HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH tín DỤNG đối với các DOANH NGHIỆP vừa và NHỎ ở CHDCND lào - Pdf 35

Đề tài: HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG ĐỐI VỚI
CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở CHDCND LÀO.
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đại hội Đảng nhân dân cách mạng Lào lần thứ 4 năm 1986 đã đề
ra một nghị quyết mang tính lịch sử nhằm cải cách kinh tế cho đến
năm 2000 được biết đến với tên gọi Cơ chế kinh tế mới. Cơ chế
kinh tế mới này chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần vận đống theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa.
Sau hơn 10 năm đổi mới, đất nước Lào đã đạt được những thành
tựu đáng kể so với thời kỳ trước đó: tốc độ tăng trưởng kinh tế cao,
tình hình kinh tế xã hội ổn định, giải quyết ngày một tốt hơn các
chính sách và công bằng xã hội. Trong sự tăng trưởng của nền kinh
tế có một đối tượng góp phần quan trọng đó là các doanh nghiệp
vừa và nhỏ.
Hiện nay, phần lớn các doanh nghiệp trong các thành phần kinh tế
hoạt động tại Lào thuộc diện vừa và nhỏ. Có đến 85% các doanh
nghiệp nhà nước và 97% các doanh nghiệp tư nhân thuộc loại hình
doanh nghiệp này. Việc phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ là
phù hợp với điều kiện vốn, kỹ thuật và kinh tế Lào trong giai đoạn
hiện nay. Trong những năm qua Đảng nhân dân cách mạng và nhà
nước Lào đã nỗ lực giúp đỡ các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát
triển sản xuất kinh doanh thông qua các chính sách đúng đắn của
mình. Cùng với chính sách tín dụng của các ngân hàng đã tháo gỡ
được rất nhiều khó khăn về vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.


Tuy nhiên, do hậu quả của nền kinh tế tập trung bao cấp trong một
thời gian dài nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Lào còn gặp
không ít khó khăn như: vốn ít, thiết bị lạc hậu, quản lý yếu kém,

các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Lào trong thời gian tới.


3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Các doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Hệ thống ngân hàng nhà nước, ngân hàng thương mại của Lào
- Hệ thống các chính sách tín dụng, văn hóa tín dụng
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử đồng thời kết hợp với phương pháp phân tích tổng hợp để làm
sáng tỏ nhưng đề xuất với chính sách tín dụng.
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Khái quát và làm rõ vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Đưa ra các bài học của các nước đi trước nhằm áp dụng cho Lào
- Tóm lược lại các chính sách của nhà nước trong giai đoạn đổi
mới và thành tựu của chúng để tiếp tục rút kinh nghiệm và phát
triển.
- Giải quyết vấn đề tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tín dụng cho
các doanh nghiệp vừa và nhỏ
6. KẾT CẤU LUẬN VĂN
Chương 1: Sự cần thiết hoàn thiện chính sách tín dụng đối với các
DNVVN Lào.
Chương 2: Chính sách tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và
nhỏ ở Lào trong thời gian qua.
Chương 3: Hoàn thiện chính sách tín dụng đối với các DNVVN.


Từ viết tắt: Anh phải dành 1 trang riêng ở trước khi viết mở
đâu, bao gồm:

1.1.

Tín dụng và chính sách tín dụng

1.1.1 Khái niệm
-

Tín dụng

Tín dụng là một khái niệm khá quen thuộc trong đời sống xã hội
chúng ta. Nó xuất phát và hình thành từ khả năng tách rời giữa
quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản. Trong thực tế thuật ngữ tín
dụng được hiểu theo nhiều cách khác nhau, tùy theo từng bối cảnh
cụ thể mà thuật ngữ tín dụng có một nội dung riêng. Trong quan hệ
tài chính tín dụng có thể hiểu theo các nghĩa sau:
Trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết
kiệm sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là
phương pháp chuyển dịch quỹ từ người đi vay sang người cho vay.
Trong quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch tài
sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể. Như một công ty bán
hàng trả chậm cho một công ty khác, trong trường hợp này người
bán chuyển giao hàng hóa cho bên mua và sau một thời gian nhất
định theo thỏa thuận bên mua phải trả tiền cho bên bán. Phổ biến
hơn cả là giao dịch giữa ngân hàng và các định chế tài chính khác
với doanh nghiệp và cá nhân thể hiện dưới hình thức cho vay, tức
là ngân hàng cấp tiền vay cho bên đi vay và sau một thời hạn nhất
định người đi vay phải thanh toán vốn gốc và lãi.
Nếu xem xét tín dụng như là một chức năng cơ bản của ngân
hàng thì tín dụng được hiểu là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc
hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế khác) và

- Tính thời hạn: trên cơ sở hợp đồng đã ghi thì khi đến hạn
thanh toán bên đi vay phải hoàn trả gốc và lãi vô điều kiện cho bên


cho vay. Tuy nhiên trong thực tế thì khi đến hạn thanh toán thì sẽ
xảy ra nhiều trường hợp như khách hàng trả nợ đúng hạn, khách
hàng chưa trả hết hoặc khách hàng không trả được nợ. Chính vì thế
tùy từng trường hợp cụ thể mà ngân hàng có những hướng giải
quyết phù hợp khác nhau.

-

Chính sách tín dụng

Chính sách tín dụng là hệ thống các chủ trương, định hướng quy
định chi phối hoạt động tín dụng do Hội đồng quản trị các ngân
hàng đưa ra nhằm sử dụng hiệu quả nguồn vốn để tài trợ cho các
doanh nghiệp, các hộ gia đình và cá nhân trong phạm vi cho phép
của những quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Các ngân hàng lập ra chính sách tín dụng nhằm mục đích:
+ Xác định những giới hạn áp dụng cho các hoạt động tín
dụng. Đồng thời cũng thiết lập môi trường nhằm giảm bớt rủi ro
trong hoạt động tín dụng.
+ Bảo đảm rằng mỗi quyết định tín dụng đều khách quan, tuân
thủ quy định của Ngân hàng Nhà nước và phù hợp với thông lệ
chung của quốc tế. Không một tổ chức, cá nhân nào được can thiệp
trái pháp luật vào quyền tự chủ trong quá trình cho vay và thu nợ
của các NHTM.

1.1.2. Nội dung của chính sách tín dụng



Chính sách về các khoản đảm bảo.
Vấn đề nổi cộm mà các DNNVV hiện đang rất khó tháo gỡ là sự
khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn để đầu tư và hoạt động
kinh doanh. Các doanh nghiệp thiếu vốn nhưng lại rất khó tiếp cận
được các nguồn vay. Trong khi đó các ngân hàng đang có nhu cầu
cần cho vay đối với các doanh nghiệp nhằm mở rộng thị phần và
tăng thu nhập nhưng lại không thể cho vay.
Nguyên nhân lớn gây nên trở ngại này do hai bên chưa có sự đồng
thuận và bảo đảm cho việc vay vốn đã tạo nền cái vòng luẩn quẩn:
doanh nghiệp không đủ tài sản thế chấp, không vay được vốn,
không mở rộng được sản xuất kinh doanh, không nhiều lợi nhuận
và tài sản vì thế cũng chẳng có nhiều tài sản để thế chấp... đã diễn
ra nhiều năm nay.
1.1.3. Tương quan giữa môi trường kinh doanh của DNVVN và
chính sách tín dụng
- Môi trường pháp lý
Khi các ngân hàng trong hệ thống tài chính thực hiện nghiệp vụ
nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp các dịch vụ tài chính khách cho
khách hàng, họ phải tiến hành những công việc trong một khung
pháp lý chặt chẽ được xây dựng chủ yếu để bảo vệ lợi ích của toàn
xã hội. Trong đó, những quy định có liên quan đến hoạt động cho
vay có ảnh hưởng rất lớn đến danh mục cho vay của ngân hàng vì
danh mục cho vay có vai trò rất lớn tới sự an toàn trong hoạt động
của ngân hàng.


Việc mở rộng hoạt động cho vay đối với các DNVVN nhằm thúc
đẩy sự phát triển của loại hình doanh nghiệp này phụ thuộc rất lớn

doanh nghiệp mua công nghệ chỉ đơn giản là mua máy móc, thiết
bị. Họ không quan tâm hoặc quan tâm không đầy đủ đến các
phương pháp, bí quyết sản xuất. Do ảnh hưởng của tư duy sản xuất
nhỏ và phần lớn là do thiếu vốn, rất nhiều DNVVN đầu tư nhỏ
giọt, làm từng phần, mỗi năm mua thêm một số máy móc, thiết bị
rồi vừa làm vừa cải tiến.
Song, với xu hướng hội nhập toàn cầu cùng với tốc độ phát
triển khoa học-công nghệ chóng mặt như hiện nay, sớm muộn các
doanh nghiệp cũng phải giải các bài toán về công nghệ. Và lời giải
cho bài toán này thuộc về sự mở rộng hoạt động cho vay của ngân
hàng vì để có thể đổi mới công nghệ thì vấn đề đặt ra đầu tiên là
vốn.
Chính sách tín dụng với sự phát triển các DNVVN

1.2
1.2.1.

Đặc điểm các DNVVN

- Khái niệm:
Ở mỗi nước khác nhau quan niệm về DNVVN cũng khác nhau.
Nhưng hiểu một cách chung nhất thì DNVVN là những doanh
nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu.
Trong thực tế, phần lớn các nước đều sử dụng hai tiêu thức vốn
điều lệ và số lao động thường xuyên để xác định DNVVN. Chúng
ta có thể thấy rõ tiêu thức phân loại của các nước thông qua bảng
sau đây:
Bảng 1.1. Tiêu thức xác định DNVVN tại một số quốc gia.
Nước


< 1.4
USD

triệu

Đài Loan < 300 trong công 1.4 triệu USD
nghiệp, xây dựng.
< 50 trong thương
mại, dịch vụ
Nhật Bản < 100 trong bán < 30 triệu yên.
buôn.
< 10 triệu yên
< 50 trong bán lẻ.
Canada

< 500 trong công
nghiệp, dịch vụ

< 20 triệu đô
la Canada

Tại Lào, Bộ công nghiệp và thủ công nghiệp ( Ministry of Industry
and Handicraft – MIH ) vào năm 1996 đã đưa ra một định nghĩa
định lượng để phân loại quy mô của các doanh nghiệp như sau:
Doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có từ 1 đến 9 công nhân, doanh
nghiệp vừa là doanh nghiệp có từ 9 đến 29 công nhân, doanh
nghiệp lớn là doanh nghiệp có trên 29 công nhân.
Năm 2000, trung tâm thống kê quốc gia Lào đã định nghĩa lại như
sau: DN nhỏ có từ 1 đến 9 công nhân, doanh nghiệp vừa có từ 9
đến 99 công nhân, doanh nghiệp lớn có từ 99 công nhân trở lên.


lao động và chất lượng sản phẩm để có ưu thế trong cạnh tranh và
thu được lợi nhuận cao. Tuy nhiên các DNNVV có qui mô về vốn
và nhân lực bị hạn chế khiến cho DNNVV gặp không ít khó khăn
về nhiều mặt.
- Phần lớn các DNNVV được hình thành và phát triển từ
các hộ sản xuất nhỏ.
Phần lớn các DNNVV hình thành và phát triển từ các hộ sản
xuất nhỏ do tư nhân tự bỏ vốn ra sản xuất kinh doanh thông thường
nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân quanh khu vực,
chủ yếu phát triển ở thành thị và nông thôn, nhưng thường tập
trung ở các đô thị lớn, ven đô thành phố. Một số doanh nghiệp phát
triển từ hình thức hợp tác xã và tổ hợp tác cho nên hoạt động của
những doanh nghiệp này còn mang tính địa phương, do quy mô
nhỏ nên việc lập kế hoạch sản xuất, phân phối, tiêu thụ hàng hóa
cũng như nắm bắt các công nghệ hiện đại và có kế hoạch lâu dài
nhằm mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn.
- Ít tiếp cận được với các khách hàng lớn.
Có một số ngành nghề, lĩnh vực mà các DNNVV không thể
tham gia, hoặc rất ít khả năng tham gia như: các ngành công
nghiệp nặng, luyện kim, khai thác mỏ, ngân hàng tài chính do tiềm
lực về vốn và nhân lực bị hạn chế. Điều này không những làm
giảm khả năng cạnh tranh mà còn kìm hãm sự hợp tác của các
DNNVV với các doanh khách hàng lớn trong lĩnh vực này. Hơn
nữa các DNNVV luôn tiềm ẩn rủi ro trong kinh doanh, do hạn chế
về năng lực quản lý, về vốn. Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới
quan hệ hợp tác đối với các doanh nghiệp lớn. Ít tiếp cận được với
các khách hàng lớn và những nguồn vốn rẻ nên cơ hội để mở rộng
quy mô sản xuất bị hạn chế làm cho lợi nhuận của DNNVV không


- Vai trò của tín dụng đối với các DNVVN.
Chúng ta phải thừa nhận rằng hiện nay nhu cầu vốn cho phát triển
nền kinh tế nói chung và nhu cầu vốn phát triển các doanh nghiệp
lớn và các doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất lớn. Nhưng các doanh
nghiệp vừa và nhỏ lại gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm nguồn
tài trợ. Nguồn tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
chiếm một vai trò rất quan trọng. Nó thể hiện ở các điểm sau:
Một là, nguồn vốn vay đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời, mở rộng hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Có thể nói đây là vai trò quan trọng nhất của nguồn vốn vay đối
với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong các doanh nghiệp vừa và
nhỏ vốn tự có rất thấp nên hạn chế việc huy động vốn để mở rộng
hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhiều trường hợp doanh nghiệp có
phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả song lại không thể huy
động đủ vốn để thực hiện. Ngoài việc vay vốn để đầu tư và tài sản
lưu động, doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể vay vốn để đầu tư vào
trang thiết bị. dây chuyền sản xuất hay nhà xưởng kho bãi, hay mở
rộng sản xuất kinh doanh, thực hiện các dự án kinh tế. Như vậy
việc vay vốn đóng vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp vừa và
nhỏ, họ rất cần có những khoản vay đó để đáp ứng nhu cầu sản
xuất kinh doanh của mình; những khoản vay đó cũng ảnh hưởng
đến qui mô kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai.
Hai là, Nguồn vốn vay của Ngân hàng góp phần nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Khi vay vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh thì hiệu quả
của các hoạt động sản xuất kinh doanh là vấn đề được cả doanh
nghiệp và ngân hàng quan tâm. Đối với doanh nghiệp thì hiệu quả
sản xuất sẽ tạo ra lợi nhuận và thu nhập để doanh nghiệp có thể trả



trò điều chỉnh tất cả các mối quan hệ vay vốn giữa doanh nghiệp
vừa và nhỏ đối với ngân hàng thương mại. Mặt khác, trong nền
kinh tế thị trường thì ngân hàng là tổ chức đi vay để cho vay song
không thể bỏ qua vai trò điều tiết vĩ mô của nhà nước đối với khu
vực kinh tế đặc biệt này. Bởi vậy các chính sách tín dụng của ngân
hàng thương mại đối với DNVVN đã bao hàm trong nó vai trò
điều chỉnh của nhà nước.

- Vai trò của chính sách tín dụng đối với các DNVVN.
Thực hiện chính sách tín dụng đối với doanh nghiẹp vừa và nhỏ
đem lại những hiệu ứng sau đây:
Một là, Xây dựng một chính sách tín dụng hợp lý là để thống nhất,
đảm bảo hiệu quả, an toàn và phát triển bền vững nhằm nâng cao sức
mạnh cạnh tranh, tạo được hiệu quả tốt trong kinh doanh tín dụng.
Bên cạnh đó, chính sách tín dụng cũng phải đảm bảo tuân
thủ pháp luật, quy định của ngân hàng trung ương. Do đó, chính sách
tín dụng phản ánh cương lĩnh tài trợ của một ngân hàng, là hướng
dẫn chung cho cán bộ tín dụng và các bộ phận liên quan, tăng cường
chuyên môn hoá trong phân tích tín dụng, tạo sự thống nhất chung
trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng
sinh lời.
Để mở rộng hoạt động tín dụng đòi hỏi ngân hàng phải xây dựng
chính sách tín dụng hợp lý, đúng đắn, linh hoạt, phù hợp với từng
giai đoạn phát triển. Để mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp vừa
và nhỏ thì ngân hàng phải có chính sách tín dụng đáp ứng nhu cầu


của doanh nghiệp vừa và nhỏ, đồng thời mang lại hiệu quả kinh
doanh cho ngân hàng.
Hai là, Chính sách tín dụng hỗ trợ phát triển của các doanh nghiệp

ổn định an ninh, chính trị và xã hội ở Cộng hòa liên bang Đức.
Chính phủ cộng hòa liên bang Đức có một nỗ lực rất lớn, hợp tác
chặt chẽ với phòng thương mại( tổ chức đại diện cho doanh nghiệp
trong toàn quốc) trong việc hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ. Việc
hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn được kết hợp
đồng
bộ
với
hỗ
trợ
đào
tạo


vấn:
- Về hỗ trợ đào tạo cho DNVVN:
Phòng thương mại Cộng hòa Liên bang Đức tổ chức thành lập
trung tâm đào tạo, hướng nghiệp, dậy nghề cho công nhân và nhân
viêc các DNVVN gửi đến học tập. Chi phí đào tạo các lớp học do
một phần doanh nghiệp chịu, một phần được chính phủ hỗ trợ.
- Về trợ giúp tư vấn tư vấn cho DNVVN:
Tư vấn cho DNVVN được phòng thương mại thường xuyên quan
tâm trong suốt quá trình hình thành và hoạt động của từng DN. Nội
dung tư vấn không chỉ về sử dụng công nghệ cho sản xuất, mà còn
về thị trường đầu vào và đầu ra, thủ tục hành chính để thành lập
doanh nghiệp. Hình thức tư vấn thông qua các dịch vụ tư vấn của
phòng thương mại: một là, trực tiếp với chủ doanh nghiệp hoặc với
chủ doanh nghiệp tương lai; hai là, tổ chức các cuộc hội thảo, hội
nghị mà diễn dàn gồm các chủ doanh nghiệp tham gia. Phần lớn
các doanh nghiệp được tư vấn không phải trả lệ phí mà nguồn kinh

hợp chặt chẽ giữa các thành viên Ủy ban Bảo lãnh tín dụng hướng
về các khoản tín dụng cấp cho DNVVN nên đã hạn chế đáng kể
các rủi ro mất vốn xảy ra.


1.3.2.Cấp tín dụng cho DNVVN ở Nhật Bản
- Nét nổi bật ở Nhật Bản là Chính phủ đã phân bổ hẳn cho ba tổ
chức tín dụng. Chính phủ đã cấp tín dụng cho khu vực doanh
nghiệp vừa và nhỏ, đó là:
+ Ngân hàng và các hợp tác xã công thương có chức năng chủ
yếu cấp bổ sung tín dụng vốn lưu động cho các DNVVN thực
hiện chính sách của Chính phủ địa phương.
+ Tổ chức tài chính cho DNVVN, chủ yếu cấp tín dụng dài hạn
để bổ sung vốn cố định cho các DNVVN.
+ Tổ chức tài chính nhân dân, chủ yếu cấp tín dụng cho các DN
gia đình.
Tất cả những doanh nghiệp được vay vốn của ba tổ chức tín
dụng nói trên là những DNVVN có nhu cầu vay vốn song không
đủ tài sản để thế chấp cho khoản vay tại các ngân hàng tư nhân
Nhật Bản. Việc phân vùng cấp tín dụng cho DNVVN ở Nhật
Bản nhằm mục đích nâng cao trách nhiệm của từng tổ chức tín
dụng, thể hiện tính chuyên môn hóa nghiệp vụ tín dụng và cũng
tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận tín dụng đối với từng
DNVVN.
1.3.3.Cấp tín dụng cho DNVVN ở Hàn Quốc.
- Chính phủ Hàn Quốc thành lập các tổ chức tín dụng chuyên đảm
nhận cấp tín dụng cho các DNVVN, bao gồm:


+ Ngân hàng công nghiệp vừa và nhỏ chuyên tài trợ cho DNVVN.


Cùng với công cuộc cải tổ nền kinh tế, Trung Quốc đã cải tổ nền
kinh tế, Trung Quốc đã cải tổ hệ thống tín dụng đáp ứng những
nhu cầu mới của nền kinh tế hàng hóa. Tín dụng Nhà nước cho đầu
tư cho phát triển ngày càng được hoàn thiện cụ thể là:
Về chính sách huy động vốn: Trung Quốc sử dụng công
cụ phát hành trái phiếu kho bạc làm nguồn vốn cho tín dụng
Nhà nước cho đầu tư phát triển. Để đáp ứng nhu cầu đa dạng
của thị trường và bảo đảm giá trị của các khoản tiền mua trái
phiếu, Trung Quốc đã phát hành rất nhiều loại trái phiếu khác
nhau, như trái phiếu Kho bạc Nhà nước thông thường, trái
phiếu xây dựng các công trình trọng điểm, trái phiếu được
điều chỉnh theo chỉ số giá. Bên cạnh việc đẩy mạnh công tác
huy động vốn cho đầu tư phát triển dưới hình thức phát hành
trái phiếu trên thị trường trong nước, Trung Quốc cũng đã
tiến hành huy động vốn dưới hình thức phát hành trái phiếu,
hiện tại Trung Quốc cho phép Ngân hàng phát triển Trung
Quốc mua bán vốn từ khu vực Ngân hàng Thương mại để tạo
nguồn vốn hoạt động. Nguồn vốn mua từ các Ngân hàng
thương mại này chiếm khoảng 85% nguồn vốn hoạt động của
Ngân hàng phát triển Trung Quốc.
Về đối tượng được hưởng tín dụng Nhà nước cho đầu
tư phát triển.
-

Một trong những nội dung của công cuộc cải cách cơ chế quản lý
vốn đầu tư xây dựng cơ bản của Trung Quốc là xác định rõ phạm
vi đầu tư từ Ngân sách và phân biệt ranh giới các hạng mục công
trình dự án đầu tư công cộng và danh mục các dự án đầu tư có khả
năng thu hồi vốn. Trung Quốc chủ định thu hẹp dần qui mô đầu tư




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status