Phát triển các cụm liên kết công nghiệp dệt may ở vùng kinh tế trọng điểm bắc bộ (TT) - Pdf 35

MỞ ĐẦU

- Phân tích thực trạng hình thành, phát triển CLKCN dệt may trong VKTTĐBB; xác định
điều kiện tiền đề thuận lợi và khó khăn cản trở với hình thành, phát triển CLKCN dệt may trong
vùng kinh tế này.

Việc tập trung các doanh nghiệp (DN) có quan hệ với nhau về mặt kinh tế - kỹ thuật
trong một khu vực lãnh thổ nhất định và hình thành các cụm liên kết công nghiệp (CLKCN Industrial Cluster) là một xu hướng khách quan của phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại.

- Đề xuất phương hướng và giải pháp thúc đẩy hình thành, phát triển CLKCN dệt may
trong VKTTĐBB.

1. Tính cấp thiết của đề tài

Công nghiệp dệt may giữ vị trí trọng yếu trong nền kinh tế nước ta. Tuy không phải là
ngành có mối liên hệ sản xuất phức tạp, nhưng tính chuyên môn hóa sản xuất của các DN trong
ngành dệt may thể hiện khá rõ nét. Việc hình thành, phát triển CLKCN dệt may sẽ tạo điều kiện
kết nối chuỗi sản xuất hữu hiệu hơn, tạo điều kiện tăng năng suất và khả năng cạnh tranh của
sản phẩm dệt may. Do được bố trí trong một khu vực lãnh thổ nhất định dưới hình thức
CLKCN, các DN sản xuất sản phẩm và sản xuất nguyên, phụ liệu sẽ có điều kiện giảm thiểu chi
phí giao dịch và chi phí vận chuyển, chia xẻ thông tin thị trường.
Nhận thức rõ vai trò của CLKCN trong phát triển công nghiệp dệt may, Nhà nước đã đề
ra chủ trương phát triển các CLKCN dệt may ở các địa phương khác nhau. Chiến lược phát
triển ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 đã xác
định nhiệm vụ: “Xây dựng các khu, cụm công nghiệp chuyên ngành dệt may có cơ sở hạ tầng
đủ điều kiện cung cấp điện, nước, xử lý nước thải đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường theo quy
định của Nhà nước. Thực hiện di dời và xây dựng mới các cơ sở dệt nhuộm tại các khu, cụm
công nghiệp tập trung để có điều kiện xử lý nước thải và giải quyết tốt việc ô nhiễm môi
trường…”. Theo chủ trương này, Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ (VKTTĐBB) là vùng có khả
năng hình thành một số CLKCN dệt may. Tuy nhiên đến nay, do những vướng mắc về nhận
thức, về cơ chế chính sách và về tổ chức thực hiện, các CLKCN dệt may ở vùng này vẫn chưa

- Phạm vi không gian nghiên cứu: Các DN dệt may và các tổ chức liên quan trong phạm
vi VKTTĐBB.
- Phạm vi về thời gian: Các số liệu thứ cấp thu thập chủ yếu trong giai đoạn 2011 – 2014;
các tư liệu sơ cấp thu thập từ điều tra phỏng vấn sâu một số cán bộ lãnh đạo DN và chuyên gia
được thực hiện trong năm 2014.
4. Phương pháp nghiên cứu
Cách tiếp cận nghiên cứu
Phù hợp với tính chất của chuyên ngành Quản trị kinh doanh, tác giả lựa chọn cách tiếp
cận nghiên cứu hình thành, phát triển CLKCN dệt may trong VKTTĐBB trên góc độ DN và
quan hệ liên kết giữa các DN. Nghĩa là, nghiên cứu sự hình thành, phát triển CLKCN dệt may
trong vùng này thông qua việc nghiên cứu quá trình tích tụ, tập trung hóa sản xuất của các DN
trong vùng lãnh thổ để tổ chức có hiệu quả các quan hệ liên kết trong chuỗi giá trị sản phẩm dệt
may. Việc nghiên cứu các nội dung liên quan đến các cơ quan quản lý nhà nước nhằm làm rõ vai
trò và trách nhiệm trong việc bảo đảm điều kiện cho sự phát triển quan hệ liên kết giữa các DN
trong CLKCN dệt may phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu
Luận án sử dụng kết hợp phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và sơ cấp, phương pháp
nghiên cứu tại bàn, điều tra khảo sát với thu thập dữ liệu là phỏng vấn cán bộ lãnh đạo DN và
chuyên gia.
Nguồn tư liệu thứ cấp thu thập từ Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê, Niên giám
thống kê của các tỉnh/thành trong VKTTĐBB, Báo cáo của một số DN dệt may trong vùng, các
website của Tập đoàn dệt may Việt Nam (VINATEX), Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS),
Viện nghiên cứu Dệt may và một số tổng công ty, công ty dệt may.

2


Nguồn tư liệu sơ cấp thu thập từ điều tra, phỏng vấn sâu 5 cán bộ cơ quan quản lý nhà
nước, 15 cán bộ lãnh đạo các DN dệt may trong vùng và tìm hiểu thực trạng phát triển của Cụm
liên kết xuất khẩu lụa Hà Đông và Khu Công nghiệp Dệt may Phố nối B. Nội dung điều tra

VKTTĐBB:
- Điều kiện thuận lợi;
- Khó khăn cản trở.

Quy trình nghiên cứu

Nghiên cứu thực tiễn

Phân tích, đánh giá thực
trạng phát triển CLKCN
dệt may tại VKTTĐBB

Dựa trên khung lý luận về tích tụ, tập trung hóa các DN theo lãnh thổ và quan hệ liên kết
theo chiều dọc, theo chiều ngang giữa các khâu trong chuỗi giá trị sản phẩm, luận án đã làm rõ
bản chất, các đặc trưng cơ bản và vai trò của CLKCN với sự phát triển có hiệu quả và bền vững
các DN trong chuỗi giá trị sản phẩm. Luận án cũng chỉ rõ 5 nhân tố cơ bản có tác động trực tiếp
tới sự hình thành, phát triển CLKCN: trình độ tích tụ, tập trung hóa các DN theo lãnh thổ; đặc
trưng chuỗi giá trị sản phẩm và quan hệ liên kết giữa các DN trong chuỗi giá trị sản phẩm; sự
phát triển CNHT; trình độ phát triển cơ sở hạ tầng; cơ chế chính sách có liên quan của Nhà nước.
Vận dụng những vấn đề lý thuyết cơ bản về CLKCN phù hợp với đặc điểm của ngành
công nghiệp dệt may, từ phân tích những nét khái quát thực trạng phát triển công nghiệp dệt
may trong VKTTĐBB, luận án đã đi sâu phân tích thực trạng trình độ tích tụ, tập trung hóa sản
xuất các DN dệt may trong vùng, thực trạng các quan hệ liên kết theo chiều dọc và theo chiều
ngang giữa các DN, các tổ chức hữu quan trong vùng theo chuỗi giá trị sản phẩm dệt may. Từ
đó, luận án đã đánh giá rõ nhu cầu, điều kiện tiền đề thuận lợi và khó khăn cản trở trong phát
triển CLKCN dệt may trong VKTTĐBB.

Bản chất, đặc trưng
CLKCN dệt may


khó khăn với hình thành, phát triển CLKCN
dệt may tại VKTTĐBB
VKTTĐBB

Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan.
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tế về phát triển cụm liên kết công nghiệp.
Chương 3: Thực trạng hình thành và phát triển các cụm liên kết công nghiệp dệt may
trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ.
Chương 4: Phương hướng và giải pháp hình thành, phát triển cụm liên kết công nghiệp
dệt may trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ.

Đề xuất phương hướng và giải pháp phát
triển CLKCN dệt may tại VKTTĐBB
3

4


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
1.1.

Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

1.2.

Các công trình nghiên cứu trong nước

1.3.

Các kết luận rút ra từ tổng quan các công trình liên quan đến đề tài

thành, phát triển CLKCN.
- Các công trình trong nước đã chú trọng giới thiệu kinh nghiệm nước ngoài về hình
thành, phát triển CLKCN ở những ngành khác nhau. Từ giới thiệu kinh nghiệm nước ngoài, các
nghiên cứu ây đã đưa ra được một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo với Việt Nam.
Các bài học kinh nghiệm rút ra đều chú trọng xem xét vai trò của Chính phủ trung ương và
chính quyền địa phương trong việc hoạch định chiến lược, quy hoạch phát triển CLKCN, các
chính sách hỗ trợ thúc đẩy hình thành, phát triển CLKCN ở các ngành và các vùng khác nhau.
Những điểm tương đồng về CLKCN trên đây là cơ sở để NCS có thể kế thừa và phát
triển trong luận án của mình trong việc nghiên cứu làm rõ các vấn đề lý thuyết về CLKCN.
Đồng thời, đó cũng là cơ sở để vận dụng trong nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển
CLKCN phù hợp với đặc điểm ngành công nghiệp dệt may và đặc điểm của VKTTĐBB.
Khoảng trống nghiên cứu và hướng nghiên cứu của đề tài
5

- Đã có một số nghiên cứu trực tiếp về hình thành, phát triển CLKCN dệt may ở Việt
Nam. Nhưng các nghiên cứu này mới chỉ nêu ra những ý tưởng chung về sự cần thiết, vai trò
của CLKCN dệt may trong việc nâng cao hiệu quả, năng lực cạnh tranh của mỗi DN và của
ngành công nghiệp dệt may. Các nghiên cứu ấy chưa đi sâu làm rõ đặc điểm ngành công nghiệp
dệt may ảnh hưởng đến hình thành, phát triển CLKCN, chưa đánh giá cụ thể điều kiện tiền đề,
khó khăn cản trở việc hình thành, phát triển CLKCN dệt may, cũng chưa nêu rõ phương hướng
và giải pháp thiết thực để hình thành và phát triển CLKCN dệt may trong những vùng cụ thể.
- Chưa có công trình nghiên cứu về phát triển CLKCN dệt may trong VKTTĐBB. Nghĩa
là, chưa có nghiên cứu nào làm rõ sự cần thiết, những điều kiện thuận lợi, những khó khăn của
vùng và của các DN dệt may trong vùng với việc hình thành, phát triển CLKCN dệt may. Từ
đó, chưa có công trình nào nghiên cứu làm rõ luận cứ khoa học xác định phương hường và các
giải pháp thúc đẩu hình thành, phát triển CLKCN dệt may trong VKTTĐBB.
Từ những kết luận trên đây có thể thấy, việc nghiên cứu đề tài Phát triển các cụm liên kết
công nghiệp dệt may trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ là cần thiết, có ý nghĩa lý luận, thực
tiễn thiết thực và hoàn toàn không trùng với các nghiên cứu đã công bố ở Việt Nam.
Với đề tài này, tác giả thực hiện các định hướng nghiên cứu chủ yếu sau đây:

nguồn; nhà sản xuất sản phẩm bổ trợ, nhà cung cấp hạ tầng chuyên dụng, chính quyền và các tổ
chức cung cấp hoạt động đào tạo chuyên môn, giáo dục, thông tin, nghiên cứu và hỗ trợ kỹ
thuật. Ngoài ra, có thể xem một phần của CLKCN là các cơ quan nhà nước có ảnh hưởng lớn.
Cuối cùng, nhiều CLKCN còn bao gồm các hiệp hội thương mại và những tổ chức tập thể khác
của khu vực tư nhân để hỗ trợ cho các thành viên trong CLKCN”.
2.1.2. Các đặc trưng cơ bản của cụm liên kết công nghiệp

LQLD >1: khu vực có mức độ tập trung lao động cao hơn so với bình quân quốc gia, nghĩa
là khu vực có khả năng phát triển cụm ngành công nghiệp I và ngược lại.
Bên cạnh LQLD, người ta còn tính LQ theo giá trị sản xuất (LQGTSX). Công thức cụ thể là:

Trong đó: oi là GTSXCN của ngành công nghiệp i tại khu vực; o là GTSXCN của toàn
ngành công nghiệp tại khu vực; Oi là GTSXCN của ngành công nghiệp i trong cả nước; O là
GTSXCN của toàn ngành công nghiệp trong cả nước; LQGTSX là mức độ tương đồng khu vực
về GTSXCN.
LQGTSX >1: khu vực có GTSXCN của ngành công nghiệp i cao hơn so với bình quân quốc
gia, nghĩa là trong vùng có khả năng lớn để phát triển CLKCN và ngược lại.
2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển cụm liên kết công nghiệp

- Sự tích tụ (agglomeration) các doanh nghiệp công nghiệp và các tổ chức liên quan trong
một khu vực lãnh thổ nhất định.
- Các doanh nghiệp công nghiệp và các tổ chức thành viên của CLKCN có quan hệ với
nhau với những nội dung và mức độ khác nhau.

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành, phát triển CLKCN thực chất là
nghiên cứu xác định các yếu tố thúc đẩy và các yếu tố cản trở việc hình thành, phát triển hình
thức tổ chức sản xuất theo lãnh thổ này. Với cách đặt vấn đề như vậy, NCS đã xác định có 5
nhóm nhân tố sau đây có tác động đến sự hình thành và phát triển CLKCN.
2.2.1. Tính phức tạp của chuỗi giá trị sản phẩm công nghiệp


sản xuất toàn cầu.
Việc phát triển CNHT trong vùng sẽ tạo cơ sở phát triển quan hệ liên kết giữa các DN.
Ngược lại, sự phát triển CLKCN là yếu tố thuận lợi thúc đẩy phát triển CNHT do sự thuận lợi
trong việc liên kết giữa khu vực thượng nguồn với khu vực hạ nguồn trong vùng lãnh thổ.
2.2.3. Trình độ tích tụ sản xuất công nghiệp theo lãnh thổ

Trong đó: ei là số lao động trong ngành công nghiệp i tại khu vực; e là số lao động trong
tất cả các ngành công nghiệp tại khu vực; Ei là số lao động trong ngành công nghiệp i trong cả
nước; E là số lao động trong tất cả các ngành công nghiệp trong cả nước; LQLD là mức độ
tương đồng khu vực về lao động.

Tích tụ (agglomeration) là quá trình tập trung một số hoạt động sản xuất vào một khu vực
địa lý nhất định. Thuyết địa lý mới của P. Krugman được coi là cơ sở lý thuyết giải thích sự
phân bố của các hoạt động công nghiệp, trong đó yếu tố chi phí vận chuyển và lợi ích kinh tế
theo quy mô đóng vai trò quan trọng. Việc tổ chức sản xuất hợp lý, tăng sản lượng đến mức tối
ưu,…giúp DN giảm giá thành, cải thiện chất lượng và nâng cao năng lực cạnh tranh. Sự tác

7

8


động này gọi là lợi ích kinh tế nội tại theo quy mô (Internal Economies of Scale). Đồng thời, sự
phát triển của các lĩnh vực hoạt động bên ngoài có liên quan tác động đến DN và giúp DN hoạt
động thuận lợi và đạt hiệu quả cao. Sự tác động này được gọi là lợi ích kinh tế ngoại vi của quy
mô (External Economies of Scale).
Việc tập trung một số DN, trong đó có DN đầu đàn, trong một khu vực địa lý nhất định
sẽ tạo nên sự hấp dẫn các DN và các tổ chức hữu quan đầu tư vào khu vực này do những lợi ích
từ việc giảm chi phí vận chuyển, thuận tiện trong việc bảo đảm các yếu tố đầu vào…Điều đó sẽ
thúc đẩy sự hình thành và phát triển CLKCN.

Bảng 3.1 Các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ
Chỉ tiêu
Đơn vị
Diện tích
Km2
Dân số
1000 người
Mật độ
Người/km2
Giá trị GDP
Theo thành phần kinh tế
- Nhà nước
- Ngoài Nhà nước
- Khu vực có vốn đầu tư
Tỷ đồng
trực tiếp nước ngoài
Theo ngành
- Nông, lâm, ngư nghiệp
- Công nghiệp-xây dựng
- Dịch vụ
Cơ cấu ngành kinh tế
- Nông, lâm, ngư nghiệp
%
- Công nghiệp-xây dựng
- Dịch vụ
GDP/người/năm
Triệu VND
Giá trị xuất, nhập khẩu
Triệu USD


83.843

120.265

142.009

188.242

35.850
201.436
191.535
100,00
8,15
45,80
46,05
30,33
16.885,43

46.321
276.283
248.069
100,00
7,92
47,23
44,85
39,77
25.056,50

50.259
318.648


Thứ ba, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của chính quyền địa phương và các quan hệ
liên kết vùng trong phát triển CLKCN và kết nối giữa các CLKCN.

Hà Nội

Thứ tư, chính sách phát triển CLKCN có quan hệ hữu cơ với chính sách phát triển công
nghiệp hỗ trợ. Đó là một trong các giải pháp hữu hiệu để phát triển công nghiệp hỗ trợ.

Bắc Ninh
Vĩnh Phúc

9

2011
15.599
14.501
929
439.799

Doanh nghiệp

2011

2012

2013

2014


Sản xuất trang phục

33

54

52

49

Dệt

21

27

25

28

Sản xuất trang phục

12

22

26

27
10


112

115

128

Dệt

18

25

28

32

Sản xuất trang phục

61

90

99

107

Dệt

7


Sản xuất trang phục

72

86

87

89

Dệt

376

445

498

527

Sản xuất trang phục

690

912

955

1.044


2013
230.020
30.918
199.102

2014
257.924
37.771
220.153

Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám thống kê
Công nghiệp dệt may được xác định là một trong những ngành công nghiệp trọng điểm
của vùng với mức đóng góp khá cao trong tổng GDP của vùng. Năm 2011, tổng GTSX của
công nghiệp dệt may đạt 33.683 tỷ VND, trong đó GTSX của dệt đạt 16.446 tỷ VND, của may
đạt 17.237 tỷ VND; năm 2014, GTSX của dệt may đạt 56.150 tỷ VND, tăng 1,67 lần, trong đó
của dệt đạt 23.243 tỷ VND, tăng 1,41 lần, của may đạt 32.907 tỷ VND, tăng 1,91 lần.
Sản phẩm của công nghiệp dệt may là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của
vùng. Hiện nay, mặt hàng này đứng hàng thứ hai về giá trị xuất khẩu, sau mặt hàng điện thoại.
Bảng 3.5 Tình hình xuất khẩu hàng dệt may trong Vùng (triệu USD; %)
Chỉ tiêu
Tổng giá trị xuất khẩu của vùng (triệu USD)
Giá trị xuất khẩu dệt may (triệu USD)
Tỷ trọng giá trị xuất khẩu dệt may (%)

2011
16.885
2.533
15,01


3
4
5
6
7

Tỉnh
Bắc Ninh
Hà Nội
Hải Dương
Hải Phòng
Hưng Yên
Quảng Ninh
Vĩnh Phúc

LQLĐ
0,59
0,73
1,65
1,79
0,05
0,85

Nguồn: Tính toán dựa trên số liệu từ Niên giám thống kê của các tỉnh, thành phố.
Chỉ tiêu LQGTSX: Dựa vào những căn cứ tương tự như tính toán chỉ tiêu LQLĐ, kết quả tính
toán chỉ tiêu LQGTSX cho công nghiệp dệt may của các tỉnh, thành phố trong VKTTĐBB thể
hiện trong bảng 3.7.
Bảng 3.7. Chỉ số LQGTSX của các tỉnh, thành phố trong vùng năm 2012
TT
1

12


hai tỉnh này trong thời gian trước mắt. So với Hà Nội, số lượng các DN dệt may của hai tỉnh
này hiện thấp hơn, nhưng lại có điều kiện thuận lợi hơn về khả năng bảo đảm mặt bằng sản xuất
và khoảng cách tới Cảng Hải Phòng – cửa ngõ xuất khẩu hàng hóa của các tỉnh Bắc bộ. Hơn
nữa, trong tương lai, Hà Nội có chủ trương tập trung vào phát triển các ngành công nghệ cao và
dịch chuyển các DN dệt may sang các tỉnh lân cận. Điều đó sẽ dẫn đến trong tương lai ngành
dệt may ở hai tỉnh này sẽ được phát triển mạnh mẽ hơn.

Biểu đồ 3.4: Tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may và kim ngạch nhập khẩu vải trong Vùng
Kinh tế trọng điểm Bắc bộ (Tỷ USD).

Có thể đưa ra nhận định rằng hình thành CLKCN dệt may trong VKTTĐBB đã có tiền đề
thuận lợi từ quá trình tích tụ, tập trung sản xuất ngày càng mạnh mẽ. Tuy nhiên, sự gia tăng
mức độ tích tụ, tập trung sản xuất dệt may và các hoạt động liên quan mới chỉ là điều kiện tiền
đề cần có. Điều quan trọng hơn là phải tổ chức được mối quan hệ hợp tác, liên kết giữa các DN
dệt may và có tổ chức liên quan đó.
3.2.2.2. Mối quan hệ liên kết các doanh nghiệp dệt may trong Vùng Kinh tế trọng điểm
Bắc Bộ
Trong VKTTĐBB có đầy đủ các DN công nghiệp và các chủ thể thực hiện các khâu khác
nhau của chuỗi giá trị dệt may. Luận án đã trình bày khái quát mức độ liên kết với các chủ thể
khác trong chuỗi giá trị dệt may.
(1) Khâu thiết kế sản phẩm và công nghệ sản xuất sản phẩm và đào tạo nhân lực.
Thiết kế sản phẩm và công nghệ sản xuất sản phẩm là khâu khởi đầu và cũng là khâu có
vị trí trọng yếu trong chuỗi giá trị dệt may. Nhiệm vụ của khâu này là thiết kế kiểu cách, mẫu
mã sản phẩm mới và nguyên liệu mới đáp ứng sự thay đổi thị hiếu của các loại khách hàng khác
nhau ở những thị trường khác nhau. Trong thực tế, năng lực của Viện Dệt may (trực thuộc
VINATEX) và các DN may lớn còn thấp kém, chưa thực hiện được nhiệm vụ thiết kế sản phẩm
và công nghệ sản xuất. Hơn nữa, do chủ yếu thực hiện phương thức gia công xuất khẩu (CMT

nhau để giành đơn hàng từ nước ngoài. Việc thiết lập quan hệ liên kết theo chiều dọc với các
DN sản xuất nguyên phụ liệu) cũng hết sức hạn chế do được các hãng nước ngoài đặt hàng
cung cấp, hoặc phải mua theo chỉ định của hãng nước ngoài.
(4) Khâu thương mại hóa sản phẩm
Trong những năm gần đây, DN dệt may đã chú trọng hơn đến thị trường nội địa. Việc
tiêu thụ sản phẩm của các DN được thực hiện theo 2 kênh chủ yếu: 1/ Bán hàng trực tiếp cho
người tiêu dùng bằng việc tổ chức các cửa hàng giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm tại DN và tại
các đô thị lớn; 2/ Bán hàng gián tiếp cho người tiêu dùng bằng việc tổ chức mạng lưới đại lý và
liên kết với các siêu thị, trung tâm thương mại. Trong thời gian qua, Tổng công ty May 10,
Tổng công ty Đức Giang, Công ty cổ phần May Đáp Cầu…là những đơn vị đạt được nhiều kết
quả tích cực trong việc tiêu thụ sản phẩm trên thị trường nội địa.
Thị trường xuất khẩu của các DN dệt may trong vùng chủ yếu là EU, Mỹ và Nhật Bản.
Tuy nhiên, tình trạng chung của các DN may trong vùng vẫn chủ yếu thực hiện xuất khẩu theo
phương thức CMT và đang dần chuyển sang thực hiện phương thức FOB cấp 1 và FOB cấp 2.
Do những hạn chế về khả năng marketing quốc tế, chưa tạo dựng được thương hiệu
mạnh,…nên tỷ lệ xuất khẩu hàng may mặc bằng phương thức ODM còn thấp hơn so với các
DN may mặc ở Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam.
Như vậy, trong khâu thương mại hóa sản phẩm trên thị trường nội địa, mối quan hệ liên
kết giữa các DN may mặc với các tổ chức thương mại trong nước còn yếu; còn trên thị trường
quốc tế, các DN này hầu như chưa thiết lập được quan hệ liên kết với các hãng phân phối lớn.
14


Các nội dung phân tích trên đây về quan hệ liên kết giữa các DN và các tổ chức hữu quan
trong việc thực hiện các khâu khác nhau của chuỗi giá trị công nghiệp dệt may tại VKTTĐBB
được tổng hợp trong sơ đồ 3.6.
Theo sơ đồ, các DN dệt may và các tổ chức hữu quan trong VKTTĐBB có khả năng lớn
để thiết lập quan hệ liên kết trong chuỗi giá trị sản phẩm. Tuy nhiên, do năng lực của các chủ
thể trong chuỗi giá trị không đồng nhất như nhau và chủ yếu thực hiện phương thức gia công,
nên mức độ liên kết giữa các khâu cũng không đồng nhất như nhau.

- Áo jacket
- Veston
- Quần áo dệt
kim…

Khâu thương
mại hóa sản
phẩm
------------------ Thị trường nội
địa (trực tiếp,
gián tiếp)
- Thị trường
xuất khẩu
(CMT, FOB,
ODM, OBM)

Đó là: các đơn vị thiết kế sản phẩm và công nghệ sản xuất; các đơn vị sản xuất nguyên
phụ liệu (sợi, dệt, khóa, chỉ, mex, bao bì…), các đơn vị may mặc, các đơn vị nghiên cứu khoa
học và đào tạo nguồn nhân lực chuyên ngành. Trong hệ thống này, các đơn vị thực hiện khâu
cắt may có năng lực mạnh nhất, các đơn vị thiết kế sản phẩm và công nghệ có năng lực yếu
nhất. Hơn nữa, trình độ tích tụ các đơn vị trong vùng đạt mức khá cao, đặc biệt là ở Hà Nội, Hải
Dương và Hưng Yên.
Đây là những điều kiện tiền đề thuận lợi để hình thành CLKCN dệt may, thúc đẩy phát
triển các quan hệ liên kết theo chiều dọc và theo chiều ngang giữa các chủ thể kinh tế này.
Thứ ba, VKTTĐBB có hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ và đang được phát triển theo
hướng hiện đại.
Tuy còn thấp so với yêu cầu phát triển, hệ thống cơ sở hạ tầng trong VKTTĐBB được
đánh giá là phát triển hơn so với các vùng kinh tế khác. Trong vùng có hệ thống giao thông
đường bộ, đường sắt, cảng biển nước sâu, cảng hàng không quốc tế đang được cải tạo, nâng cấp
và xây dựng mới theo hướng hiện đại. Mạng lưới cung ứng điện, cơ sở hạ tầng viễn thông và

Khâu thương
mại hóa sản
phẩm
---------------Người tiêu
dùng

Sau những chủ trương chung được nêu trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI (2011),
chiến lược và quy hoạch phát triển công nghiệp dệt may, ngày 13/1/2015, Thủ tướng Chính phủ
ban hành Quyết định số 32/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình đồng bộ phát triển và nâng cấp
cụm ngành và chuỗi giá trị sản xuất các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh: điện tử và công nghệ
thông tin, dệt may, chế biến lương thực thực phẩm, máy nông nghiệp, du lịch và dịch vụ liên
quan”. Quyết định đã nêu rõ quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp của Chương trình.

Nguồn: Tác giả tự thiết kế

Tóm lại, VKTTĐBB đã có được các yếu tố tiền đề thuận lợi cho sự hình thành, phát triển
CLKCN dệt may. Tuy nhiên, những yếu tố đó chưa thật sự toàn diện và đồng bộ, quá trình phát

15

16


triển sẽ phải là quá trình tiếp tục bổ sung và hoàn thiện những yếu tố tiền đề này để đáp ứng
một cách tốt nhất yêu cầu hình thành và phát triển CLKCN dệt may.
3.3.2. Những khó khăn hạn chế và nguyên nhân chủ yếu
Thứ nhất, chưa có sự thống nhất trong nhận thức về CLKCN nói chung, CLKCN dệt may
nói riêng.
Ở nước ta, việc nghiên cứu về CLKCN mới chỉ thực sự được bắt đầu từ đầu thập niên
2000 và việc triển khai trong thực tế còn đang ở giai đoạn nghiên cứu thí điểm. Trong điều kiện

cân đối giữa các DN thuộc khu vực hạ nguồn (DN cắt may) với các DN khu vực thượng nguồn
(DN công nghiệp hỗ trợ dệt may). Trong điều kiện hiện nay, đứng trên góc độ nhà đầu tư, việc
đầu tư vào lĩnh vực cắt may có sự hấp dẫn hơn so với đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ:
tổng vốn đầu tư, suất đầu tư thấp, sự phức tạp về công nghệ sản xuất và độ rủi ro kinh doanh
đều thấp hơn.
Tình trạng này đã dẫn đến hạn chế khả năng thiết lập CLKCN dệt may vì hạn chế khả
năng thiết lập quan hệ liên kết theo chiều dọc của chuỗi giá trị dệt may.
Thứ tư, chưa có cơ chế chính sách cụ thể khuyến khích, hỗ trợ phát triển CLKCN dệt
may.
Chủ trương về hình thành CLKCN ở một số ngành và một số vùng kinh tế thì mới được
hình thành trong Quyết định số 32/QĐ-TTg ngày 13/1/2015 của Thủ tướng Chính phủ. Đó là
điều kiện tiền đề quan trọng cho sự hình thành và phát triển CLKCN dệt may trong Vùng kinh
tế trọng điểm Bắc bộ. Nhưng, như trên đã đề cập, từ ban hành cơ chế chính sách đến triển khai
thực hiện ở nước ta thường có một khoảng cách khá xa. Tuy Quyết định đã quy định trách
nhiệm của Bộ Công thương chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban
Nhân dân các tỉnh, thành phố, nhưng từ quy định cơ chế chính sách chung này đến triển khai
thực hiện cho từng ngành, từng vùng kinh tế và từng địa phương còn quá nhiều việc phải làm
và phải phối hợp giữa các cơ quan cùng làm. Đó là điều không thể thực hiện trong một sớm một
chiều.
CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỤM
LIÊN KẾT CÔNG NGHIỆP DỆT MAY TẠI VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ
4.1. Phương hướng phát triển công nghiệp dệt may và cụm liên kết công nghiệp dệt
may trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ
4.1.1. Bối cảnh phát triển
4.1.1.1. Bối cảnh quốc tế
- Xu hướng chuyển dịch ngành công nghiệp dệt may từ các nước công nghiệp phát triển
sang các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
- Nhu cầu hàng dệt may không ngừng tăng lên về số lượng, đa dạng về kiểu cách mẫu mã
và đòi hỏi khắt khe về thời hạn cung ứng ra thị trường.
- Sự hình thành Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) với các nền kinh tế lớn, đặc biệt là

- Chú trọng phát triển các khâu thiết kế sản phẩm và chế tạo mẫu, các dịch vụ hỗ trợ đầu
tư và kinh doanh cho các DN dệt may, đặc biệt là dịch vụ logistics.
Phương hướng phát triển công nghệ
Phát triển theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững.
Phương hướng phát triển theo không gian lãnh thổ
- Hà Nội tập trung phát triển mẫu mốt, thời trang.
- Các doanh nghiệp kéo sợi và dệt vải được phát triển tập trung tại Khu Công nghiệp
Đình Vũ (Hải Phòng) và Khu Công nghiệp Hải Hà (Quảng Ninh).
- Các doanh nghiệp sản xuất phụ liệu may mặc (chỉ khâu, khóa kéo, mex, bao bì…) được
phát triển tập trung tại Hưng Yên và Hải Dương.
- Các doanh nghiệp cắt may được phát triển rộng rãi ở tất cả các địa phương trong Vùng.
4.1.3. Ma trận SWOT cho hình thành và phát triển cụm liên kết dệt may trong
Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ
Trên cơ sở các nội dung đã trình bày ở trên, tác giả tổng hợp ma trận SWOT đối với việc
hình thành, phát triển CLKCN dệt may trong VKTTĐBB.

Bảng 4.1. Ma trận SWOT với hình thành và phát triển CLKCN dệt may
Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ
ĐIỂM MẠNH - STRENGTHS (S)

ĐIỂM YẾU - WEAKNESSES (W)

(1) Có truyền thống phát triển lâu đời; có
mức độ tích tụ khá cao các DN dệt may và
các tổ chức liên quan.
(2) Các DN dệt may, công nghiệp hỗ trợ và
các tổ chức nghiên cứu khoa học và công
nghệ, các cơ sở đào tạo,… nằm trong các
khâu khác nhau của chuỗi giá trị dệt may,
tạo tiền đề thiết lập các quan hệ liên kết cả

kế sản phẩm, chế tạo mẫu, sản xuất nguyên
phụ liệu dệt may và thương mại hóa sản
phẩm là những khâu yếu nhất trong chuỗi
giá trị dệt may.
(4) Chủ trương chính sách của Nhà nước về
CLKCN còn chung chung; chưa có quy
hoạch cụ thể làm cơ sở phối hợp giữa cơ
quan quản lý ngành và chính quyền địa
phương trong tổ chức thực hiện.

(1) Xu hướng dịch chuyển ngành dệt may
từ các nước công nghiệp phát triển tạo ra
cơ hội thuận lợi trong việc phát huy lợi thế
của Vùng để phát triển mạnh mẽ ngành dệt
may.
(2) Nhu cầu hàng dệt may trên thị trường
không ngừng gia tăng, trong khi các DN
dệt may trong vùng ngày càng khẳng định
rõ vị trí trên thị trường, chiếm được lòng tin
của người tiêu dùng và các hãng đặt hàng
nước ngoài.
(3) Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu
rộng với việc ký kết các FTA và TPP tạo
cơ hội to lớn cho ngành may mặc Việt Nam
về mở rộng thị trường, tiếp nhận đầu tư
nước ngoài, chuyển giao công nghệ và
nâng cao kỹ năng quản lý.
(4) Sự chia xẻ kinh nghiệm tổ chức hình
thành, phát triển và vận hành CLKCN từ
các nước thành công trong việc áp dụng mô



Trên cơ sở ma trận này, việc định hướng hình thành, phát triển CLKCN dệt may trong
VKTTĐBB cần chú ý một số điểm sau đây:

Đó là quan hệ liên kết giữa các chủ thể thực hiện các khâu trong chuỗi giá trị dệt may:
thiết kế sản phẩm, công nghệ, chế tạo mẫu - cắt, may – thương mại hóa sản phẩm.

- Kết hợp SO (theo đuổi cơ hội phù hợp với điểm mạnh): tranh thủ cơ hội phát triển
(chuyển dịch ngành dệt may từ các nước phát triển; tham gia các FTA thế hệ mới, đặc biệt là
TPP…) trên cơ sở phát huy tối đa các điểm mạnh và điều kiện thuận lợi (về mức độ tích tụ và
tập trung hóa sản xuất của các DN dệt may; khả năng thuận lợi trong việc thiết lập quan hệ liên
kết theo chiều dọc và theo chiều ngang giữa các DN và các tổ chức hữu quan trong vùng; cơ sở
hạ tầng phát triển; tranh thủ sự trợ giúp của cơ quan quản lý nhà nước các cấp).

Đề phát triển loại quan hệ liên kết này, các vấn đề then chốt phải giải quyết là: (1) Phát
triển CNHT đủ khả năng đáp ứng nhu cầu của các DN cắt may về chủng loại, số lượng, chất
lượng, chi phí và thời gian; (2) Chuyển dần từ thực hiện phương thức gia công từ cấp độ thấp
lên cấp độ cao hơn và tiến tới chuyển sang xuất khẩu trọn gói gồm cả thiết kế sản phẩm; (3)
Lựa chọn và xây dựng quan hệ “đối tác chiến lược” với hãng thương mại có uy tín và vị thế thị
trường ở cả trong và ngoài nước; (4) Tích cực tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại trên
cả thị trường trong và ngoài nước để quảng bá thương hiệu và tìm kiếm đối tác thương mại; (5)
Tăng cường đầu tư cho xây dựng và quảng bá thương hiệu.

- Kết hợp WO (tranh thủ cơ hội để khắc phục điểm yếu) và kết hợp ST (sử dụng các lợi
thế, điểm mạnh để giảm rủi ro do bên ngoài gây ra): phát huy tác động tích cực của các FTA và
của TPP, thúc đẩy đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ sản xuất, phát triển CNHT dệt may,
chuyển từ phương thức gia công sang xuất khẩu trực tiếp; ban hành và thực thi cơ chế chính sách
thúc đẩy hình thành, phát triển quan hệ liên kết giữa các DN trong chuỗi giá trị dệt may; cụ thể
hóa và bổ sung cơ chế chính sách khuyến khích và hỗ trợ hình thành, phát triển CLKCN dệt may.

- Phối hợp trong đàm phán với hãng đặt hàng nước ngoài về các điều kiện thực hiện gia
công, đặc biệt là điều kiện về đơn giá và nguồn cung ứng nguyên phụ liệu thực hiện đơn hàng.
- Trao đổi thông tin thị trường và đối tác nước ngoài, trao đổi kinh nghiệm đổi mới công
nghệ, quản lý điều hành sản xuất.
- Phát huy khả năng và vai trò của các DN dệt may lớn hỗ trợ các DN vừa và nhỏ trong
việc đào tạo bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
- Phối hợp với nhau trong việc nghiên cứu đề xuất khuyến nghị với các cơ quan quản lý
nhà nước để sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách liên quan đến phát triển công nghiệp dệt may,
tháo gỡ khó khăn của các DN.
4.2.3. Thu hút đầu tư phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may vào vùng
Các vấn đề chủ yếu cần giải quyết là:
Thứ nhất, coi phát triển CNHT dệt may là một trong các lĩnh vực trọng điểm được ưu
tiên trong chỉ đạo phát triển công nghiệp tại VKTTĐBB giai đoạn 2016 – 2020. Từ đó, cần xây
dựng một Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển CNHT giai đoạn 2016 – 2020, trong đó
xác định rõ mục tiêu cần đạt, các nhiệm vụ cụ thể, tiến độ và giải pháp thực hiện, trách nhiệm
của các cơ quan quản lý nhà nước liên quan, sự tham gia của các hiệp hội ngành nghề và các
nhà đầu tư.
Thứ hai, hoàn thiện, bổ sung chính sách tạo động lực phát triển mạnh mẽ CNHT dệt may.
Tinh thần chung là vận dụng ở mức cao nhất cơ chế chính sách ưu đãi đầu tư quy định
trong Luật Đầu tư năm 2015 về: khuyến khích và hỗ trợ phát triển thị trường; khuyến khích và
hỗ trợ về hạ tầng cơ sở; khuyến khích và hỗ trợ về khoa học và công nghệ, đào tạo nguồn nhân
lực; cung cấp thông tin về thị trường và đối tác; chính sách ưu đãi và hỗ trợ về tài chính.
Thứ ba, chú trọng việc tổ chức thực hiện cơ chế chính sách ưu đãi khuyến khích đầu tư
phát triển CNHT dệt may.

Phát triển quan hệ liên kết theo chiều dọc
21

22


- Xác định một cách cụ thể và khẳng định một cách nhất quán chủ trương hình thành và
phát triển CLKCN với một số ngành công nghiệp trọng điểm của vùng, trong đó có ngành công
nghiệp dệt may.
- Xây dựng có luận cứ khoa học quy hoạch mạng lưới CLKCN dệt may trong vùng phù
hợp với quy hoạch mạng lưới CLKCN dệt may trong cả nước, phù hợp với bố trí không gian
lãnh thổ trong quy hoạch ngành công nghiệp dệt may và trong quy hoạch tổng thể phát triển
kinh tế - xã hội của vùng.
- Ban hành và chỉ đạo thực hiện các cơ chế chính sách khuyến khích và hỗ trợ hình
thành, phát triển CLKCN. Cơ chế chính sách phát triển CLKCN là một bộ phận trong hệ thống
chính sách công nghiệp. Nội dung của cơ chế chính sách này có thể lồng ghép trong các chính
sách có liên quan trực tiếp (ví dụ, lồng ghép chính sách phát triển CLKCN trong chính sách
23

phát triển công nghiệp hỗ trợ, coi phát triển CLKCN như một trong các biện pháp thúc đẩy phát
triển CNHT một cách tập trung).
- Phân công và phối hợp hợp lý giữa các cơ quan trong hệ thống quản lý nhà nước các
cấp trong việc xây dựng và chỉ đạo thực hiện quy hoạch, xây dựng và chỉ đạo thực hiện các cơ
chế chính sách phát triển CLKCN. Đồng thời cần chú ý tới sự phối hợp giữa chính quyền các
địa phương với nhau vì phạm vi không gian lãnh thổ của một CLKCN thường không bó hẹp
trong phạm vi địa giới hành chính của mỗi địa phương.
- Thực hiện kết hợp giữa quản lý thống nhất theo ngành trong phạm vi toàn quốc với
quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ. Cụ thể là sự phối hợp giữa Bộ Công thương với Ủy
ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc phát triển ngành công nghiệp
dệt may và hình thành, phát triển CLKCN dệt may..
Phát huy vai trò của các Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS)
- Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, tuyên truyền về CLKCN dệt may, lợi ích mà mỗi
DN và tổ chức có thể thu được từ việc tham gia CLKCN dệt may, cơ chế chính sách ưu ưu đãi
khuyến khích với các DN, các tổ chức tham gia CLKCN dệt may.
- Tập hợp ý kiến của các hội viên về xây dựng và thực hiện cơ chế chính sách hỗ trợ và
khuyến khích hình thành, phát triển CLKCN để kiến nghị với các cơ quan quản lý nhà nước có

may trong vùng; phát triển quan hệ liên kết theo chiều dọc và theo chiều ngang giữa các chủ thể
dệt may; phát triển CNHT dệt may; đầu tư cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới hệ thống kết cấu
hạ tầng đồng bộ và hiện đại; phát huy vai trò của Nhà nước và Hiệp hội dệt may.
Các kết quả nghiên cứu trên đây có giá trị tham khảo với các DN và các cơ quan hoạch
định chính sách trong việc nghiên cứu một trong các vấn đề của ngành công nghiệp dệt may nói
chung và công nghiệp dệt may trong VKTTĐBB nói chung.
Tuy nhiên, do chủ đề nghiên cứu còn khá mới mẻ và phức tạp, nên kết quả nghiên cứu
không tránh khỏi những hạn chế nhất định. Đó là: các nội dung chủ yếu được trình bày ở dạng
định tính, chưa có các tính toán và phân tích định lượng cụ thể; việc điều tra phỏng vấn tuy bảo
đảm tính đại diện, nhưng số lượng mẫu chưa nhiều và chưa được sử dụng đầy đủ trong các
phân tích của luận án.

25




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status