Giải pháp tái cấu trúc vốn doanh nghiệp dệt mai việt nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế - Pdf 35

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:
Ngành Dệt may Việt Nam trong những năm qua được coi là một trong những ngành mũi nhọn của
quốc gia về xuất khẩu và tạo việc làm cho người lao động, nhất là lao động nông thôn. Kim ngạch xuất khẩu
về dệt may năm 2014 đạt hơn 24 tỷ USD đã đóng góp phần quan trọng trong cán cân thương mại và giải
quyết việc làm cho hàng triệu lao động trong nước. Tuy nhiên, hoạt động của ngành Dệt may nước ta, xét về
mặt hiệu quả và khả năng cạnh tranh là còn rất thấp, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và lại đang đứng
trước thách thức lớn trong bối cảnh hội nhập quốc tế sắp tới.
Chính vì vậy, em quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu cho luận án của mình là “Giải pháp tái cấu trúc vốn
doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế”. Với những yêu cầu đặt ra như nói trên,
việc nghiên cứu đề tài này là hết sức cần thiết và nó có ý nghĩa cả về khoa học và thực tiễn.
2. Mục đích, đối tượng nghiên cứu của đề tài:
 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở tổng hợp, hệ thống hoá, góp phần làm rõ thêm những luận cứ khoa học về tái cấu trúc vốn
doanh nghiệp để làm căn cứ đi sâu phân tích đánh giá làm rõ những bất hợp lý trong cấu trúc vốn của doanh
nghiệp dệt may Việt Nam, xác định rõ những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó, từ đó đề xuất giải
pháp tái cấu trúc vốn doanh nghiệp dệt may trong thời gian tới, nhằm đạt được cấu trúc vốn hợp lý, giúp cho
hoạt động của ngành dệt may đạt kết quả cao hơn cả về mục tiêu kinh tế, thu hút lao động, việc làm và bảo
vệ môi trường.
 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cấu trúc vốn của doanh nghiệp dệt may Việt Nam, những bất hợp lý
trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp dệt may trước những tác động của mô hình phát triển kinh tế và hội
nhập quốc tế; Tác động từ cấu trúc vốn của doanh nghiệp dệt may đến hiệu quả kinh tế, giải quyết việc làm
và bảo vệ môi trường.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Với tên của đề tài là “Giải pháp tái cấu trúc vốn doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong bối cảnh hội
nhập quốc tế”, tức là phải nghiên cứu tái cấu trúc vốn đối với tất cả các doanh nghiệp của ngành Dệt may
Việt Nam, bao gồm doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp tư
nhân, với các loại hình doanh nghiệp và quy mô khác nhau. Nhưng do những hạn chế về thời gian, về sưu
tầm, tổng hợp số liệu, tài liệu, hạn chế trong khuôn khổ của một đề tài luận án; Nếu phạm vi nghiên cứu gồm
tất cả các đối tượng nêu trên thì sẽ rất dài, rất phức tạp, khó tránh khỏi trùng lặp và lộn xộn, khó mang lại kết

7. Đóng góp mới của luận án:
Luận án có những đóng góp mới sau đây:
- Về ý nghĩa khoa học: Luận án bổ sung và góp phần làm rõ thêm một số vấn đề cơ bản về cấu trúc
vốn và tái cấu trúc vốn doanh nghiệp dệt may. Cách tiếp cận mới là từ nội dung của cấu trúc vốn, chỉ ra các
nhân tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động về kinh tế, về tạo việc làm, về bảo vệ môi trường; các nguyên tắc
về tái cấu trúc vốn gắn với quá trình đa dạng hoá các nguồn huy động vốn của doanh nghiệp trong bối cảnh
hội nhập kinh tế quốc tế.
- Về ýnghĩa thực tiễn: Đề xuất một số giải pháp tái cấu trúc vốn DN Dệt may Vinatex trực tiếp góp
phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tạo thêm việc làm và giữ gìn môi trường trong phát triển bền
vững.
8. Về bố cục của luận án:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận án được bố cục gồm 4 chương:
- Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài luận án.
- Chương 2: Một số vấn đề lý luận về cấu trúc vốn và tái cấu trúc vốn của doanh nghiệp trong bối
cảnh hội nhập quốc tế.
- Chương 3: Thực trạng cấu trúc vốn và tái cấu trúc vốn của doanh nghiệp Dệt may Việt Nam trong
bối cảnh hội nhập quốc tế.
- Chương 4: Một số giải pháp tái cấu trúc vốn của DN Dệt may Việt Nam trong bối cảnh hội nhập
quốc tế.
Chương 1:
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Tổng quan tình hình các nghiên cứu về cấu trúc vốn tại Doanh nghiệp
“Cấu trúc vốn” và “Tái cấu trúc vốn” của doanh nghiệp là một vấn đề quan trọng có ý nghĩa lớn đối
với sự tồn tại và phát triển bền vững trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong thực tiễn,
đồng thời cũng là một phạm trù lý thuyết tương đối phức tạp và cần được làm sáng tỏ ở nhiều khía cạnh.
Thời gian qua, ở trong nước và nước ngoài đã có những nghiên cứu về cấu trúc vốn và tái cấu trúc vốn của
doanh nghiệp. Một số tài liệu, tư liệu thu thập được như sau:
1.1 Một số nghiên cứu ở nước ngoài:
Trên thế giới đã có nhiều nhà kinh tế học nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến cấu trúc vốn và tái cấu trúc

nay”. Đỗ Thị Đông (2011) với đề tài “phân tích chuỗi giá trị và tổ chức các quan hệ liên kết giữa các doanh
nghiệp may xuất khẩu ở Việt Nam”. TS Bạch Đức Hiển và thạc sĩ Đoàn Quỳnh Hương (2010) có bài viết về
“Tái cấu trúc nguồn vốn của Doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay”. TS Vũ Xuân Dũng (2010) có bài về
“Tái cấu trúc vốn của các công ty nghành Dệt May trên thị trường chứng khoán Việt Nam”-Vũ Công Ty
(2011) có đề tài nghiên cứu KH cấp HVTC về: “Tái cấu trúc tại các tổng công ty xây dựng ở Việt Nam: Bài
học kinh nghiệm và giải pháp”; Một số nghiên cứu khoa học của nhóm sinh viên Học viện Tài chính tham
gia xét giải thưởng tài năng khoa học trẻ Việt Nam (2014) với đề tài “Xử lý nợ xấu và tái cơ cấu tài chính tại
các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng”. Luận án tiến sỹ của Nguyễn Mạnh Hùng về đề tài:
“Tác động của chính sách tài chính tiền tệ đến tình hình tài chính của doanh nghiệp ngành dệt may Việt
Nam”. Luận án tiến sỹ của Vũ Thị Ngọc Lan (2014) về đề tài: “Tái cấu trúc vốn tại Tập đoàn Dầu khí Quốc
gia Việt Nam”-Phan Thị Cúc (2010) với đề tài khoa học cấp bộ “Một số giải pháp tái cấu trúc vốn của doanh
nghiệp Dệt may tại thành phố Hồ Chí Minh”
Ngoài ra, còn có một số công trình đã đi vào nghiên cứu về cơ cấu vốn của các doanh nghiệp cụ thể,
tuy nhiên các nghiên cứu này mới chỉ dừng ở mức độ phân tích thực trạng cơ cấu vốn tại các doanh nghiệp
cụ thể này, đồng thời đề xuất mang tính định hướng để đổi mới cơ cấu vốn của các doanh nghiệp đó.
1.3 Đánh giá của tác giả về khoảng trống trong nghiên cứu cấu trúc vốn
Như vậy, trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến cấu
trúc vốn và tái cấu trúc vốn của doanh nghiệp, trong đó cũng có một số nghiên cứu đã đi vào phân tích các
nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Tuy nhiên thế nào là một cấu trúc vốn tối ưu, các
nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn, đặc biệt khi cấu trúc vốn đó là cấu trúc vốn của các doanh nghiệp có
tính đặc thù của Dệt May Việt Nam, gắn liền quá trình Cổ phần hóa với tái cấu trúc vốn doanh nghiệp trong
bối cảnh hội nhập quốc tế… là các vấn đề chưa được làm rõ trong các nghiên cứu trước đây, mà trong
nghiên cứu này tác giả sẽ tiếp tục nghiên cứu, làm rõ thêm.
Tóm lại, các công trình nghiên cứu về các đề tài, luận văn, luận án ở trong nước và nước ngoài đã
nghiên cứu về cơ cấu vốn, nguồn vốn và một số tình hình của Doanh nghiệp Dệt may, tác giả thấy có một số
vấn đề về lý thuyết và tình hình thực tế đã được phân tích, đánh giá, đề xuất có liên quan đến đề tài luận án
mà tác giả có thể tham khảo và kế thừa như: lý thuyết về sử dụng đòn bẩy tài chính trong xem xét đánh giá,
xác định cơ cấu vốn và nguồn vốn của doanh nghiệp; Lý thuyết về vốn, cấu trúc vốn và tái cấu trúc vốn của
doanh nghiệp. Một số nét về hoạt động của ngành Dệt may Việt Nam, tuy sử dụng nhiều lao động, đạt được
kim ngạch xuất khẩu lớn và luôn luôn tăng trưởng qua các năm, nhưng giá trị gia tăng chưa cao, chỉ khoảng

tiến hành hoạt động kinh doanh. Như vậy có thể hiểu Cấu trúc vốn (Capital structure) của doanh nghiệp là
mối tương quan tỷ lệ giữa các loại vốn (hoặc nguồn vốn) trong tổng số vốn kinh doanh của doanh nghiệp tại
một thời điểm nhất định. Để quản lý và sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả, cần phải phân loại vốn theo
từng mục đích nghiên cứu và mục đích quản lý vốn. Có nhiều cách phân loại vốn dựa vào tiêu chí và mục
đích quản lý vốn khác nhau.Căn cứ vào quan hệ sở hữu vốn hoặc là nguồn hình thành vốn thì cấu trúc vốn
gồm: Vốn chủ sở hữu và vốn vay; Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển vốn thì cấu trúc vốn gồm vốn cố định và
vốn lưu động; Căn cứ vào thời gian sử dụng vốn thì cấu trúc vốn gồm vốn sử dụng thường xuyên và vốn sử
dụng tạm thời; Căn cứ vào phạm vi huy động vốn thì cấu trúc vốn gồm vốn huy động từ bên trong và vốn
huy động từ bên ngoài doanh nghiệp...Trong phạm vi luận án này, cấu trúc vốn được phân loại theo quan hệ
sở hữu vốn, bao gồm vốn chủ sở hữu và Nợ phải trả trong tổng số vốn mà doanh nghiệp có thể huy động
được để tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
2.1.1.2. Nội dung của cấu trúc vốn: Như phần trên đã trình bày, căn cứ vào quan hệ sở hữu vốn, cấu trúc
vốn, có 2 thành phần đó là Vốn chủ sở hữu và Nợ phải trả.
(i) Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, doanh nghiệp có toàn
quyền chiếm hữu, sử dụng thường xuyên và định đoạt loại vốn này trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.


Mô hình cấu trúc vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
TỔNG VỐN KINH DOANH CỦA DN
VỐN CHỦ SỞ HỮU
NỢ PHẢI TRẢ
- Vốn của NN
- Các khoản nợ chiếm dụng.
- Vốn cổ phần ưu đãi
- Nợ ngắn hạn
- Vốn cổ phần thường
- Nợ dài hạn.
- Lợi nhuận để lại.
- Các khoản vay khác.

phá sản cao hơn). Vì vậy, ở mức tỷ số giữa vốn nợ và vốn chủ sở hữu cao hơn, chi phí vốn bình quân gia
quyền sẽ tăng.
(ii) Khái niệm về cấu trúc vốn tối ưu:
Trong thực tế việc xác định một cấu trúc vốn để đạt hiệu quả cao nhất cho một doanh nghiệp là một
vấn đề lớn và rất quan trọng trong công tác tài chính của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp, việc sử dụng
vốn chủ sở hữu và Nợ phải trả thường có những ưu điểm và nhược điểm cụ thể như sau.
2.1.2 Tái cấu trúc vốn
2.1.2.1 Khái niệm tái cấu trúc vốn.
Nếu phân chia cụm từ “tái cấu trúc vốn” thành hai phần là “tái” và “cấu trúc vốn” thì phần “cấu trúc vốn”
đã được luận giải rõ như đã nói ở phần 2.1.1.1 về “khái niệm cấu trúc vốn” nói trên. Còn từ “tái’, theo nghĩa
Hán-Việt có thể hiểu là “làm lại”. Như vậy cả cụm từ “tái cấu trúc vốn” có thể hiểu được là “làm lại cấu trúc
vốn” hoặc là “xây dựng lại cấu trúc vốn” của doanh nghiệp.
Theo một cách tiếp cận khác, “tái cấu trúc” được hiểu một cách nôm na là thay đổi lại cấu trúc đã có.
“Tái cấu trúc vốn” là việc thay đổi lại cấu trúc vốn so với cấu trúc vốn đã có vào thời điểm hiện nay. Như ở
phần khái niệm về cấu trúc vốn đã trình bày “ cấu trúc vốn của doanh nghiệp” là mối tương quan tỷ lệ giữa
vốn chủ sở hữu và nợ phải trả trong tổng số vốn kinh doanh của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định.


Như vậy “tái cấu trúc vốn của doanh nghiệp” là việc thay đổi lại mối tương quan tỷ lệ giữa “vốn chủ sở hữu”
và “nợ phải trả” trong tổng số vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
2.1.2.2 Một số vấn đề cơ bản về tái cấu trúc vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
(i) Khi nào thì tái cấu trúc vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
Theo lý thuyết về tái cấu trúc vốn kinh doanh của doanh nghiệp thì nếu doanh nghiệp đang có hệ số nợ
thấp hơn hoặc cao hơn hệ số nợ tối ưu, thì tiến hành tái cấu trúc vốn bằng cách sắp xếp, điều chỉnh tăng
tương ứng hệ số nợ hoặc điều chỉnh giảm tương ứng hệ số nợ theo hướng tiến gần tới hệ số nợ tối ưu. Nhưng
việc xác định một hệ số nợ tối ưu theo định lượng là rất khó khăn; Mặt khác, nếu có một hệ số nợ tối ưu, thì
hệ số nợ của doanh nghiệp được xác định cao hơn hoặc thấp hơn là bao nhiêu so với hệ số nợ tối ưu thì
doanh nghiệp tiến hành tái cấu trúc vốn. Bởi vì, trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, hệ số nợ
(Nợ/vốn chủ sở hữu; hoặc Nợ/ tổng nguồn vốn kinh doanh của DN) liên tục thay đổi, thay đổi cả về số lượng
các loại vốn và tỷ lệ giữa chúng trong tổng nguồn vốn kinh doanh. Như vậy, câu hỏi đặt ra là: Biết khi nào

2.1.3.2 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với tái cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Hội nhập kinh tế
quốc tế vừa tạo cơ hội cho doanh nghiệp phát triển vừa đặt ra những thách thức mà các doanh nghiệp phải
chấp nhận, vượt qua để tồn tại và phát triển.
2.2 Các nguyên tắc cơ bản về tái cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Dựa trên sự phân tích ảnh hưởng của đòn bẩy kinh doanh, đòn bẩy tài chính, và đánh giá các mặt lợi
thế, bất lợi thế của từng hình thức tài trợ, có thể thấy rằng, để tái cấu trúc vốn hợp lý, giúp DN có thể đạt các
mục tiêu đặt ra cần phải tuân thủ 5 nguyên tắc cơ bản sau đây:


2.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính tương thích:
Nguyên tắc này được xây dựng dựa trên một thực tế là các nguồn tài trợ có yêu cầu về thời gian đáo hạn
rất khác nhau, trong khi thời gian tạo ra các nguồn tiền của các loại tài sản cũng không giống nhau. Vì vậy,
để đảm bảo DN có khả năng thanh toán ở bất kỳ thời điểm nào, giảm thiểu rủi ro về tài chính thì việc hoạch
định cũng như tái cơ cấu vốn cần có sự tương thích giữa thời gian được quyền sử dụng vốn với chu kỳ sinh
lời của tài sản đầu tư.
2.2.2 Nguyên tắc cân bằng giữa lợi nhuận và rủi ro:
Nguyên tắc này được xây dựng dựa trên sự phân tích tác động có tính chất đòn bẩy của chi phí cố
định và nợ vay. Nếu như mọi yếu tố khác được đánh giá trong cùng một mặt bằng thì hệ số về đòn bẩy tài
chính và đòn bẩy kinh doanh còn tượng trưng cho độ lớn của rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải. Tác
động đòn bẩy kinh doanh và đòn bẩy tài chính tạo nên hiệu ứng đòn bẩy tổng hợp, đó là sự ảnh hưởng theo
cấp số nhân. Tác động này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của chủ sở hữu, nếu doanh nghiệp đi vay nhiều,
đồng thời lại sử dụng tiền vay để đầu tư TSCĐ. Tác động này luôn có tính hai mặt, nó có thể tạo ra những
bước phát triển nhảy vọt nhưng cũng có thể đưa DN mau chóng đến bờ vực phá sản.
2.2.3 Nguyên tắc đảm bảo quyền kiểm soát doanh nghiệp:
Cơ sở của nguyên tắc này là ở chỗ, chủ sở hữu luôn có mục tiêu nắm quyền kiểm soát doanh
nghiệp. Quyền kiểm soát DN luôn tỷ lệ thuận với số vốn đóng góp. Vì vậy, để đảm bảo nguyên tắc này,
việc tái cơ cấu nguồn vốn phải thực hiện theo hướng gia tăng tỷ trọng vốn chủ sở hữu, đảm bảo cho tỷ lệ
vốn chủ sở hữu đủ lớn để chủ sở hữu DN có thể độc lập về mặt tài chính, chủ động quyết định những vấn
đề quan trọng trong SXKD, không phụ thuộc vào người khác.
2.2.4 Nguyên tắc tài trợ linh hoạt:


- Nhân tố thứ ba là tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
- Nhân tố thứ tư là tỷ lệ lạm phát thể hiện khả năng quản lý của chính phủ đối với nền kinh tế đồng thời nó
biểu hiện sự ổn định của đồng nội tệ.
- Nhân tố thứ năm là thái độ của các nhà tài trợ:
- Nhân tố thứ sáu là triển vọng phát triển của thị trường tài chính:
2.4 Các tiêu chí đánh giá kết quả của quá trình tái cấu trúc vốn doanh nghiệp
Vốn và cấu trúc vốn có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, cấu trúc vốn lại
có ảnh hưởng, gắn kết đến quá trình kinh doanh, tác động trên nhiều phương diện khác nhau. Sau đây sẽ
nghiên cứu một số tiêu chí đánh giá trên nhiều phương diện đó:
2.4.1 Tiêu chí đánh giá rủi ro tài chính doanh nghiệp
2.4.2 Tiêu chí đánh giá cân bằng tài chính doanh nghiệp
2.4.3 Tiêu chí đánh giá tỷ suất sinh lời của doanh nghiệp:
2.4.4 Tiêu chí đánh giá đến chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp.
(i) Chi phí sử dụng vốn vay: Chi phí sử dụng vốn vay là tỷ suất sinh lời tối thiểu mà doanh nghiệp cần phải
đạt được từ việc đầu tư bằng nguồn vốn vay để sao cho không làm sụt giảm tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu
(thu nhập của một cổ phần thường) đã có từ trước.
(ii) Chi phí sử dụng cổ phiếu ưu đãi: Chi phí sử dụng cổ phiếu ưu đãi là tỷ suất sinh lời tối thiểu cần phải đạt
được khi huy động vốn bằng phát hành cổ phiếu ưu đãi để đầu tư sao cho thu nhập trên một cổ phần hay giá
cổ phiếu của công ty là không bị sụt giảm. Giá phát hành cổ phiếu ưu đãi cân bằng trên thị trường, tại thời
điểm ước lượng là mức giá nhà đầu tư sẵn sàng đầu tư.
(iii) Chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu:
+ Chi phí sử dụng lợi nhuận để lại: Lợi nhuận sau thuế khi trả cổ tức cho cổ đông ưu đãi thì sẽ
thuộc sở hữu của cổ đông thường. DN có thể dành trả cổ tức cho cổ đông thường hoặc giữ lại tái đầu tư. Nếu
giữ lại tái đầu tư, các cổ đông sẽ mất cơ hội thu lợi nhuận từ việc nhận cổ tức để đem đầu tư nơi khác. Do đó
chi phí sử dụng lợi nhuận để lại chính là một chi phí cơ hội, nghĩa là tỷ suất sinh lời thu được từ việc các cổ
đông nhận cổ tức và đem đầu tư vào cơ hội khác có cùng mức độ rủi ro.
+ Chi phí sử dụng vốn bình quân: Hiện nay, mỗi một doanh nghiệp không sử dụng một loại vốn
riêng biệt mà kết hợp nhiều loại vốn khác nhau. Do vậy, chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp sẽ
được tính toán dựa trên chi phí bình quân gia quyền của các nguồn vốn mà DN sử dụng.

tình hình tài chính yếu kém của các DN. Nhiều NHTM vẫn gặp khó khăn khi đối mặt với rủi ro về ngoại
hối, nợ đọng chồng chất, quy mô vốn hoạt động còn quá nhỏ, giảm năng lực cạnh tranh và khả năng sinh
lời thấp.
Sáu là: Việt Nam cần phải đẩy nhanh việc xây dựng thị trường tài chính cũng như TTCK vượt lên trên
sự phát triển chung của nền kinh tế. Bởi vì, thị trường chứng khoán có tác động rất lớn đến kế hoạch tái cấu
trúc vốn, thoái vốn thông qua thị trường này. Phát triển thị trường tài chính sẽ làm tăng tốc độ luân chuyển
vốn trong nền kinh tế, giúp cho các DN dễ dàng huy động vốn với chi phí thấp nhất - là cơ hội để tái cơ cấu
vốn, lành mạnh hóa tình hình tài chính, ổn định trong sản xuất kinh doanh.
Kết luận chương 2:
Chương 2 của luận án đã hệ thống hóa một số lý luận cơ bản về cấu trúc vốn và tái cấu trúc vốn của
doanh nghiệp; luận án đã nêu rõ mục tiêu tái cấu trúc vốn, khi nào thì tái cấu trúc vốn, nội dung tái cấu trúc
vốn. Đồng thời luận án cũng đã phân tích những tác động của cấu trúc vốn đến chi phí sử dụng vốn, rủi ro tài
chính cuả DN trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; Khi tái cấu trúc vốn các DN phải tuân thủ các nguyên
tắc cơ bản: đảm bảo cân bằng giửa lợi nhuận và rủi ro, đảm bảo quyền kiểm soát doanh nghiệp, tài trợ linh
hoạt và tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn. Tuy nhiên khi tái cấu trúc vốn tuân thủ các nguyên tắc trên nhưng
phải đặt trong điều kiện cụ thể về đặc điểm của doanh nghiệp. Sự cần thiết phải tái cấu trúc vốn trong quá
trình hội nhập quốc tế do các nguyên nhân: do hoạt động không hiệu quả, do yêu cầu quản lý, do thay đổi cơ
cấu, do sát nhập, hợp nhất, cổ phần hóa doanh nghiệp… Những lý luận cơ bản về cấu trúc vốn; căn cứ xác
định cấu trúc vốn… ở chương 2 sẽ làm căn cứ cho việc phân tích, đánh giá thực tế và đề xuất giải pháp ở các
chương tiếp theo.
CHƯƠNG 3
THỰC TRẠNG CẤU TRÚC VỐN VÀ TÁI CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP DỆT MAY
VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
3.1 Tổng quan ngành Dệt may Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
3.1.1 Tổng quan về doanh nghiệp ngành Dệt may Việt Nam hiện nay.
3.1.1.1 Một số nét về ngành Dệt may Việt Nam
Ngành Dệt may Việt Nam đã có lịch sử phát triển từ rất lâu đời, theo thời gian, sản phẩm dệt may đã
không ngừng phát triển cả về chủng loại, số lượng và chất lượng, giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh, trở
thành mặt hàng xuất khẩu số một, giữ vị rất quan trọng trong nền kinh tế của quốc gia. Nhà nước đã có đánh
giá cao về vị trí và sự đóng góp của ngành dệt may vào phát triển kinh tế nước nhà, đồng thời coi ngành dệt

11,2
14
15,1
17,9
Tốc độ
tăng
100% 21% 10,3% 23,5% 32%
17% 99,4% 23%
25%
8%
19%
trưởng %
so với NT
(Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam)
Nhìn vào bảng 3.1 ta thấy kim ngạch xuất khẩu của hàng dệt may như sau: Năm 2010 giá trị KNXK đạt là
11,2 tỷ USD tăng lên 23% so với năm 2009; Năm 2012 đạt 15,1 tỷ USD tăng lên 8% so với năm 2011;
Tương tự như vậy giá trị KNXK năm 2013 đạt là 17,9 tỷ USD tăng lên so với năm 2012 là 19% chiếm
13,6% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Nếu tính cả giá trị xuất khẩu xơ, sợi năm 2013 đạt 2,15 tỷ USD thì
tổng giá trị xuất khẩu toàn bộ hàng dệt may, xơ, sợi năm 2013 đạt 20,1 tỷ USD, ngành dệt may trở thành
ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
3.1.2 Về tập đoàn Dệt may Việt Nam
3.1.2.1 Một số nét về tập đoàn dệt may Việt Nam (Vinatex)
Vinatex cùng các công ty trong tập đoàn tạo thành chuỗi cung ứng khá đầy đủ, cho toàn bộ các khâu
trong hoạt động của tập đoàn gồm: thiết kế thời trang, cung ứng nguyên, phụ liệu, sản xuất kinh doanh và
phân phối sản phẩm dệt may, như: sản xuất bông, sợi, dệt, nhuộm, may, hệ thống phân phối ở trong nước và
hoạt động xuất nhập khẩu, ngoài ra Vinatex còn có các cơ sở phụ trợ khác. Về qui mô và cơ cấu tập đoàn
Vinatex có tổng tài sản đến năm 2013 là trên 11.830 tỷ đồng, doanh thu và thu nhập năm 2013 đạt 10.954 tỷ
đồng, lợi nhuận trước thuế năn 2013 đạt 274 tỷ đồng, nộp ngân sách hơn 72 tỷ đồng, với tổng số lao động
bình quân khoảng 97 ngàn người, thu nhập bình quân đầu người đạt trên 5 triệu đồng/ tháng.
3.1.2.2 Tình hình, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của tập đoàn dệt ma:

Nhìn vào bảng số liệu 3.7 của Vinatex cho thấy: - Tại thời điểm 31/12/2006 tổng nguồn vốn là 8.688 tỷ
đồng, đến năm 2009 nguồn vốn đạt là: 11.854 tỷ đồng, tăng lên là 3.166 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ tăng là
36,4%; đến năm 2010 tổng nguồn vốn là 14.042 tỷ đồng, so với năm 2009 tăng lên là 2.188 tỷ đồng, tương
ứng tỷ lệ tăng là 18,45%; Năm 2011 là năm cổ phần hóa vinatex có một số tài sản không cần dùng, công nợ
không có khả năng thu hồi là: 1.354 tỷ đồng và tài sản ở các đơn vị sự nghiệp là 107,6 tỷ đồng được loại ra
khỏi giá trị doanh nghiệp;[3] Trong đó Vốn CSH năm 2006 là 2.287 tỷ đồng, đến 2013 đạt là 4.920 tỷ đồng,
tăng lên 2.633tỷ đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng là 215,1% như vậy trong điều kiện hội nhập tốc độ tăng
nguồn vốn và tốc độ tăng vốn CSH của Vinatex là rất tốt.
(ii) Về Tổng số tài sản và cơ cấu tài sản của DN Dệt và DN May.
Giá trị đầu tư TSCĐ và ĐTDH của Vinatex năm 2006 là 4.594 tỷ đồng, năm 2010 tăng lên là 6.942 tỷ
đồng, tăng lên là 2.348 tỷ đồng, tỷ lệ tăng là 151%; năm 2013 là 6.082 tỷ đồng tăng lên là 1.488 tỷ đồng,
tương ứng tỷ lệ là 132,5%; Tương tự như vậy, TSCĐ và ĐTDH đó tăng lên năm 2010 so với năm 2006 là
173,4% và năm 2013 tăng so với năm 2006 là 140,4%. Điều đó chứng tỏ tốc độ tăng TSLĐ và ĐTNH nhanh
hơn so với TSCĐ và ĐTDH khoảng 10-20%, đây là một thực trạng không tốt về các khoản đầu tư và tình
hình tài chính của Tập đoàn.
Nhìn vào biểu số liệu 3.8d về cơ cấu tài sản của Tổng Công ty May Sài Gòn. Do ngành SXKD chính là
ngành may do vậy ta thấy tỷ trọng TSCĐ và ĐTDH trừ năm 2008 là 50,1% và năm 2009 là 43,1 % tương đối
cao; còn các năm khác từ năm 2010 đến năm 2013 thì tỷ trọng TSCĐ và ĐTDH luôn luôn chiếm từ 27,2 %
đến 30,3 % bảng 3.8d. Điều đó cho thấy Do là doanh nghiệp chuyên về may mặc nên TSCĐ luôn luôn chiếm
tỷ trọng nhỏ, Mặt khác TSLĐ và ĐTNH luôn chiếm tỷ trọng lớn 72,8% năm 2011 + 2012 và năm 2013 là
28,0% trong cơ cấu tổng tài sản của doanh nghiệp.
- Nhìn vào bảng 3.9 cho thấy tốc độ tăng Tổng nguồn vốn: 31/12/2006 tổng nguồn vốn là 8.688 tỷ
đồng, đến năm 2010 tăng lên là 14.042 tỷ đồng, tăng lên là 5.354 tỷ đồng, tương ứng tăng là 161,6% so với
năm 2006; đến năm 2013 tổng vốn đạt 11.830 tỷ đồng, tăng so với năm 2006 là 3.142 tỷ đồng, tương ứng tỷ
lệ tăng là 136,1% so với năm 2006, đây là tốc độ tăng rất cao của Vinatex.
(iii) Về Tổng số nguồn vốn và cơ cấu nguồn vốn của Vinatex năm 2006 - 2013
Trong bảng 3.9 cho thấy VCSH đến 2013 VCSH đạt là 4.920 tỷ đồng, tăng lên 2.633 tỷ đồng so năm
2006 vốn CSH chỉ là 2.287 tỷ đồng; tương ứng với tỷ lệ tăng là 215,1% ; Năm 2011 vốn CSH là 4.582 tỷ
đồng tăng lên 398 tỷ đồng so với năm 2010 (là 4.184 tỷ đồng) tương ứng tỷ lệ tăng là 9,5%; Năm 2012 vốn
CSH là 4.819 tỷ đồng tăng so với năm 2011 là 237 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ tăng là 5,17%. Điều đó đã phản

2010
2011
2012
2013
1
12.27
16.72
Doanh thu
12.122 12.800
14.023
19.682 12.431 10.954
23.553 3.863
24.184 4.582
2
Vốn KD
2.287
3.208
4819
4920
3=½

Vòng quay

5,3

3,99

3,45

3,63

ROA, ROE, ROS của các công ty dệt may để so sánh, đánh giá, nhận xét.
Qua các bảng số liệu thống kê báo cáo tài chính các đơn vị trên, thì Công ty dệt may Thành Công kinh
doanh không ổn định, cụ thể: năm 2008 kém, năm 2012 rất kém, năm 2010 lại rất tốt, năm 2009 và năm
2010 ở mức độ trung bình, điều đó cho thấy ngoài yếu tố khách quan, thì khả năng lãnh đạo điều hành
doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh.
Tất cả những diễn giải, số liệu và phân tích trên cho đánh giá: Cổ phần hóa 100% vốn Nhà nước là
phương án tối ưu.
3.2.2 Tái cấu trúc vốn doanh nghiệp Dệt may.
Căn cứ theo Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2011 của Chính phủ về chuyển
doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần và quyết định số 5151/QĐ-BCT ngày 7 tháng 10
năm 2011 về việc cổ phần hóa công ty mẹ - Tập đòan dệt may Việt Nam và nhu cầu vốn để phát triển sản
xuất kinh doanh trong thới gian tới. Công ty mẹ tập đoàn dệt may Việt Nam đề nghị áp dụng việc thực hiện


cổ phần hóa theo hình thức: bán một phần vốn Nhà nước hiện có tại tập đoàn, kết hợp phát hành thêm cổ
phiếu để tăng vốn điều lệ, trong đó Nhà nước giữ cổ phần chi phối.
Kết quả sau khi cổ phần hóa theo quyết định số 5151/QĐ-BCT ngày 7/10/2011 của Bộ công thương, Vốn
kinh doanh của công ty mẹ tập đoàn dệt may–Vinatex như sau:
3.2.2.1 Tăng qui mô vốn kinh doanh, thay đổi cấu trúc vốn chủ sở hữu.
(i) Tăng qui mô vốn kinh doanh của Vinatex:
Bảng 3.15a Cho ta biết nguồn vốn nhà nước đánh giá lại là 4.299 tỷ đồng, phát hành tăng vốn thêm là
701 tỷ đồng như vậy tổng vốn điều lệ là 5.000 tỷ đồng: trong đó vốn chủ sở hữu của Nhà nước là 55% tương
ứng với 2.550 tỷ đồng; nguồn vốn khác là 45% tương ứng là 2.450 tỷ đồng. Tổng nguồn vốn hiện nay đã
tăng so với trước khi cổ phần hóa là 701 tỷ đồng tuy nhiên nguồn vốn kinh doanh hiện nay 5.000 tỷ đồng là
quá thấp so với nhu cầu vốn hiện hành.
Nhìn vào bảng 3.15b chúng ta thấy năm 2011 là năm cổ phần hóa, các năm 2009-2010 là năm trước cổ phần
hóa, số liệu các năm sau cổ phần hóa là 2012-2013, xét về mặt tăng trưởng ở đây rõ nhất là Doanh thu, qui
mô tổng tài sản, vốn chủ sở hữu. Qua số liệu trên, phản ảnh các chỉ tiêu tài chính như sau:
* Đối với Công ty Dệt kim Đông Xuân năm 2009-2010 có doanh thu tương ứng là 137 tỷ đồng và 196
tỷ đồng nhưng đến năm 2012-2013 là 195 tỷ đồng và 250 tỷ đồng như vậy năm 2013 so với năm 2009 tăng

Nguyên nhân do sau cổ phần hóa Vinatex đã vay dài hạn để mở rộng đầu tư, kịp thời hội nhập TPP.
Tái cấu trúc nguồn vốn đầu tư không có hiệu quả,
Năm 2010-2011, tổng giá trị đầu tư tài chính dài hạn của công ty là 3.245 tỷ đồng, chiếm hơn 60% tài
sản của công ty. Song doanh thu và lợi nhuận năm 2013 từ bán hàng của công ty mẹ cũng chỉ tương ứng 116


tỷ đồng và 36 tỷ đồng, do hầu hết các công ty con của Vinatex hoạt động không hiệu quả. Điển hình như
Công ty TNHH MTV TM Thời Trang Dệt May (Vinatexmart) lỗ đến 45 tỷ đồng trong năm 2013.
Doanh nghiệp dệt may phải thu hồi vốn, thoái vốn, đầu tư đã đầu tư ngoài ngành
Công ty mẹ Vinatex có vốn chủ sỡ hữu chủ yếu được đầu tư vào các công ty con, công ty lien kết, công
ty lien doanh… các khoản đầu tư này hiện đang chiếm 84,6% vốn điều lệ. Tuy nhiên bên cạnh đó công ty mẹ
vinatex cũng đang còn những khoản đầu tư ngoài ngành sản xuất kinh doanh chính của mình.
Do đầu tư ngoài ngành, đầu tư vào những ngành không đúng sở trường, truyền thống của ngành Dệt may
như: đầu tư tài chính, ngân hàng, kinh doanh bất động sản.
3.2.2.2 Thay đổi cấu trúc vốn do các nhân tố ảnh hưởng.
Trong quá trình phát triển và hội nhập vừa qua của các doanh nghiệp Dệt may, thì các yếu tố bên
ngoài cũng tác động ảnh hưởng đến cấu trúc vốn.
(i) Cấu trúc vốn bị ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài.
Nhìn chung tình hình kinh tế của đất nước ta giai đoạn 2007-2013: Năm 2007 là năm đầu tiên Việt
nam gia nhập WTO, kinh tế quốc tế và trong nước tương đối ổn định. Do vậy các chỉ số kinh tế của Việt
Nam khá tích cực: GDP tăng 8,4%. CPI bình quân tăng 8,3%
Tốc độ tăng trưởng kinh tế là thước đo cơ hội phát triển của các doanh nghiệp trong nền kinh
tế. Đối với mỗi doanh nghiệp, tăng trưởng kinh tế ảnh hưởng tới cấu trúc tài chính tối ưu cho các dự
án. Do khủng hoảng kinh tế tòan cầu, việc tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đã chậm lại trong những
năm 2008-2013 và thấp hơn giai đoạn 2006-2007, làm giảm tỷ lệ vốn vay của các doanh nghiệp thuộc
ngành Dệt May Việt Nam.
Lạm phát, khi tỷ lệ lạm phát tăng cao thì rủi ro của việc cấp tín dụng sẽ tăng lên và người cho vay sẽ
có xu hướng hạn chế cho vay. Bởi vậy, những năm lạm phát tăng cao 2007-2008, 2010 - 2011 đã làm ảnh
hưởng đến khả năng huy động vốn vay của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các DNDMVN nói
riêng. Từ chỗ vốn vay thay đổi nên cấu trúc vốn của các doanh nghiệp dệt may cũng thay đổi.

các khoản nợ vay khi đến hạn. Như vậy thanh khoản tốt tỷ lệ thuận với nguồn vốn tín dụng, do đó khả năng
vay nợ tăng lên và cơ cấu vốn cũng thay đổi theo.
 Nhân tố cấu trúc vốn chủ sở hữu: Đây là nhân tố riêng có của các DNNN khi mà trong cấu trúc
vốn chủ sở hữu, có một nguồn vốn không nhỏ đó là sự tham gia của vốn của nhà nước. Nhà nước tham gia
với tư cách là một cổ đông, thậm chí là một cổ đông lớn có quyền chi phối và quyết định mọi chiến lược hoạt
động, kinh doanh của doanh nghiệp.
3.2.3 Đánh giá thực trạng cấu trúc vốn của DNDM thời gian qua.
Từ thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh, tình hình đầu tư và cơ cấu nguồn vốn đối với các doanh
nghiệp dệt may nêu trên, đã chỉ ra những ưu điểm và tồn tại trong cơ cấu vốn của các doanh nghiệp dệt may
như sau:
3.2.3.1 Ưu điểm của cấu trúc vốn doanh nghiệp Dệt và May
(i) Ưu điểm chung cho cấu trúc vốn doanh nghiệp dệt may.
Một là, Cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp dệt may đã có sự tái cấu trúc theo hướng gia tăng vốn
thường xuyên (vốn chủ sở hữu và vay dài hạn) để đáp ứng yêu cầu kinh doanh ổn định của các doanh nghiệp
dệt may.
Hai là, Tăng trưởng qui mô vốn chủ sở hữu, chứng tỏ các doanh nghiệp càng phát triển, tăng qui mô
vốn chủ sở hữu càng làm tăng tích tụ tự chủ tài chính, tăng năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập.
Nhìn chung các doanh nghiệp dệt may có tốc độ tăng trưởng về quy mô vốn cao, như Vinatex năm 2006 là
2.287 tỷ đồng đến cuối năm 2013 là 4.920 tỷ đồng tăng là 2.633 tỷ đồng tương ứng là 115,13%;
Ba là: Nhiều doanh nghiệp dệt may đã từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, chi phí vốn
vay rẻ, tìm được nhiều nguồn ưu đãi, được hưởng nhiều chính sách khuyến khích xuất khẩu cho nên đã có
kết quả, hiệu quả kinh doanh khá cao và thu được những lợi nhuận lớn như Vinatex năm 2010 đạt 818 tỷ
đồng, năm 2011 đạt 832 tỷ đồng, năm 2012 đạt 730 tỷ đồng. Lợi nhuận sau thuế của công ty May Sài Gòn
năm 2008 là 17 tỷ đồng đến năm 2013 là 49 tỷ đồng tăng lên 32 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ tăng là 190%; Tổng
công ty Việt Thắng năm 2008 lợi nhuật đạt là 56 tỷ đồng đến năm 2013 đạt là 84 tỷ đồng tăng lên là 28 tỷ
đồng tương ứng tỷ lệ tăng 50%...
Bốn là, một số các doanh nghiệp dệt may đã thực hiện được nguyên tắc tài trợ vốn theo tính tương thích
trong những giai đoạn phát triển nhất định.
Năm là, nguồn vốn vay của DN dệt may có xu hướng ngày càng được đa dạng hóa, đa dạng hóa gói dịch
vụ với Ngân hang. Khả năng tiếp cận nguồn vốn vay trong và ngoài nước tốt, do phát triển sản xuất kinh

hiện đại, thời gian thu hồi vốn lâu. Khi dự án đã hoạt động, đầu ra của DN dệt chủ yếu là các công ty May, là bạn
hàng thân thiết, nên tình trạng chiếm dụng vốn thường xẩy ra, DN cần một lượng vốn dự trữ lớn.
Sáu là: Ngoài cạnh tranh với thế giới và khu vực thì các doanh nghiệp FDI trong nước do được
đầu tư công nghệ hiện đại, nguồn vốn lớn, kinh nghiệm lâu năm, quản trị DN tiên tiến… đã tạo ra sự cạnh
tranh đáng kể với các doanh nghiệp sản xuất Dệt trong nước về đơn hàng, nguyên liệu đầu vào, chất lượng,
giá cả, thị trường, mẫu mã, lao động…
(iii) Đặc điểm riêng của tái cấu trúc vốn doanh nghiệp ngành May.
Một là: Giá trị Tài sản cố định của doanh nghiệp May nhỏ, Khấu hao tài sản nhanh cho nên thu hồi
vốn sẽ nhanh doanh nghiệp ngành Dệt.
Qua số liệu biểu 3.8.d của TCT May Sài Gòn ta thấy rõ giá trị TSCĐ của DN luôn biến động ở mức
27,2% đến 28% giai đoạn 2011 đến 2013; giai đoạn cao điểm nhất, có tỷ lệ giá trị TSCĐ cao là năm 2008 2009 với tỷ lệ là 43,1% đến 50%; tỷ lệ TSCĐ giảm dần từ năm 2010 với tỷ trọng TSCĐ là 30,3% và qua
các năm 2011 đến 2013 thì tỷ trọng thấp hơn nữa.. Điều đó chứng tỏ TCT May Sài Gòn đầu tư đúng hướng
vào những tài sản có giá trị thấp, khấu hao nhanh, dễ quay vòng vốn.
Hai là: Cơ cấu Tài sản cố định và Tài sản lưu động, nghiêng về cấu trúc vốn của Tài sản lưu động.
Do vậy nguồn vốn lưu động sẽ lớn hơn nguồn vốn cố định do tương ứng với lượng tài sản đang sử dụng,
hoạt động trong doanh nghiệp May.
Ba là: Trong tổng nguồn vốn kinh doanh, thì tỷ trọng nguồn vốn lưu động chiếm tỷ trọng lớn hơn
nguồn vốn cố định. Nguồn vốn cố định chủ yếu được đầu tư vào nhà xưởng, thiết bị máy may. Do vậy, khả
năng luân chuyển vốn nhanh, đáp ứng dễ, cho nên dễ thu hút các nhà đầu tư.
Bốn là: Suất đầu tư của ngành may nhỏ, vốn ít, thời gian thu hồi vốn nhanh do vậy, các nhà đầu tư
thường mong muốn đầu tư vào doanh nghiệp ngành may hơn, kể cả nhà đầu tư nội lẫn nhà đầu tư ngoại.
Năm là: đối với ngành May: Xu hướng thị trường may là vòng đời sản phẩm may ngắn hơn và
vòng quay của vốn nhanh hơn.
Sáu là: Các doanh nghiệp ngành May không bị cấm đoán khắt khe về xử lý môi trường, chất thải,
nước thải… do vậy các Dự án ngành May có thể đưa được về khu dân cư, về vùng nông thôn để giải quyết
lao động nông nhàn, có tính cơ động cao.
Ngành Dệt may là ngành có suất đầu tư nhỏ và chi phí chuyển nhượng thấp. Chính vì vậy, một
khách hàng có thể dễ dàng chuyển từ nhà cung cấp này sang nhà cung cấp khác chỉ bằng một quyết định
nhanh chóng, không tốn kém, thậm chí tiết kiệm và hiệu quả theo cách lựa chọn của họ.
3.2.3.4 Nguyên nhân của những hạn chế trong cấu trúc vốn doanh nghiệp Dệt may:

nghiệp nhà nước chưa thật phù hợp với cơ chế thị trường. (ii) Cấu trúc vốn chưa tối ưu thể hiện hiệu quả hoạt
động của nhiều doanh nghiệp dệt may thấp, không tương xứng về tiềm năng, thế mạnh của của các doanh
nghiệp tập đoàn dệt may. (iii) Cấu trúc vốn vay chưa hợp lý thể hiện vốn vay dài hạn thấp, tỷ trọng vốn vay
ngắn hạn cao. (iv) Chính sách huy động vốn vay của các doanh nghiệp dệt may cũng chưa hợp lý … các hạn
chế trên đây có nguyên nhân chủ quan và khách quan. Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra là tiếp tục đẩy mạnh tái
cấu trúc vốn các doanh nghiệp dệt may sau quá trình cổ phần hóa, chuyển đổi doanh nghiệp, theo chủ trương
của chính phủ, phải cố gắng, nỗ lực phát triển sản xuất kinh doanh và đổi mới cấu trúc vốn trong bản thân
mỗi doanh nghiệp mới đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế trong giai đoạn sắp tới.
Chương 4
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TÁI CẤU TRÚC VỐN DOANH NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ.
4.1 Định hướng phát triển và quan điểm tái cấu trúc vốn của doanh nghiệp dệt may thời gian tới (đến
năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030)
4.1.1 Định hướng phát triển.
Ngành Dệt may Việt Nam, những năm gần đây, đã có nhiều đoàn DN từ Hồng Kông, Đài Loan,
Trung Quốc… đến Việt Nam tìm hiểu cơ hội xúc tiến đầu tư vào ngành dệt may. Bên cạnh đó, còn có làn
sóng các đơn hàng may, nguyên liệu cũng tìm về Việt Nam Đây được xem như là một làn sóng dịch chuyển
đầu tư và đơn hàng dệt may từ các nước, vùng lãnh thổ sang Việt Nam. Theo đánh giá của các nhà nhập khẩu
nước ngoài, Việt Nam là điểm đến để ưu tiên lựa chọn, vì năng suất lao động tại Việt Nam cao hơn các nước
Campuchia, Indonesia, Lào. Hơn nữa, Việt Nam vốn đã có “thương hiệu” là nước có khả năng sản xuất hàng
dệt may những loại khó, mang tính kỹ thuật, chất lượng cao. Việc xuất hiện một “làn sóng” đặt hàng và đầu
tư mới vào ngành DM đang đặt ra cho Việt Nam nhiều cơ hội và thách thức. Về cơ hội, Các DN DM Việt
Nam có nhiều đơn hàng để lựa chọn và có quyền chọn những đơn hàng tốt nhất để sản xuất, gia công. Với
làn sóng dịch chuyển DM vào Việt Nam


4.1.2 Quan điểm phát triển ngành dệt may Việt nam đến 2015, tầm nhìn 2020.
4.1.2.1 Quan điểm, mục tiêu phát triển ngành Dệt May Việt Nam.
(i) Quan điểm phát triển ngành Dệt May Việt Nam.
Thứ n h ấ t l à : T á i c ấ u t r ú c v ố n đ ể doanh nghiệp ngành dệt may theo hướng hoạt động

Công ty tài chính của tập đoàn chưa được củng cố
sở cho tập đoàn có thể tạo việc làm, thu hút lao động, tốt, để bố trí vốn vay cho các doanh nghiệp trong
tiết kiệm chi phí, tham gia vào chuỗi giá trị dệt may tập đoàn. Mỗi doanh nghiệp trong tập đoàn phải tự
toàn cầu, nhằm nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm lo vay vốn nên hiệu quả thấp.
dệt may.
3. Thương hiệu của tập đoàn còn manh mún ở
3. Tăng trưởng bền vững và ấn tượng, giai đoạn 2009 từng đơn vị thành viên, chưa có thương hiệu mạnh
– 2011 doanh thu tăng 17-19%, trong đó doanh thu nội mang đặc trưng của tập đoàn, để tăng khả năng tiêu
địa đạt khoảng 12.000 tỷ đồng (tương đương 600 triệu thụ sản phẩm và tăng uy tín trong huy động vốn.
USD); kim ngạch xuất khẩu đạt 2,6 tỷ USD; ROE đạt
4. Các doanh nghiệp thành viên và tập đoàn còn
12-14%. Đây là thế mạnh của tập đoàn dệt may có thể phụ thuộc nhiều vào Nhà nước, Tập đoàn và các
thu hút thêm nhiều nhà đầu tư, chiến lược để tái cấu doanh nghiệp thành viên chưa chủ động trong việc
trúc vốn, tái cấu trúc quản trị, thu hút thêm lao động tái cấu trúc vốn của đơn vị mình.
cho phát triển và bảo vệ môi trường.
4. Tập đoàn và một số doanh nghiệp dệt may như:
TCT Việt Tiến, TCT Việt Thắng có riêng kênh phân
phối trong nội địa; có hệ thống khách hàng tốt tại một
số thị trường lớn như Mỹ, Nhật, EU… có lợi thế cạnh
tranh về vị trí địa lý ở cả thị trường nội địa và xuất
khẩu. Lợi thế này tạo ra khả năng cho tập đoàn và các
doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo
thêm việc làm mới trong các năm tới.
Cơ hội

Thách thức


1. Trên thị trường quốc tế, cánh cửa cho mặt hàng dệt
may Việt Nam ngày càng rộng mở, nhất là TPP với các

nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dệt
may Việt Nam.

1. Trong thời gian ngắn, phải thoái hết vốn Nhà
nước là một khó khăn, thử thách đối với tập đoàn.
Tái cấu trúc quản trị doanh nghiệp và là áp lực to
lớn của tập đoàn và các doanh nghiệp dệt may.
2. Trong 2-3 năm sắp tới, tập đoàn vừa phải lo
huy động vốn từ thị trường, vừa phải tổ chức lại sản
xuất kinh doanh để có thể tiếp cận được lợi thế từ
TPP. Đó là khối lượng công việc vừa to lớn, vừa
khó khăn.
3. Các doanh nghiệp dệt may chịu sự canh tranh
mãnh mẽ từ nhiều phía, nhất là làn sóng dịch
chuyển từ các nhà đầu tư Trung Quốc, Đài Loan
vòa Việt Nam.
- Vốn ít, công nghệ phụ trợ của Việt Nam còn
yếu, giá cả đầu vào phụ thuộc thị trường thế giới
biến động khó lường. N g u y ê n p h ụ l i ệ u của
ngành hiện n a y c ò n phụ thuộc vào nước ngoài.
- Chi phí kinh doanh cao do có r ủi ro tiềm
ẩn ở những thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản
bởi những qui định ngày càng khắt khe.
- Chi phí vốn tăng, hiệu quả thấp, do sự yếu
kém của ngành công nghiệp phụ trợ cho d ệ t
may là nguyên nhân căn bản khiến Việt Nam
trong nhiều năm vẫn chỉ là một xưởng sản xuất
thuê cho các DN khác trên thế giới.
4. Vốn DN FDI tăng vừa là thách thức, vủa là
động lực để phát triển, tạo ra sự cạnh tranh đáng kể

Hội đồng định giá tài sản cần thực hiện kiểm kê đánh giá lại tổng số đất đai đã giao cho tập đoàn sử dụng,
phân loại và tách phần đang sử dụng vào sản xuất, kinh doanh Dệt may để chuyển sang cơ chế cho thuê đất
của Nhà nước như các doanh nghiệp SXKD khác. Riêng phần đất sử dụng vào các hoạt động sự nghiệp, phúc
lợi như: Nhà trường, bệnh viện, các Viện nghiên cứu.. sẽ giải quyết sau cho phù hợp với các đơn vị sự
nghiệp khác.
4.2.1.3 Nhà nước có chính sách phát triển thị trường chứng khoán, khuyến khích thu hút vốn đầu tư để tái
cấu trúc vốn kích thích phát triển doanh nghiệp dệt may.
- Kênh huy động vốn, để tái cấu trúc vốn các doanh nghiệp dệt may qua thị trường chứng khoán là kênh các
nước phát triển trên thế giới vẫn áp dụng (như phần kinh nghiệm quốc tế chương 2 đã phân tích). Việt Nam
chúng ta hiện tại kênh huy động vốn này còn rất kém, vì nhiều lý do khác nhau, bởi vậy:
Đối với chính phủ cần làm 2 việc:
a. Đối với những doanh nghiệp Dệt may chưa cổ phần hóa xong thì tiếp tuc cổ phần hóa, đối với những
doanh nghiệp đã cổ phần hóa rồi thì nhất thiết phải khẩn trương công bố niêm yết trên sàn giao dịch chứng
khoán, có thể sàn Hà Nội hoặc sàn thành phố Hồ Chí Minh. Đối với những đơn vị có thể mạnh, thương hiệu
tốt, quản trị giỏi cần phải có kế hoạch, chiến lược để niêm yết trên thị trường chứng khoán quốc tế.
b. Đối với các công ty chứng khoán:
Hiện nay vấn đề năng lực tài chính và hoạt động của các công ty chứng khoán tham gia trên thịt
trường cũng là yếu tố đáng báo động. Do vậy các công ty chứng khoán được theo dõi sát sao và quản lí
chặt chẽ. Bước đầu việc yêu cầu các tổ chức chứng khoán cập nhật định kì thông tin về tỉ lệ an toàn tài
chính theo thông tư 52 đã phát huy những tác dụng tích cực. Những công ty có tỷ lệ an toàn tài chính thấp
được kiểm soát đặc biệt giúp nhà đầu tư hiểu rõ tình trạng của các công ty mà mình chọn để giao dịch.
Việc giám sát này sẽ giúp cơ quan quản lí thúc đẩy hợp nhất, sáp nhập hoặc sàng lọc những công ty
chứng khoán yếu kém để tăng quy mô hoạt động, giảm số lượng cho phù hợp với nhu cầu của thị trường.
Sự sàng lọc này sẽ giúp phát triển các công ty chứng khoán phát triển ổn định và bền vững theo mô hình
kinh doanh đa năng, theo hướng chuyên nghiệp hóa, hiện đại hóa, từ đó từng bước nâng cao năng lực
cung cấp dịch vụ chứng khoán ra các thị trường khu vực.
4.2.2 Nhóm giải pháp vi mô, do các doanh nghiệp thực hiện
4.2.2.1 Nhóm các giải pháp về tài chính
a.) Nhóm giải pháp tái cấu trúc vốn chủ sở hữu
(i). Tích tụ, tập trung vốn chủ sở hữu, nâng dần tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn kinh

+ Thứ hai là, doanh nghiệp dệt may nhà nước không áp dụng đầy đủ giá thị trường của vốn. Cụ thể là,
ngoài việc còn được hưởng một số tín dụng ưu đãi, lợi tức / vốn chủ sở hữu chỉ cần một số dương (+) tối
thiểu là đủ; doanh nghiệp dệt may nhà nước không buộc phải tạo ra khoản lợi tức/vốn chủ sở hữu ít nhất
bằng giá vốn trên thị trường. Ngoài ra, doanh nghiệp dệt may không cần thiết phải cân nhắc, tính toán và
đánh đổi các chi phí cơ hội để có được danh mục đầu tư tốt nhất, hiệu quả nhất.
+ Thứ ba là, Doanh nghiệp dệt may chưa áp dụng đầy đủ nguyên tắc và kỷ luật thị trường một phần
do những rào cản thể chế, bảo vệ vị thế và lợi ích của DNDM và các bên có liên quan, ngăn cản gia nhập
thị trường đối với các thành phần kinh tế khác. Về chủ trương phát triển kinh tế nhà nước, thì DNDM phải
giữ vai trò chi phối trong các ngành, nghề quan trọng của nền kinh tế; và các tập đoàn, tổng công ty được
thành lập là để hiện thực hóa chủ trương nói trên.
(ii) Tăng cường vay dài hạn, giảm dần ngắn hạn, tái cấu trúc vốn vay.
Vốn tín dụng là nguồn vốn mang nhiều rủi ro nhưng nếu trong điều kiện nền kinh tế ổn định, doanh
nghiệp kinh doanh hiệu quả thì đây là một nguồn vốn huy động hiệu quả, có chi phí sử dụng vốn thấp và có
tác dụng như một “lá chắn thuế”.
Các giải pháp tái cấu trúc vốn vay.
- Nâng cao chất lượng vốn vay của doanh nghiệp: tăng tỷ trọng vay nợ nhằm hướng tới một cấu trúc vốn tối
ưu nhưng không làm tăng quá mức rủi ro cho doanh nghiệp do vay nợ mang lại, bởi vậy cần quản lý hiệu quả
nợ, nâng cao chất lượng vốn vay của doanh nghiệp.
- Xây dựng hệ thống chỉ tiêu giám sát vốn vay của doanh nghiệp và xây dựng qui trình, qui chế nhằm quản
lý nợ: khi vay, khi sử dụng vốn vay và kế hoạch trả nợ vay.
- Xây dựng cơ cấu vốn vay hợp lý trên cả 2 giác độ: kỳ hạn, loại hình vốn vay. Các biện pháp cụ thể về vốn
nợ cho các doanh nghiệp chuyển dịch giảm dần tỷ trọng vốn vay / vốn chủ sở hữu:
- Hạn chế vay nợ, tăng vốn chủ sở hữu bằng cách đẩy mạnh đa dạng hóa sở hữu tăng tính hiệu quả của cổ
phần hóa doanh nghiệp, có thể đưa tỷ trọng vốn vay từ khoảng 70% xuống 50% và vốn chủ sỡ hữu từ 30%
lên 50%.
- Không dùng vay ngắn hạn đề đầu tư tài sản dài hạn, vì đây là điều nguy hiểm về mặt tài chính, điều này sẽ
dẫn đến nguy cơ doanh nghiệp Dệt may mất khả năng thanh toán khi nợ vay ngắn hạn đến thời hạn đáo hạn.
(iii) Thu hút vốn của các nhà đầu tư nước ngoài, nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn.
Đa dạng hóa kênh huy động vốn thông qua hình thức mở rộng quan hệ hợp tác, liên doanh liên kết với
các doanh nghiệp kinh doanh hàng dệt may trong và ngoài nước, có thể liên kết với các công ty đa quốc gia,

vực kinh doanh chính như: dự án Bất động sản, tài chính, ngân hàng, chứng khoán… hay những loại hình
dịch vụ khác, không nằm trong ngành nghề SXKD chính của doanh nghiệp Dệt may.
c) Củng cố phát triển Công ty Tài chính
Khi quy mô của tập đoàn phát triển gia tăng với cấu trúc phức tạp, có nhiều công ty con và công ty
cháu, lúc này việc tiếp tục đảm nhận điều phối dòng tiền thường gây quá tải cho công ty mẹ. Khi đó, các tập
đoàn cần củng cố, phát triển công ty tài chính nhằm giúp công ty mẹ chuyên môn hóa điều phối dòng tiền và
hỗ trợ vốn cho các công ty thành viên để công ty mẹ có thể chuyên tâm hơn vào việc hoạch định chiến lược
kinh doanh trong toàn tập đoàn. Bởi vậy để tái cấu trúc quản trị, vinatex cần tái định vị, đổi mới quản trị
doanh nghiệp đối với công ty tài chính Vinatex, cụ thể:
Thứ nhất, các công ty tài chính tập trung chủ yếu vào tìm nguồn vốn để cho vay trung và dài hạn đối
với các công ty thành viên và các dự án của tập đoàn Vinatex. Công ty tài chính có chức năng chính là tài trợ
vốn cho công ty thành viên dưới hình thức cho vay trung và dài hạn. Trong khi đó, việc tài trợ vốn cổ phần
cho các công ty con sẽ vẫn chủ yếu do công ty mẹ thực hiện.
Thứ hai, chức năng đầu tư tài chính nhàn rỗi cho tập đoàn Vinatex: Nguồn tiền nhàn rỗi của các công ty
thành viên trong tập đoàn thường được gửi tại công ty tài chính, Công ty tài chính thường đảm nhận chức
năng đầu tư vốn nhàn rỗi cho tập đoàn thông qua việc đầu tư vào một danh mục các chứng khoán. Tuy nhiên,
các khoản đầu tư cổ phiếu trong danh mục chứng khoán của công ty tài chính cũng chủ yếu nên tập trung vào
cổ phiếu các công ty thành viên thuộc tập đoàn.
Thứ ba, công ty tài chính giúp tập đoàn Vinatex và các đơn vị thành viên chủ động hơn trong việc đáp
ứng các nhu cầu vốn: Việc phụ thuộc hoàn toàn vào tài trợ vốn từ các định chế bên ngoài có thể khiến cho
tập đoàn bị động về nguồn vốn trong trường hợp ngân hàng trung ương thắt chặt tiền tệ hoặc thị trường tài
chính bị khủng hoảng. Khi gặp những tình huống này, các công ty tài chính sẽ thu hẹp diện cho vay với các
đối tác bên ngoài và dành vốn ưu tiên hỗ trợ vốn cho tập đoàn, điều này giúp tập đoàn chủ động hơn trong
việc đáp ứng các nhu cầu vốn.
Thứ tư, Chuyên môn hóa trong việc cung cấp thông tin thị trường tài chính phục vụ cho hoạch định
chiến lược tài chính trong tập đoàn Vinatex: “Việc xây dựng chiến lược tài trợ của công ty mẹ và các công ty
thành viên thường đòi hỏi những phân tích chuyên sâu về thị trường tài chính”. Đối với các công ty thành
viên chuyên môn hóa trong lĩnh vực sản xuất, họ sẽ có ít kinh nghiệm và ít thông tin hơn về sự thay đổi
thường xuyên của thị trường tài chính và việc từng công ty thực hiện thông tin là khá tốn kém. Do đó, công


may, tăng tỷ lệ nội địa hóa đón đầu và đáp ứng các yêu cầu hội nhập quốc tế sắp tới nhất là TPP đã cận kề.
(ii) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho DNDMVN
4.3 Điều kiện để thực hiện giải pháp và kiến nghị.
4.3.1 Điều kiện để thực hiện giải pháp: Để có thể thực hiện thành công các pháp tái cấu trúc vốn tại các
doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần có các điều kiện sau:
(i) Giữ vững ổn định tăng trưởng kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, ổn định thi trường tiền tệ, tài chính,
tín dụng.
(ii) Hòan thiện hệ thống pháp luật, hệ thống cơ chế chính sách của Nhà nước.
(iii) Lành mạnh hóa và thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khóan.
4.3.2 Một số kiến nghị
4.3.2.1 Kiến nghị đối với Nhà nước
Thứ nhất, khi Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của TPP, đề nghị Chính phủ tiếp tục có những
chính sách hỗ trợ chiến lược để phát triển ngành công nghiệp DMVN phù hợp với những qui định TPP sắp
diễn ra và các hiệp định hội nhập khác
Thứ hai, Chính phủ và các cơ quan, ban, ngành cần tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường,
chống buôn lậu, trốn thuế và gian lận thương mại nhằm bảo vệ thị trường trong nước và tạo dựng môi trường
cạnh tranh lành mạnh.
Thứ ba, Tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo hướng một cửa, một dấu, đơn giản hóa các thủ
tục tạo điều kiện cho việc thành lập các DNDMVN mới.
Thứ tư, Hỗ trợ vốn ngân sách cho việc đầu tư, hỗ trợ các viện nghiên cứu đóng vai trò là các trung tâm tư
vấn cho các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm phụ trợ Dệt may, các sản phẩm
thân thiện với môi trường, phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế.


Thứ năm, Nhà nước quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng như thủy lợi; điện; thông tin liên lạc, giao thông thủy
bộ,...theo qui hoạch phát triển vùng nguyên liệu, nhằm góp phần đảm bảo nguồn nguyên liệu, nâng cao năng
suất, chất lượng, đồng thời hạ giá thành nguyên liệu nhằm đảm bảo nguồn nguyên, phụ liệu cho sản xuất và
xuất khẩu.
4.3.3.2 Kiến nghị đối với chính quyền các địa phương liên quan
Thứ nhất, Chính quyền địa phương khi lập quy hoạch đất đai cần dành quỹ đất để phát triển vùng nguyên

là những giải pháp vừa mang tính khả thi, vừa rất thiết thực và cấp bách đối với các doanh nghiệp dệt may ở
nước ta.
Tuy nhiên đối với mỗi giải pháp cụ thể cũng cần tiếp tục có đề án nghiên cứu đầy đủ và chi tiết hơn
nữa mới có thể đưa vào áp dụng trong thực tế. Mặt khác, do cách viết, cách diễn giải của tác giả còn nhiều
hạn chế, thiếu sót nên có thể còn những khía cạnh chưa được làm rõ hoặc còn khiếm khuyết. Rất mong nhận
được những lời chỉ dẫn của các thầy, các cô trong hội đồng để nghiên cứu sinh hoàn thiện hơn nữa bản luận
án này.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status