Thực trạng và một số giải pháp tạo việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp tại xã dương quang huyện mỹ hào tỉnh hưng yên - Pdf 35

TÓM TẮT LUẬN VĂN
Nước ta hiện nay đang trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa
mạnh mẽ hướng đến mục tiêu năm 2020 cơ bản trở thành một nước công
nghiệp. Để phục vụ mục tiêu đó thì quá trình thu hồi, chuyển đổi đất nông
nghiệp để xây dựng và phát triển khu công nghiệp là điều không tránh khỏi.
Việc thu hồi đất đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của hàng triệu nông
dân trong cả nước. Xã Dương Quang Huyện Mỹ Hào – Hưng Yên là một xã
thuần nông điển hình của nông thôn miền bắc. Từ khi có quá trình thu hồi đất
phục vụ xây dựng khu công nghiệp thì đời sống cũng như công ăn việc làm
của các hộ nằm trong diện bị thu hồi đất bị ảnh hưởng rất lớn. Qua quá trình
điều tra chúng tôi đã đã đưa ra một số lý luận và thực tế về những tác động
của việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp
tập trung đến sản xuất và đời sống của hộ nông dân có đất bị thu hồi ở Việt
Nam cũng như ở một số nước khác.
Đề tài nghiên cứu thực trạng xây dựng khu công nghiệp trên địa bàn xã
Dương Quang đã cho thấy diện tích đất cho việc xây dựng cụm công nghiệp
chủ yếu là đất trồng lúa dẫn tới thu nhập từ nông nghiệp của các hộ nông dân
giảm nhiều so với trước kia. Giá đền bù cho các hộ nông dân nhìn chung là
thấp đã gây ra một số khó khăn cho các hộ bị thu hồi đất. Đề tài nghiên cứu
và làm rõ những tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp tới vấn đề kinh tế xã hội đặc biệt là lao động việc làm của người dân có đất bị thu hồi. Do việc
xây dựng khu công nghiệp đã làm cho diện tích đất nông nghiệp của các hộ
giảm xuống. Quỹ đất sản xuất giảm xuống điều đó đồng nghĩa với việc thu
nhập từ nông nghiệp của các hộ cũng giảm xuống. Cơ cấu lao động chuyển
dịch theo hướng giảm số lượng lao động nông nghiệp, tăng lên số lao động
ngành nghề dịch vụ và thương mại. Hộ thuần nông cũng giảm đáng kể và
chuyển sang làm kinh doanh dịch vụ hoặc kiêm ngành nghề. Cũng bởi còn ít

1


đất sản xuất nên một số lao động đã thất nghiệp hoặc trở thành lao động tự do

1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Để tiến lên một nền kinh tế - xã hội hiện đại và phát triển, tránh khỏi
nguy cơ tụt hậu thì CNH - HĐH đất nước là quy luật phổ biến và con đường
tất yếu mà mọi quốc gia đều phải thực hiện. Ở Việt Nam trong thời kì quá độ
lên CNXH thì Đảng ta đã xác định CNH - HĐH là nhiệm vụ trọng tâm và
xuyên suốt, coi đây là chủ trương lớn để đưa nước ta nói chung và nền nông
nghiệp nông thôn nói riêng phát triển. Chính vì vậy mà trong những năm gần
đây quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá diễn ra hết sức mạnh mẽ và
nhanh chóng. Ngành công nghiệp ngày càng chiếm tỉ trọng cao, gần 43%
trong tổng GDP cả nước. Tuy nhiên, đồng nghĩa với quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước là quá trình thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng
từ đất nông nghiệp sang xây dựng, chuyên dùng cho phát triển khu công
nghiệp, đô thị, giao thông… dẫn tới diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm
mạnh.
Hiện nước ta có 9,42 triệu ha đất nông nghiệp, trong đó đất trồng lúa
4,1 triệu ha. Nông dân ước khoảng 60 triệu người (trên tổng số 86 triệu dân),
như vậy bình quân đất canh tác là 480m2/người, chỉ bằng 1/4 của nông dân
Thái Lan. Trước làn sóng công nghiệp hóa, đô thị hoá của thời hội nhập, diện
tích đất canh tác ngày càng thu hẹp và chắc hẳn số "nông nhàn vĩnh viễn" sẽ
ngày càng đông hơn.
Theo Bộ Nông nghiệp và PTNT, trung bình mỗi hộ nông dân có 1,5 lao
động và mỗi hecta đất thu hồi ảnh hưởng tới việc làm của 10 lao động. Như
vậy, việc thu hồi đất nông nghiệp và đất ở trong 5 năm (2003- 2008) đã tác
động tới đời sống của khoảng 2, 5 triệu nông dân. Tại một số vùng ven đô của
Đồng bằng sông Hồng, trước khi thu hồi đất chỉ có 10% lao động đi làm thuê
thì sau khi thu hồi đất tỷ lệ này là 17%. (Huyền Ngân 2009)

3




1.2.2 Mục tiêu cụ thể
.

- Hệ thống hóa những cơ sở lý luận và thực tiễn về sử dụng lao động và

việc làm ở nông thôn.
- Nghiên cứu thực trạng việc làm của các hộ nông dân sau khi bị thu
hồi đất nông nghiệp tại xã Dương Quang.
- Đề ra một số giải pháp góp phần tạo công ăn việc làm và sử dụng hợp
lý lượng lao động, nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân bị thu hồi đất.
1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu
1.Tình hình chuyển đổi đất nông nghiệp phục vụ mục đích công nghiệp
hoá ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam?
2. Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến thu nhập và việc
làm của các hộ nông dân xã Dương Quang như thế nào?
3. Thực trang lao động việc làm ở các hộ bị thu hồi đất nông nghiệp xã
Dương Quang?
4. Các giải pháp để tạo việc làm tăng thu nhập cho người dân bị mất đất?
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng là các hộ nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp của các hộ tại
xã Dương Quang, huyện Mỹ Hào, Hưng Yên
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về không gian: Các hộ nông dân có đất nông nghiệp bị thu hồi
trên địa bàn xã Dương Quang.
Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ ngày 10/1/2010 –
20/6/2010.

5

6


khái niệm việc làm như sau: ''Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập, không bị
pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm". Như vậy, để có việc làm
không nhất thiết chỉ có vào cơ quan, xí nghiệp của Nhà nước mà có thể làm
trong mọi doanh nghiệp, cơ quan thuộc mọi thành phần kinh tế hoặc do chính
bản thân người lao động tạo ra để có thu nhập.
2.1.1.2 Khái niệm về năng suất lao động, cường độ lao động và thời gian lao động
* Năng suất lao động là sức sản xuất của lao động cụ thể có ích. Nó nói
lên hoạt động sản xuất có mục đích của con người trong một thời gian nhất
định. Năng suất lao động được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong
một đơn vị thời gian, hoặc lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị
sản phẩm.
Năng suất lao động cá thể là sức sản xuất của một lao động cụ thể. Nó
được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra của một lao động trong một đơn
vị thời gian hoặc bằng thời gian hao phí của một lao động cụ thể sản xuất ra
một đơn vị sản phẩm.
Năng suất lao động bình quân là sức sản xuất bình quân một lao động
trong một đơn vị thời gian nhất định.
Tăng năng suất lao động là sự tăng lên của sức sản xuất hay năng suất
lao động, nói chung chúng ta hiểu là sự thay đổi trong cách thức lao động,
một sự thay đổi làm rút ngắn thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất
ra một đơn vị sản phẩm hàng hoá, sao cho số lượng lao động ít hơn mà lại có
sức sản xuất ra nhiều giá trị sử dụng hơn.
* Cường độ lao động là mức độ khẩn trương về lao động. Trong cùng
một thời gian, mức chi phí năng lượng cơ bắp, trí não, thần kinh của con
người càng nhiều thì cường độ lao động càng cao, Các Mác gọi cường độ lao
động là "khối lượng lao động bị ép vào trong một thời gian nhất định" hay
còn gọi là "những số lượng lao động khác nhau bị tiêu phí trong cùng một

phẩm phù hợp. Khả năng mới, trình độ kỹ thuật lại tác động trở lại nâng cao
nhu cầu của con người sáng tạo. Cứ như vậy qua quá trình lao động, con
người và tư liệu lao động tác động lẫn nhau đưa xã hội phát triển từ thấp tới
cao. Hơn nữa con người luôn có ý thức vươn lên làm chủ trong quá trình phát
triển kinh tế xã hội. Như vậy, con người thông qua quá trình lao động là chủ

9


thể sáng tạo, hoàn thiện quá trình phát triển kinh tế xã hội.
- Nguồn lao động là mục đích của sự phát triển kinh tế xã hội. Mọi hoạt
động sản xuất suy cho cùng đều phục vụ nhu cầu của con người. Nhu cầu của
con người là nhân tố kích thích sản xuất, là "Đơn đặt hàng của xã hội đối với
sản xuất". Nền kinh tế tư bản coi con người là thị trường tiêu thụ hàng hoá.
Nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa coi sự phát triển tiến
bộ của con người là nhân tố hàng đầu. Vì vậy, Đảng đã khẳng định: "Phát huy
yếu tố con người là mục tiêu cao nhất của mọi hoạt động".
- Nguồn lao động là yếu tố hàng đầu, năng động và quyết định sự phát
triển của lực lượng sản xuất. Trong quá trình lao động đặc biệt trong giai đoạn
hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, con người được
đặt trong một hệ thống lao động hết sức phức tạp, đòi hỏi con người luôn tìm
tòi, suy nghĩ, sáng tạo, không chỉ sáng chế ra những tư liệu lao động có năng
suất cao mà còn kết hợp tư liệu lao động với đối tượng lao động, nhằm tạo ra
sản phẩm theo mục đích đã định.
2.1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn lao động
- Các yếu tố ảnh hưởng đến số lượng lao động
+ Dân số: được coi là yếu tố cơ bản quyết định số lượng lao động. Các
yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự biến động của dân số hiện nay là: phong tục,
tập quán từng nước, trình độ phát triển kinh tế, mức độ chăm sóc y tế và chính
sách của từng nước về vấn đề khuyến khích và hạn chế sinh đẻ.

chất khác nhau, một lao động có thể làm được nhiều việc và một việc cũng có
thể do nhiều lao động đảm nhiệm. Hơn nữa, phần lớn lao động trong nông
nghiệp mang tính phổ thông, ít được đào tạo, sản xuất bằng kinh nghiệm là
chính, nguồn lao động chất xám khong nhiều và lại phân bố không đều. Vì thế
làm cho hiệu quả lao động thấp, khó khăn cho việc đưa khoa học kỹ thuật vào
tróng sản xuất nông nghiệp.
Lao động nông thôn mang tính thời vụ: Sản xuất nông nghiệp luôn chịu
tác động và bị chi phối mạnh mẽ của các quy luật sinh học và các điều kiện tự
nhiên cụ thể của từng vùng , tiểu vùng. Quá trình sản xuất nông nghiệp mang

11


tính thời vụ cao, cho nên có thời kỳ cần ít lao động song có những thời kỳ lại
cần rất nhiều lao động. Do đó khả năng thu hút lao động trong nông nghiệp,
nông thôn là không đều và khác nhau trong từng giai đoạn sản xuất. Đối với
ngành trồng trọt thì việc làm chỉ chủ yếu vào thời điểm gieo trồng và thu
hoạch, thời gian còn lại là rỗi rãi, đó là thời kỳ nông nhàn trong nông thôn.
Thời kỳ nông nhàn một bộ phận lao động trong nông thôn thường chuyển
sang làm các công việc phi nông nghiệp hoặc sang các địa phương khác hành
nghề để tăng thu nhập. Tình trạng thời gian nông nhàn và thu nhập thấp trong
sản xuất nông nghiệp là nguyên nhân đầu tiên gây lên hiện tượng di chuyển
lao động nông thôn từ vùng này sang vùng khác, từ nông thôn ra thành thị.
Lao động trong nông thôn có việc làm không ổn định và rất đa dạng:
Hoạt động nông nghiệp diễn ra trong phạm vi không gian rộng lớn và luôn
phụ thuộc vào các yếu tố về điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng và các dịch vụ
sản xuất. Bởi vậy, rủi ro có thể xảy ra với họ bất cứ lúc nào. Do đó, công việc
của người lao động không ổn định và rất bấp bênh, có lúc thừa việc song có
lúc thiếu vệc làm.
Việc làm trong nông nghiệp nông thôn thường là những công việc giản

người, là nguồn tài nguyên không tái tạo được trong nhóm tài nguyên hạn chế
của mỗi quốc gia. Đất đai là địa bàn phát triển dân sinh, kinh tế - xã hội và
quốc phòng an ninh, là tư liệu sản xuất chủ yếu trong lao động nói chung và
trong sản xuất nông nghiệp nói riêng. Hơn nữa, trong NN đất đai là tư liệu sản
xuất đặc biệt và không thể thay thế. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt vì nó
vừa là đối tượng sản xuất vừa là công cụ sản xuất. Thông qua đất đai con
người có thể tạo ra của cải vật chất, do đó nó được coi là công cụ sản xuất.
Con người cùng với các công cụ lao động khác tác động vào đất nhằm làm ra
các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của mình, do đó nó được coi là đối tượng sản
xuất. Nhận thấy tầm quan trọng đó Mác đã khái quát rằng: “Đất là cha, sức
lao động là mẹ sản sinh ra mọi của cải vật chất”.

13


2.1.4 Thu hồi đất và quá trình phát triển kinh tế xã hội
Đất nước ta đang trong thời kì đổi mới, hội nhập vào nền kinh tế thế
giới, cho nên nền kinh tế nước ta cũng cần có sự chuyển biến cho phù hợp với
xu thế phát triển chung của toàn cầu. Đó là tăng tỉ trọng ngành công nghiệp,
dịch vụ, giảm dần tỉ trọng của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân.
Với yêu cầu đó thì CNH - HĐH là một xu hướng tất yếu của mọi quốc gia. Ở
Việt Nam, với chủ trương đến năm 2020 trở thành một nước công nghiệp phát
triển theo hướng hiện đại. Để công nghiệp hóa thì chúng ta buộc phải công
nghiệp và đô thị hóa. Do vậy phải lấy một phần quỹ đất từ nguồn đất nông
nghiệp. Việc thu hồi đất phục vụ cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước cũng
đóng một vai trò hết sức to lớn. Nó không chỉ tác động tích cực đến chỗ ở,
đến việc làm của người nông dân mà còn tác động rất lớn và sâu sắc đến thu
nhập cũng như đời sống vật chất và tinh thần của gia đình họ.
Thứ nhất, CNH - ĐTH sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của địa phương,
tạo nguồn thu nhập đáng kể cho người lao động. Sau khi thu hồi đất nông

việc phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương. Không chỉ thúc đẩy kinh
tế phát triển theo hướng công nghiệp mà nó còn là nhân tố tích cực tác động
tới các vấn đề xã hội như y tế, giáo dục... Vấn đề đặt ra là chúng ta cần đưa ra
những quy hoạch và kế hoạch cụ thể để quá trình này diễn ra theo đúng
hướng của nó và thể hiện rõ hơn vai trò của mình trong phát triển kinh tế - xã
hội của vùng, địa phương có đất bị thu hồi.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình chuyển đổi đất nông nghiệp ở một số nước
* Nhật Bản:
Việc chuyển đổi đất từ nông nghiệp sang xây dựng KCN của Nhật Bản
diễn ra mạnh mẽ sau năm 1945, khi mà chính phủ Nhật chủ trương CNH
nông thôn. Bên cạnh những khoản đền bù cho nông dân có ruộng rơi vào khu
chuyển đổi, chính phủ còn đẩy mạnh CN nông thôn bằng cách khuyến khích
phát triển xí nghiệp quy mô vừa và nhỏ cùng với những cơ sở CN gia đình. Ở
những xí nghiệp này nông dân không cần đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao chỉ cần

15


đào tạo trong một thời gian ngắn là đủ đảm nhận công việc. Ngoài ra ngành
nghề TTCN cũng được khuyến khích phát triển. Năm 70, Nhật Bản có phong
trào “ mỗi làng một sản phẩm”, nhằm khai thác ngành nghề truyền thống
nông thôn và đã đạt được nhiều thành tựu. Từ đó nâng cao thu nhập cho
người dân, giải quyết lao động dư thừa, hạn chế tệ nạn xã hội…góp phần làm
thay đổi bộ mặt của nông thôn Nhật Bản. (Nguyễn Thị Kim Phượng, 2008)
* Thái Lan:
Thái Lan là một nước ở Đông Nam Á có nhiều điều kiện thuận lợi để
phát triển nông nghiệp: điều kiện tự nhiên, diện tích canh tác bình quân đầu
người cao. Những năm 50, 60, Thái Lan thực hiện CNH tập trung vào đô thị
nhưng không hiệu quả, nông nghiệp bị trì trệ. Sau đó Thái Lan đã kịp thời

quan trọng. Có xã diện tích đất bị thu hồi chiếm tới 70- 80% diện tích đất
canh tác. Các tỉnh không nằm trong những vùng trọng điểm về phát triển kinh
tế thì diện tích đất bị thu hồi còn tương đối nhỏ.
Đời sống, lao động và việc làm của các hộ nông dân bị thu hồi đất:
Đồng bằng sông Hồng có số hộ bị ảnh hưởng do thu hồi đất lớn nhất:
khoảng 300 nghìn hộ; Đông Nam Bộ: khoảng 108 nghìn hộ. Số hộ bị thu hồi
đất ở các vùng khác thấp hơn: Tây Nguyên chỉ có trên 138.291 hộ, Thành phố
Hồ Chí Minh: 52.094 hộ...
Năm 1996, cơ cấu lao động nông thôn phân theo ngành như sau: trong
nông, lâm, ngư 82,3%; công nghiệp, xây dựng 6,8%; dịch vụ 10,9%. Năm
2000 thì cơ cấu thay đổi là 79%, 8%, 13% và đến năm 2007 là 68%, 5%,
17%, tức là bình quân mỗi năm lao động nông nghiệp chỉ giảm được trên 1%.
(Huyền Ngân, 2009)
Nhà nước ta cũng đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách giúp thực
hiện quá trình thu hồi đất và giải quyết việc làm cho các hộ gia đình bị thu hồi
đất như: Luật Đất đai năm 2003, Nghị định số 197/2004/NĐ-CP về bồi
dưỡng, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị quyết số
01/2004/NQ-CP của Chính phủ về một số giải pháp chủ yếu tập trung chỉ đạo,
điều hành thực hiện ngân sách nhà nước năm 2004...
Những quy định về giá đất bồi thường, hỗ trợ giải quyết việc làm, đào
tạo chuyển đổi nghề, hỗ trợ tái định cư... đã được tích cực triển khai tới từng
hộ dân bị thu hồi đất nông nghiệp, đất ở. Việc thu hồi đất sản xuất nông
nghiệp để chuyển đổi mục đích sử dụng sang đất chuyên dùng đã tạo điều

19


kiện thuận lợi cho các địa phương phát triển công nghiệp, dịch vụ cũng như
xây dựng các khu đô thị mới cho người dân địa phương; tạo điều kiện thuận
lợi thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Một số địa phương chạy theo phong trào phát triển các khu công
nghiệp, khu đô thị mà chưa cân nhắc đến hiệu quả, hoặc phát triển công
nghiệp, dịch vụ bằng mọi cách mà chưa chú ý đúng mức đến tác động đối với
người dân.
Hiện tượng quy hoạch treo, quy hoạch các khu đô thị, khu công nghiệp
tràn lan là khá phổ biến. Quá trình quy hoạch chuyển đổi mục đích sử dụng
cũng như thẩm định các phương án sử dụng đất và xây dựng phương án bồi
thường chưa thực sự khoa học, thiếu sự tham gia đầy đủ của các ngành, các tổ
chức có liên quan hoặc đại diện cho quyền lợi của người dân. Điều này đã gây
ra sự lãng phí về quỹ đất sản xuất, làm cản trở quá trình phát triển kinh tế của
các địa phương.
Thời gian triển khai công tác thu hồi đất kéo dài nhiều năm gây bất lợi
đến tâm lý cũng như việc ổn định đời sống và việc làm của các hộ dân nằm
trong diện bị thu hồi đất. Các yếu tố trượt giá hầu như chưa được tính đến
trong định giá đền bù cho người dân.
Công tác tuyển dụng lao động tại các địa phương có đất bị thu hồi chưa
thực sự hiệu quả. Do vậy, lao động nông nghiệp nhìn chung không đáp ứng
được yêu cầu của doanh nghiệp. Hầu hết các lao động nông nghiệp vẫn giữ
nguyên nghề cũ sau khi đất sản xuất bị thu hồi, chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ
chuyển sang nghề mới và tìm được việc làm ổn định. Theo thống kê có tới
67% số lao động nông nghiệp bị thu hồi đất vẫn giữ nguyên nghề sản xuất
nông nghiệp, 13% chuyển sang nghề mới và khoảng 20% không có việc làm
hoặc có việc làm nhưng không ổn định. Đối với các lao động thuộc ngành phi
nông nghiệp, lao động làm thuê và công nhân thì cơ hội chuyển sang nghề
mới lớn hơn nhiều. Việc làm và thu nhập của các hộ sống chủ yếu dựa vào
sản xuất nông nghiệp (chiếm tới 60%) là đối tượng bị tác động lớn nhất sau
khi thu hồi đất và gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm mới. Có tới

21


thủ đô Hà Nội 28 km về phía tây, cách Hải Dương 28 km về phía đông, cách
thị xã Hưng Yên 34 km về phía nam. Vị trí địa lý của xã Dương Quang đã tạo
nhiều thuận lợi về giao lưu kinh tế - văn hóa, xã hội với các huyện trong tỉnh
và các tỉnh, thành phố trong cả nước. Có nhiều cơ hội để thu hút vốn đầu tư
của các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Đặc điểm địa hình: Xã nằm về phía bắc tỉnh Hưng Yên, địa hình tương
đối bằng phẳng, đất đai xu thế thoải dần từ tây bắc xuống đông nam, thuận lợi
trong việc cơ giới hóa, thuỷ lợi hóa phát triển nông nghiệp.
3.1.1.2 Đặc điểm thời tiết, khí hậu và thuỷ văn
Nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, Dương Quang chịu ảnh hưởng của
khí hậu nhiệt đới gió mùa. Thời tiết được chia thành hai mua rõ rệt, mùa hè
nóng ẩm, mưa nhiều và mùa đông hanh. Nhiệt độ trung bình là 23,2 oC, lượng
mưa trung bình hàng năm từ 1.500 - 1.600mm. Độ ẩm không khí trung bình là
85%.
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
3.1.2.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai
Xã Dương Quang với tổng diện tích đất tự nhiên là 774,71 ha được sử dụng
vào ba mục đích khác nhau là: đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử
dụng.

23


Bảng 3.1: Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của xã qua 3 năm
Đơn vị tính: Ha
2007
Chỉ tiêu
Tổng diện tích đất tự nhiên
I. Đất nông nghiệp
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp

(ha)

774,71
493,31
449,81
448,13
441,53
6,60
1,68
43,50
274,42
78,45
140,99
1,56
4,25
49,17
6,98

100
63,68
58,06
57,84
56,99
0,85
0,22
5,61
35,42
10,12
18,20
0,20

18,42
0,20
0,55
6,35
00,90

774,71
464,40
420,90
419,22
412,62
6,60
1,68
43,50
303,33
78,59
169,76
1,56
4,25
49,17
6,98

24

So sánh (%)
CC
(%)

08/07


100
100
5,61
100
100
100
39,15
101,14
121,94
111,05
10,14
100,15
100,03
100,09
21,92
101,20
118,98
109,73
0,20
100
100
100
0,55
100
100
100
6,35
100
100
100

2009 tăng lên 167,76 ha. Mức độ tăng bình quân 3 năm là 9,73%. Đất chưa sử
dụng của xã qua 3 năm không có sự thay đổi với diện tích là 6,98 ha chiếm
0,90% tổng diện tích đất tự nhiên.
Nhìn chung sự chuyển dịch cơ cấu đất đai là phù hợp với sự phát triển
kinh tế của vùng nói riêng và phát triển kinh tế đất nước nói chung. Song do

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status