năm 1974), nó trở thành bắt buộc ở
nhiều nước công nghiệp. Nói chung, các xe loại trung bình có xu hướng bắt kịp
mức về thiết bị và sự hoàn thiện, trước đây chỉ dành cho ô tô loại sang. Thùng
xe được làm thuôn để giảm tối thiểu sức cản không khí và sử dụng hợp kim hoặc
vật liệu composite nhẹ, nhưng chịu đựng tốt cả sự va chạm lẫn ăn mòn.
Cuối cùng, người ta cũng dự kiến sự phát triển các hệ thống trợ giúp bên
ngoài cho người lái, các hệ này dựa vào các thông tin đã đặt sẵn trong xe và các
tín hiệu thu được từ ngoài (khí tượng, mức độ ùn tắc, ...) mà đưa ra cho người lái
xe những chỉ dẫn và lời khuyên để đưa xe theo lộ trình tốt nhất: năm 1995 chiếc
xe Safrana Carmina, đó là chiếc xe ô tô đầu tiên ở châu Âu có trang bị một hệ
bản đồ định vị (GPS) và chỉ dẫn hành trình.
Về phần ô tô điện, thực tế đã có hơn 100 năm tuổi, nó cũng được quan
tâm trở lại vì sự tăng giá nhiên liệu, sự gia tăng ô nhiễm. Nhưng vấn đề chủ yếu

các nhà sản xuất độc lập.
1.2.3. Vẫn đề sử dụng động cơ đốt trong tại Việt Nam
Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Ngành động cơ đốt trong là một trong những ngành đang trong quá trình phát
triển mạnh, Hiên nay sử dụng cơ khí nói chúng hay động cơ đốt trong nói riêng
không còn là vẫn đề gì mới mẻ với đất nước ta mà nó là sự hiện hữu thương
xuyên trong đời sống kinh tế - xã hội,nó là trái tim của ngành công nghiệp ,vì
thế mà Đảng và nhà nước ta ko ngừng có những chính sách,đầu tư và những
định hướng cụ thể .Với nhiều loại máy hiện đại, tân tiến được chế tạo và đầu tư
để đáp ứng được nhu cầu sử dụng và khai thác tại nước ta. Động cơ đốt trong
ngày nay càng ngày càng được sử dụng rộng rãi trong thực tế đời sống vì những
tiện ích mà nó mang lại cho vẫn để phát triển kinh tế xã hội Tuổi thọ của máy
được quyết định bởi các cụm máy chính như động cơ, bộ truyền động, bộ phận
công tác…tuổi thọ của các cụm máy được quyết định bởi tuổi thọ của các chi
tiết chính, do đó việc nghiên cứu sử dụng hệ thống cung cấp nhiên liệu trên động
cơ của chúng nhằm đưa ra các biện tối ưu nhất cho việc sử dụng nhiên liệu cho
động cơ để thấy được tầm quan trọng của việc sử dụng nhiện lieu cho động cơ
đốt trong.
• Tên các hãng xe ở Việt Nam:
Bảng 1.1: Tên các hãng xe ở Việt Nam:
Tên công ty

Tên thương hiệu

1.

Công ty ô tô du lịch Trường Hải Kia

KIA



Mercedes-Benz

6.

Công ty TNHH ô tô Toyota Vietnam

Toyota

7.

Công ty TNHH Ô tô GM Việt Nam

Chevrolet

8.

Công ty Liên doanh ô tô Hòa Bình
(VMC)

Kia, Mazda, BMW

9.

Công ty Vietnam Suzuki(Visuco)

Suzuki

10 Công ty Liên doanh sản xuất ô tô
.


16. Tổng công ty công nghiệp ô tô

Vinamotor, Tran sinco
Honda

17. Công ty TNHH Honda Vietnam

1.3. Tầm quan trọng của động cơ đốt trong
Động cơ đốt trong lần đầu tiên ra đời đến nay đã hơn 1 thế kỉ.Từ đó đến
nay nghành động cơ đốt trong đã có những bước tiến dài cả về hình thức lẫn
chức năng của nó đối sống con người,động cơ đốt trong được dùng rộng rãi
trong mọi lĩnh vực của đời sống nhất là trong các nghành kinh tế: giao thôngvận tải,nông-lâm-ngư nghiệp,khai khoáng, v,v…
Năng lượng do động cơ đốt trong tạo ra chiếm khoảng 80% năng lượng
trên thế giới, 10% do các thiết bị thủy điện,động cơ chạy bằng sức gió,thiết bị
8


dùng năng lượng mặt trời,còn lại 10% là do các thiết bị động cơ nhiệt không
phải là động cơ đốt trong.
Chỉ tính riêng khoảng thời gian 2 năm từ 1959-1960 công suất của động
cơ đốt trong trên toàn thế giới đã lên tới 1,5 tỉ mã lực. Như vậy đủ thấy rõ động
cơ đốt trong đã đóng một vai trò quan trọng trong nghành động lực nói chung.
1.4. Lịch sử phát triển của ngành động cơ đốt trong
Lịch sử phát triển của nghành động cơ đốt trong được chia ra làm 2 cách.
a, Xác định theo mốc thời gian.
- Ý tưởng về động cơ được hình thành từ năm 1506, từ những bức vẽ
của danh họa nổi tiếng Leonardo de Vinci,Hơn một thế kỉ sau, nhà vật lý
học người Đức Christian Huygens tiếp tục phát triển ý tưởng của
Leonardo de Vinci khi thiết kế loại động cơ chạy bằng thuốc súng đầu



Giai đoạn mà các vấn đề nguyên lý cơ bản đã được xác định một phần.
Đầu tiên nguyên lý động cơ đốt trong được ứng dụng vào loại động cơ chạy
bằng thuốc nổ và không khí của Papinh và Huyghen vào khoảng 1680 đến 1688.
Nhưng sau đó không phát triển đợưc vì người ta đã phát minh ra máy hơi nước
(PunDunop) người Nga phát minh 1763 và Watt người Anh phát minh 1782.
Nhưng do hiệu suất đương thời của máy hơi nước quá thấp nên đầu thế kỷ 19
người ta lại bắt tay vào nghiên động cơ đốt trong. Năm 1860 Lenoir người Pháp
đã tổng kết một số kinh nghiệm của các nhà bác học đã chế thành công động cơ
hai kỳ phỏng theo kết cấu của máy hơi nước dùng nhiên liệu thể khí, điểm lửa
bằng điện hiệu suất của động cơ đầu tiên đó là: = 2 – 4%. Tuy nhiên lịch sử phát
triển của động cơ đốt trong lại gắn liền với tên tuổi của Nico lai ôtô người Đức.
Năm 1877 Nico lai ôttô cộng tác với Lăngghen người Pháp đã chế tạo thành
công bộ động cơ 4 kỳ chạy bằng khí than. Ông là người tổng kết và thực hiện
các nguyên lý của động cơ đốt trong của các nhà bác học trước ông như:
Nguyên lý điểm lửa bằng điện do Lơbông người Pháp đề xuất 1801. - Điểm lửa
ở điểm chết trên do Welmanrait đề ra năm 1833. Degrant người Pháp năm 1858
đề nghị dùng hành trình nén để nén khí hỗn hợp. Nguyên lý làm việc theo 4
hành trình do Boderossa đề ra 1861.
* Giai đoạn 2:
Giai đoạn nghiên cứu động cơ chạy bằng dầu nặng. Giai đoạn này được
mở đầu thành công của Dolfdiesd và giữ độc quyền chế tạo loại động cơ có tỷ số
nén cao. Nhiên liệu đầu tiên ông dùng là bột than dùng quá trình cháy đẳng
nhiệt, không làm mát động cơ nhưng đã thất bại. Sau đó ông dùng dầu lửa làm
nhiên liệu đổi thành quá trình cháy đẳng áp và có làm mát động cơ. Năm 1897
ông đã thành công trong việc chế tạo động cơ nói trên với công suất 20 mã lực là
241g/mã lực giờ. Hiệu suất đạt 26%.
Năm 1897 nhà máy Hoben ở Petecbua mua được bằng phát minh của
Diesel và năm 1899 đã chế tạo thành công động cơ Điezen tính năng vượt xa

•Hiện nay ngành chế tạo động cơ đốt trong đã đạt trình độ cao: Động
cơ tàu thuỷ và tính tải tại mạnh hàng vạn mã lực, động cơ ôtô máy kéo với
tốc độ vòng quay 5000vòng/ phút, có công suất 500 mã lực (xe du lịch)
suất tiêu hao nhiên liệu giảm xuống còn 150g/ mã lực giờ. Động cơ máy
bay với công suất hàng ngàn mã lực đã làm cho tốc độ bay rất nhanh. Tên
lửa ngày nay đã có sức mạnh đưa những con tàu lên điều khiển quỹ đạo.
Theo số liệu thì 1150 (Triều đại Nam Tống) đã có đèn kéo quân, nguyên
lý của tua bin khí cháy. Đời Tống Nhân Tông đã dùng vũ khí hoả tiễn. Thế kỷ
14 nhà bác học Vạn Hoa đã dùng 47 hoả tiễn để tiến hành cuộc bay thí nghiệm
để đưa ông lên không trung nhưng đã thất bại. Chế độ phong kiến Trung Quốc
đã kìm hãm sự phát triển của những phát minh nói trên và ứng dụng vào làm trò
tiêu khiển (đèn kéo quân, pháo thăng thiên...) . Cho nên trong một thời gian dài
kỹ thuật của Trung Quốc vẫn không thoát khỏi tình trạng lạc hậu. Mãi sau này
giải phóng 1949 kỹ nghệ chế tạo động cơ đốt trong ở Trung Quốc mới được phát
triển mạnh mẽ.
1.5. Phân loại động cơ đốt trong
a. Dựa vào nhiên liệu:
- Động cơ xăng: dùng xăng làm nhiên liệu,hòa khí được châm cháy nhờ tia
lử điên.
- Động cơ điezen :dùng nhiên liệu điezen ,nhiên liệu tự cháy nhờ nhiệt độ
cao của không khí nén.
- Động cơ ga: dung nhiên liệu khí châm cháy nhờ tia lửa điện.
11


- Động cơ ga – diezen :dùng nhiên liệu khí là khoảng 5% là nhiên liệu
diezen để làm mồi lửa đốt nhiên liệu khí.
b. Dựa vào hành trình của piston thực hiện trong một chu trình làm việc:
- Động cơ 2 kỳ:một chu trình công tác được thực hiện trong hai hành trình
của piston tương đương trục khuỷu quay một vòng .

- Động cơ có tốc độ tb và thấp: là loại động cơ vận tốc tb của piston
Vtb
trên xe du lịch hiện nay.
Trước những năm 1920, hệ thống cung cấp nhiên liệu được thiết kế và chế
tạo tại các công ty chế tạo động cơ. Công ty BOSCH của Đức đã phát triển lại
bơm có sự định lượng theo kiểu cổng xoắn. Sử dụng các nguyên lý này và các
phương pháp sản xuất hiện đại, BOSCH còn có khả năng chế tạo thiết bị phun
nhiên liệu dịch chuyển dương có độ tin cậy cao. Loại bơm này có sự dịch
chuyển dương với piston lắp chặt trong xylanh đẩy nhiên liệu trong xylanh tạo
ra sự dịch chuyển rất nhanh.
Ngày nay hệ thống cung cấp nhiên liệu được cải tiến rất nhiều nhưng về
cơ bản nó vẫn phải thỏa mãn các yêu cầu sau:
- Bảo quản, làm sạch và vận chuyển nhiên liệu.
- Định lượng nhiên liệu theo yêu cầu đáp ứng tất cả các tải và các tốc độ
cân bằng lượng nhiên liệu phân phối cho từng xylanh động cơ như nhau
để đảm bảo công suất giữa các xylanh của động cơ nhiều xylanh.
- Phun nhiên liệu vào đúng thời điểm của động cơ theo tải và theo tốc độ.
- Đảm báo bắt đầu và kết thúc nhanh để nhiên liệu được phun sương đều.
- Phun nhiên liệu theo tốc độ cần thiết để điều khiển quá trình cháy và áp
suất trong xylanh.
15


- Định hướng, phân phối, phun sương nhiên liệu một cách đồng đều đáp
ứng yêu cầu theo sự thiết kế của buồng đốt.
Trong nhiều năm nghiên cứu và cải tiến hệ thống cung cấp nhiên liệu
động cơ diesel đến năm 1993 hệ thống cung cấp nhiên liệu mới đã thành công
trong thử nghiệm và nhờ với việc kết hợp với hãng ROBERT BOSCH năm 1997
hệ thống nhiên liệu mới cho động cơ diesel được gọi là Common Rail được sản
xuất hàng loạt. Căn cứ vào các ưu điểm của hệ thống phun này đông cơ diesel
chọn hệ thống phun nhiên nhiên liệu Common Rail là lựa chọn số một.
Nhiệm vụ chính của hệ thống Common Rail:



Hình 2.1: Sơ đồ hệ thống cung cấp nhiên liệu sử dụng bơm dãy.

1: Thùng chứa nhiên liệu.
2 : Cốc lọc.
3 : Bơm tay.
4 : Bơm cao áp.
5 : Bầu lọc tinh.
6 : Ống dầu cao áp.
7: Vòi phun.
8: Buồng cháy.
2.2.2. Hệ thống cung cấp nhiên liệu Diesel sử dụng bơm cao áp loại bơm
phân phối

17


Hình 2.2: Sơ đồ hệ thống cung cấp nhiên liệu sử dụng bơm cao áp loại bơm phân phối .

1- Thùng chứa nhiên liệu.
2,4- Bơm tiếp vận.
3- Bầu lọc tinh.
5- Van điều áp.
6- Vòi phun.
7- Buồng cháy.
8- Bơm cao áp phân phối.
9- Van cao áp.
10- Piston.
11- Lỗ đưa nhiên liệu đến các vòi phun.

- Van điều khiển áp suất.
- Van giới hạn áp suất.
- Van hạn chế dòng chảy.
- ECU và các cảm biến.
Sơ đồ nguyên lý

Hình 2.3: Sơ đồ hệ thống cung cấp nhiên liệu Common Rail.

1- Thùng chứa.
2- Ống tản nhiệt.
3- Bộ lọc.
4- Van đóng mở (theo nhiệt độ).
5- Bơm chuyển nhiên liệu.
6- Van điều áp suất thấp.
7- Van điều áp suất cao.
8- Đường ống dự trữ.
9- Cảm biến áp suất nhiên liệu.
20


10- Bơm cao áp.
11- ECU.
12- Kim phun.
13- Bơm điện.
14- Cảm biến nhiệt độ nước làm mát.
15- Cảm biến vị trí trục khuỷu.
16- Cảm biến áp suất.
17- Cảm biến vị trí trục cam.
18- Cảm biến vị trí bàn đạp ga.
19- Cảm biến nhiệt độ nhiên liệu.

Đường ống nhiên liệu mềm được bọc thép thay thế cho đường ống bằng
thép và được dùng trong ống áp suất thấp. Tất cả các bộ phận mang nhiên liệu
phải dược bảo vệ một lần nữa khỏi tác động của nhiệt độ. Đối với xe buýt,
đường ống nhiên liệu không được đặt trong không gian của hành khách hay
trong cabin xe cũng như không thể phân phối bằng trọng lực.
2.3.3. Bơm tiếp vận
Bơm tiếp vận bao gồm một bơm bằng điện với lọc nhiên liệu, hay một
bơm bánh răng .
Bơm hút nhiên liệu từ bình chứa và tiếp tục đưa đủ lượng nhiên liệu đến
bơm cao áp.
2.3.4. Lọc nhiên liệu
Một bộ lọc không thích hợp có thể dẫn đến hư hỏng cho các thành phần
của bơm, van phân phối và kim phun. Bộ lọc nhiên liệu làm sạch nhiên liệu
trước khi đưa đến bơm cao áp, và do đó ngăn ngừa sự mài mòn nhanh của các
chi tiết của bơm.

Hình 2.4: Lọc nhiên liệu.

1. Nắp lọc dầu.
2. Đường dầu vào.
3. Phần giấy lọc.
22


4. Bọng chứa dầu sau khi lọc.
5. Phần chứa nước có lẫn trong dầu.
6. Thiết bị báo mức nước trong bầu lọc khi vượt mức cho phép.
7. Đường dầu ra.
Nước lọt vào hệ thống nhiên liệu có thể làm hỏng hệ thống ở dạng ăn
mòn. Tương tự với các hệ thống nhiên liệu khác, hệ thống Common Rail cũng

6. Van ngắt.
7. Van xả.
8. Tấm nệm.
9. Nhiên liệu áp suất cao
đến ống trữ.
10. Van điều khiển áp
suất cao.
11. Van bi.
12. Đường dầu về.

13. Đường nhiên liệu từ bơm tiếp vận.

a)
23


14. Van an toàn.
15.
Đườcndẫ
g nnhiên
liệu áp sất thấp đưa đến bơm.
1. Trụ
động.
2. Đĩa cam lệch tâm.
3. Piston bơm.
4. Van hút.
5. Van thoát cửa vào.

b)
Hình 2.5: Bơm cao áp.

mở ra và quá trình lặp lại lần nữa.
Do bơm cao áp được thiết kế để có thể phân phối lượng nhiên liệu lớn nên
lượng nhiên liệu có áp suất cao sẽ thừa trong giai đoạn chạy cầm chừng và tải
trung bình. Lượng nhiên liệu thừa này được đưa trở lại thùng chứa thông qua
van điều khiển áp suất. Nhiên liệu bị nén sẽ nằm trong thùng và gây ra tổn thất
năng lượng. Hơn nữa lượng nhiệt tăng nên của nhiên liệu cũng làm giảm đi hiệu
quả chung. Ở mức độ nào đó thì tổn thất này có thể được bù bằng cách ngắt bớt
1 hoặc 2 xylanh bơm.
Khi 1 trong 2 xylanh bơm bị loại ra sẽ dẫn đến việc giảm lượng nhiên liệu
bơm đến ống phân phối. Việc ngắt bỏ được thực hiện bằng cách giữ cho van hút
ở trạng thái mở liên tục.
Khi van điện từ (solenoid) dùng để ngắt thành phần bơm được kích hoạt,
một chốt gắn với phần ứng giữ van hút sẽ không mở. Kết quả là nhiên liệu hút
vào xylanh này của bơm không thể bị nén được nên nó bị đẩy trở lại mạch áp
suất thấp. Với 1 xylanh bị loại bỏ khi không cần công suất cao thì bơm cao áp
không còn cung cấp nhiên liệu liên tục mà gián đoạn.
Bơm cao áp phân phối lượng nhiên liệu tỉ lệ với tốc độ quay của nó. Và do
đó, nó là một hàm của tốc độ động cơ. Trong suốt quá trình phun, tỷ số truyền
được tính sao cho một mặt thì lượng nhiên liệu mà nó cung cấp sao cho không
quá lớn, mặt khác các yêu cầu về nhiên liệu vẫn còn đáp ứng trong suốt quá
trình hoạt động. Tùy theo tốc đọ trục khuỷu mà tỉ số truyền hợp lí là 1:2 hoặc
1:3.
2.3.6. Ống trữ nhiên liệu áp suất cao (ống phân phối)
Ngay cả khi kim phun lấy nhiên liệu từ ống phân phối để phun thì áp suất
nhiên liệu trong ống vẫn phải không đổi. Điều này thực hiện được nhờ vào sự co
giãn của nhiên liệu. Áp suất nhiên liệu được đo bởi cảm biến áp suất trên ống
phân phối và được duy trì bởi van điều khiển áp suất nhằm giới hạn áp suất tối
đa là 1500 bar.

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status