Giáo trình
QUẢN LÝ CÔNG NGHỆ
TRONG DOANH NGHIỆP
LỜI NÓI ĐẦU
Quản lý công nghệ là một nội dung quan trọng trong chương trình đào
tạo cử nhân quản lý kinh doanh.
Mục tiêu của giáo trình là cung cấp kiến thức về quản lý công nghệ
cho các nhà quản lý kinh doanh. Vì vậy, giáo trình này không đề cấp đến các
vấn đề về quản lý công nghệ ở tầm vĩ mô, mà chỉ đề cấp đến các nội dung của
quản lý công nghệ trong doanh nghiệp. Đối tượng phục vụ trực tiếp của giáo
trình là sinh viên chuyên ngành quản lý kinh doanh. Đồng thời, giáo trình cũng là
tài liệu bổ ích cho các doanh nhân, đặc biệt là các doanh nhân đang trực tiếp điều
hành các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Giáo trình Quản lý công nghệ trong doanh nghiệp đã kế thừa có chọn lọc
nhiều nội dung trong quản lý công nghệ phù hợp với mục tiêu đã đề ra trên đây.
Khác với các tài liệu về công nghệ khác, giáo trình này nhấn mạnh thành phần tổ
chức của công nghệ. Trong doanh nghiệp, đó là tổ chức quá trình công nghệ.
Giáo trình Quản lý công nghệ trong doanh nghiệp gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về công nghệ.
Chương II: Tổ chức quá trình công nghệ trong doanh nghiệp.
Chương III: Quản lý công nghệ trong doanh nghiệp.
Để tiện cho việc theo dõi, học tập của sinh viên và những người nghiên
cứu, sau mỗi chương đều có tóm tắt nội dung, các câu hỏi ôn tập cũng như các
bài tập.
Mặc dù đã rất cố gắng trong việc hoàn thành giáo trình, nhưng do nội
dung khoa học của vấn đề rộng lớn và phức tạp, lại phải chọn lựa để phù hợp với
đối tượng phục vụ nên giáo trình Quản lý công nghệ trong doanh nghiệp lần
Khía cạnh “công nghệ hàm chứa trong các dạng hiện thân của nó”.
4
Khía cạnh thứ nhất nói đến khả năng làm ra đồ vật. Đồng thời đáp ứng
được mục tiêu sử dụng và thỏa mãn được yêu cầu về kinh tế thì mới được áp
dụng trong thực tế. Đây là điểm khác nhau cơ bản giữa khoa học và công nghệ.
Khía cạnh thứ hai nhấn mạnh công nghệ là sản phẩm của con người. Vì
vậy nó có quan hệ chặt chẽ với con người và cơ cấu tổ chức.
Khía cạnh thứ ba bác bỏ quan điểm công nghệ phải là vật thể, phải nhìn
thấy được. Đặc trưng kiền thức khẳng định vai trò dẫn đường của khoa học đối
với công nghệ. Nó cũng nhấn mạnh: không phải ở các quốc gia khác nhau có
cùng công nghệ như nhau sẽ có kết quả như nhau. Con người phải được đào tạo
kỹ năng, trang bị kiến thức và phải luôn cập nhật kiến thức thì mới sử dụng tốt
một công nghệ nào đó.
Khía cạnh thứ tư nhấn mạnh: dù là kiến thức, công nghệ vẫn có thể được
mua, được bán. Vì nó nằm trong các vật thể tạo nên nó.
Xuất phát từ bốn khía cạnh trên, Ủy ban Kinh tế và xã hội khu vực châu
Á-Thái bình dương (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific ESCAP) đưa ra khái niệm:
Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế
biến vật liệu và thông tin. Nó bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương pháp
và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ.
Đây được coi là bước ngoặt trong quan niệm về công nghệ. Theo định
nghĩa này, không chỉ sản xuất vật chất mới dùng công nghệ, mà tất cả các lĩnh vực
khác, kể cả hoạt động xã hội đều dùng công nghệ (công nghệ thông tin, công nghệ
ngân hàng, công nghệ du lịch, công nghệ văn phòng ...).
Ở Việt Nam, Luật khoa học và công nghệ định nghĩa: “Công nghệ là tập
hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để
biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”.
-Chức năng hỗ trợ gồm: bảo dưỡng, bảo đảm chất lượng, quản lý sản
xuất.
Sự phức tạp của con người không chỉ phụ thuộc vào kỹ năng làm việc
mà còn phụ thuộc vào thái độ của từng cá nhân đối với công việc. Con người
quyết định hiệu quả của phần kỹ thuật. Điều này liên quan đến thông tin mà con
người được trang bị và hành vi (thái độ) của họ dưới sự điều hành của tổ chức.
c.Thành phần thông tin của công nghệ (Inforware – ký hiệu I). Đó là
các dữ liệu đã được tư liệu hóa, được sử dụng trong công nghệ. Chẳng hạn: Các
thông số về đặc tính của thiết bị, các số liệu về vận hành thiết bị, số liệu về duy
trì, bảo dưỡng, các dữ liệu để thiết kế các bộ phận của phần kỹ thuật, các công
thức và bí quyết để chế tạo sản phẩm...
Đây là phần biểu hiện các tri thức được tích lũy trong công nghệ. Nó
giúp trả lời câu hỏi “Làm gì?” và “Làm như thế nào?”. Nhờ các tri thức áp dụng
trong công nghệ mà sản phẩm của nó có những đặc trưng không có ở các sản
phẩm cùng loại được chế tạo bởi công nghệ khác. Do đó, phần thông tin được gọi
là “sức mạnh” của một công nghệ. Tuy nhiên, sức mạnh đó lại phụ thuộc vào con
người. Trong quá trình sử dụng công nghệ, con người sẽ bổ sung, cập nhật các
thông tin của công nghệ. Sự cập nhật thông tin như vậy cũng đáp ứng được sự
tiến bộ không ngừng của khoa học.
d.Thành phần tổ chức của công nghệ (Orgaware – ký hiệu O). Đó là
những quy định về quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ, sự phối hợp của các cá
nhận hoạt động trong công nghệ, quy trình đào tạo công nhân, bố trí và sắp xếp
thiết bị nhằm sử dụng tốt phần kỹ thuật và phần con người.
Phần tổ chức đóng vai trò điều hòa cả ba thành phần trên của công nghệ.
Nó là công cụ để quản lý: lập kế hoach, tổ chức bộ máy, bố trí nhân sự, động
viên thúc đẩy và kiểm soát mọi hoạt động trong công nghệ.
7
đáo, độ tinh xảo cao, song năng suất không cao và chất lượng không đồng đều.
Các công nghệ truyền thống có ba đặc trưng cơ bản: Tính cộng đồng, tính ổn
định vầ tính lưu truyền.
Các công nghệ tiên tiến là thành quả của khoa học hiện đại. Những công
nghệ này cho năng suất cao, chất lượng tốt và đồng đều, giá thành sản phẩm hạ.
Công nghệ trung gian nằm giữa công nghệ truyền thống và công nghệ
hiện đại xét về trình độ công nghệ.
+Theo mục tiêu phát triển công nghệ có công nghệ phát triển, công nghệ
dẫn dắt, công nghệ thúc đẩy.
Các công nghệ phát triển bao gồm các công nghệ bảo đảm cung cấp các
nhu cầu thiết yếu cho xã hôi như: ăn, mặc, ở, đi lại...
Các công nghệ dẫn dắt là các công nghệ có khả năng cạnh tranh trên thị
trường thế giới.
Các công nghệ thúc đẩy bao gồm các công nghệ tạo nên sự tăng trưởng
kinh tế quốc gia.
+Theo góc độ môi trường có công nghệ ô nhiễm và công nghệ sạch.
Công nghệ sạch là công nghệ mà quá trình sản xuất tuân theo điều kiện
giảm ảnh hưởng ô nhiễm đến môi trường, sử dụng các nguồn nguyên liệu thô và
năng lượng với chi phí hợp lý, kinh tế (Còn gọi là công nghệ thân môi trường).
+Theo đặc thù của công nghệ có thể chia công nghệ thành các loại: công
nghệ cứng và công nghệ mềm. Bốn thành phần của công nghệ chia thành 2
nhóm: Phần kỹ thuật là phần cứng, ba phần còn lại là phần mềm. Một công nghệ
mà phần cứng của nó được coi là chủ yếu được gọi là công nghệ cứng, và ngược
lại.
9
Cũng có thể coi công nghệ cứng là công nghệ khó thay đổi, công nghệ
mềm là công nghệ có chu kỳ sống ngắn, phát triển nhanh.
-
Tin học và thiết bị văn phòng.
-
Điện tử và cấu kiện điện tử.
-
Dược phẩm.
-
Chế tạo khí cụ đo lường.
-
Chế tao thiết bị điện.
II.Các đặc trưng của công nghệ.
Muốn quản lý tốt công nghệ cần nắm vững những đặc trưng cơ bản của
nó. Nhiều nước đang phát triển đã không thành công trong việc dựa vào phát
triển công nghệ để xây dựng đất nước do không nắm vững các đặc trưng cơ bản
này.
Công nghệ là một loại hàng hóa nhưng là hàng hóa đặc biệt. Do vậy,
ngoài những đặc trưng như các sản phẩm thông thường, công nghệ có những đặc
trưng mà chỉ nó (yếu tố sản sinh ra sản phẩm) mới có.
Công nghệ có các đặc trưng sau:
Không trải qua trình tự trên, khả năng phát triển kỹ năng sẽ bị hạn chế
nhiều. Ở các nước đang phát triển, do hạn chế về tài chính nên thường không
thực hiện được đầy đủ các giai đoạn đầu, đặc biệt giai đoạn nuôi dưỡng đến giáo
dục tiểu học. Vì vậy, các nước này gặp khó khăn nhiều trong việc đáp ứng nguồn
lực con người có trình độ cao.
Chuỗi phát triển kỹ năng của con người không có kết thúc. Kỹ năng,
đóng góp của con người tích lũy được trong quá trình hoạt động.
c.Chuỗi phát triển của thông tin công nghệ bắt đầu từ thu thập dữ liệu
cần thiết, sàng lọc, phân loại, kết hợp, phân tích tổng hợp và cập nhật.
Chuỗi phát triển thông tin không có kết thúc vì các thông tin có thể được
sử dụng đồng thởi trong nhiều công nghệ.
d.Chuỗi phát triển của phần tổ chức khởi đầu từ việc nhận nhiệm vụ
của hoạt động, trên cơ sở đó tiến hành bước chuẩn bị, thiết kế khung tổ chức, bố
trí nhân sự, sau đó tổ chức bắt đầu hoạt động theo chức năng đã đề cập ở trên.
12
Trong quá trình điều hành hoạt động, tổ chức được theo dõi, phản hồi để
điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thay đổi bên trong và bên ngoài
Các giai đoạn phát triển của các thành phần công nghệ được mô tả trong
hình 1 sau đây:
Chuỗi phát triển của phần kỹ thuật (Các phương tiện)
Nghiên
Thiết kế
cứu
Chọn lọc
Đào
Truyền
Nâng
dỗ
dục
tạo
bá (phổ cấp
biến)
Chuỗi phát triển của phần thông tin (Các dữ liệu)
Thu thập
Sàng lọc
Phân
Kết
Phân
Tổng
Cập
tra
(điều
trí)
Hình 1:
Chuỗi phát triển của các thành phần công nghệ
13
chỉnh)
tổ
2.Mức độ phức tạp (độ tinh vi) của các thành phần công nghệ.
a.Mức độ phức tạp của phần kỹ thuật.
Mức độ phức tạp của phần kỹ thuật được đánh giá theo các cấp sau:
1)
Các phương tiện thủ công sử dụng năng lượng cơ bắp con người
hay súc vật là chủ yếu.
2)
Các phương tiện có động lực, nguồn năng lượng là các loại động cơ
nhiệt, điện thay thế cơ bắp.
3)
Các phương tiện vạn năng, có thể thực hiện trên hai công việc.
3) Khả năng sửa chữa.
4) Khả năng sao chép.
5) Khả năng thích nghi.
6) Khả năng cải tiến.
7) Khả năng đổi mới
c.Mức độ phức tạp của thông tin .
Độ phức tạp của phần thông tin được đánh giá theo các mức:
-Dữ liệu thông báo (báo hiệu): Thể hiện bằng hình ảnh, mô hình, tham
số cơ bản (như các thông số ghi trên nhãn thiết bị...).
-Dữ liệu mô tả: Biểu thị các nguyên tắc cơ bản về cách sử dụng hay
phương thức vận hành của phần kỹ thuật (như các catalo kèm theo các thiết bị).
-Dữ liệu để lắp đặt: Gồm các dữ liệu về đặc tính của thiết bị, nguyên vật
liệu, chế tạo chi tiết.
-Dữ liệu để sử dụng: Nằm trong các tài liệu kèm theo thiết bị giúp cho
người sử dụng thiết bị một cách an toàn và hiệu quả.
-Dữ liệu để thiết kế: Gồm các tài liệu thiết kế chế tạo.
-Dữ liệu để mở rộng: Gồm những tài liệu cho phép tiến hành những cải
tiến, thay thế các linh kiện hay mở rộng tính năng thiết bị.
-Dữ liệu để đánh giá: Là các thông tin mới nhất về các thành phần công
nghệ, các xu thế phát triển và các thành tựu liên quan ở phạm vi thế giới.
Ba dữ liệu cuối được coi là bí quyết của công nghệ.
d.Mức độ phức tạp của phần tổ chức:
15
Các chỉ tiêu đặc trưng cho độ phức tạp của phần tổ chức là: Quy mô thị
trường, đặc điểm quá trình sản xuất, tình trạng nhân lực, tình hình tài chính và
mức lợi nhuận. Các cơ cấu tổ chức được xếp theo các cấp sau:
Thiết bị máy tính hóa
Khả năng thích nghi
Thiết bị tự động
Khả năng sao chép
Thiết bị chuyên dụng
Khả năng sửa chữa
Thiết bị vạn năng
Khả năng lắp đặt
Thiết bị có động lực
Khả nằng vận hành
Thiết bị thủ công
NĂNG LỰC CON NGƯỜI
PHƯƠNG TIỆN KỸ THUẬT
CƠ CẤU TỔ CHỨC
DỮ KIỆN, TƯ LIỆU
Các cấp công nghệ, mức độ phức tạp tăng dần
3.Độ hiện đại của các thành phần công nghệ.
Khác với độ phức tạp của các thành phần công nghệ, độ hiện đại không
thể chia thành “cấp” mà phải so sánh chúng với thành phần tương ứng được coi
là “tốt nhất thế giới” vào thời điểm đánh giá.
Công việc này đòi hỏi những chuyên gia kỹ thuật thành thạo trong việc
sử dụng công nghệ đó.
17
Có một só tiêu chuẩn chung để đánh giá mức độ hiện đại của các thành
phần công nghệ.
a.Độ hiện đại của phần kỹ thuật.
Chỉ tiêu đánh giá là hiệu năng kỹ thuật (P).
Năm tiêu chuẩn đánh giá là:
-
Phạm vi của các thao tác của con người.
-
Độ chính xác cần có của thiết bị.
-
Khả năng vận chuyển cần có.
-
Quy mô kiểm tra cần có.
Nhận thức về thời gian.
c.Độ hiện đại của phần thông tin.
Đánh giá bằng các chỉ tiêu tính thích hợp của thông tin (A).
Các tiêu chuẩn đánh giá:
18
-
Khả năng dễ dàng tìm kiếm.
-
Số lượng mối liên kết.
-
Khả năng cập nhật.
-
Khả năng giao lưu.
d.Độ hiện đại của phần tổ chức.
Đánh giá bằng chỉ tiêu: tính hiệu quả của tổ chức (E).
Các chỉ tiêu đánh giá:
-
Có thể mô phỏng sự tiến bộ công nghệ theo thời gian bằng đường cong
sau: (hình 3)
Đường cong có hình chữ S có thể chia làm ba giai đoạn: giai đoạn phôi thai, giai
đoạn tăng trưởng và giai đoạn bão hòa.
Tham số kỹ thuật
Giới hạn vật lý
Tăng trưởng
Phôi
thai
Bão hòa
Thời gian
Hình 3
Đường cong của tiến bộ công nghệ
Trong giai đoạn phôi thai, các tham số thực hiện tăng chậm. Do có các
cải tiến, các tham số thực hiện được cải thiện nhanh là giai đoạn tăng trưởng. Khi
công nghệ đạt được mức tiệm cận với giới hạn vật lý của nó là giai đoạn bão hòa.
Các sáng chế mới, tiến bộ hơn sẽ thay thế công nghệ cũ. Chẳng hạn: Động cơ đốt
trong ra đồi thay cho động cơ hơi nước; công nghệ vật lý chất rắn tạo ra transito
thay thế cho đèn điện tử chận không.
Đặc trưng chữ S dẫn đến một nhận thức quan trọng: “Khi một công
nghệ đạt tới giới hạn tự nhiên của nó, nó trở thành công nghệ bão hòa và có
khả năng bị thay thế hoặc loại bỏ”.
20
chậm.
Giai đoạn C: lượng bán tăng nhanh. Sau đó lượng bán giảm dần (D),
xuất hiện sản phẩm mới ưu việt hơn nó (E) và nó bị thay thế (F).
Có thể thấy: Giai đoạn A là giai đoạn công nghệ đang được triển khai,
thị trường chưa có công nghệ. Các giai đoạn B, C, D khối lượng công nghệ bán
được trên thị trường tuân theo đường cong chữ S của tiến bộ công nghệ. Nó đặc
trưng bởi sự tăng chậm lúc đầu, sau đó tăng nhanh rồi bão hòa.
21
Công nghệ đạt tới đỉnh sau đó bắt đầu giảm (E) và bị thay thế khi có
công nghệ mới xuất hiện (F).
Nghiên cứu chu trình sống của công nghệ có những ý nghĩa rất quan
trọng cần chú ý:
-Trong thời gian tồn tại của một công nghệ, nó luôn biến đổi: về tham số
thực hiện của công nghệ, về quan hệ với thị trường.
-Để duy trì vị thế cạnh tranh cuả mình, các công ty phải tiến hành đổi
mới sản phẩm, đổi mới quy trình sản xuất và thay thế công nghệ đang sử dụng
đúng lúc, khi có những thay đổi trong khoa học công nghệ, trong nhu cầu thị
trường.
-Doanh nghiệp cần biết công nghệ đang được sử dụng đang ở trong giai
đoạn nào của chu trình sống để có thể xác định được giá trị của công nghệ, xác
định được thời điểm thay đổi công nghệ.
TÓM TẮT NỘI DUNG CHÍNH:
1. Có nhiều định nghĩa khác nhau về công nghệ. Các định nghĩa đều bao hàm 4
khía cạch:
-
Công nghệ là máy biến đổi.
Thành phần con người (H).
-
Thành phần thông tin (I).
-
Thành phần tổ chức (O).
3. Có thể phân loại công nghệ theo các tiêu chí khác nhau, tùy theo mục đích
nghiên cứu. Gần đây, hình thành loại công nghệ làm đảo lộn các cách phân loại
công nghệ theo truyền thống: “Công nghệ cao”. Công nghệ cao có các đặc điểm:
-
Chứa đựng nỗ lực quan trọng về nghiên cứu và triển khai (NC & TK
– R & D).
-
Có giá trị chiến lược đối với quốc gia.
-
Sản phẩm được đổi mới nhanh chóng.
-
Đầu tư lớn và độ rủi ro cao. Thúc đẩy được sức mạnh và hợp tác
3. Các khía cạnh cơ bản của công nghệ là gì? Nội dung biểu hiện của
từng khía cạnh?
4. Trình bày một số cách phân loại công nghệ. Công nghệ cao có những
đặc trưng gì?
5. Thế nào là chuỗi phát triển của công nghệ? Ý nghĩa của việc nghiên
cứu chuỗi phát triển phần con người trong quá trình tích lũy kiến
thức về công nghệ.
24
Chương II:
TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH CÔNG NGHỆ TRONG DOANH NGHIỆP
Phần trên, khi nói về phần kỹ thuật của công nghệ, đã đề cập đến việc
các máy móc, thiêt bị, công cụ... được bố trí theo một trình tự ứng với một quy
trình nhất định để chế tạo sản phẩm. Việc bố trí máy móc thiết bị như thế là việc
tổ chức quá trình công nghệ trong doanh nghiệp. Khoa học tổ chức quá trình
công nghệ chỉ ra các phương pháp tổ chức khác nhau, ưu, nhược điểm của chúng
và phạm vi áp dụng của từng phương pháp. Vận dụng phù hợp cách tổ chức quá
trình sản xuất cho từng doanh nghiệp sẽ đem lại hiệu quả của công nghệ và hiệu
quả cho doanh nghiệp.
I. Quá trình công nghệ, một bộ phận quan trọng của quá trình sản
xuất.
Hình 5 sau đây mô phỏng các bộ phận cấu tạo của quá trình sản xuất.
QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT
QUÁ TRÌNH LAO ĐỘNG
Quá trình công nghệ
Quá trình công nghệ, bản thân nó lại được chia thành các giai đoạn công
nghệ và mỗi giai đoạn công nghệ được chia thành các bước công việc (còn gọi là
nguyên công) khác nhau.
Ví dụ1: Trong cơ khí, quá trình công nghệ được chia thành 3 giai đoạn
công nghệ là giai đoạn tạo phôi, giai đoạn gia công cắt gọt (còn gọi là gia công
cơ khí) và giai đoạn lắp ráp.
Ví dụ 2 : Để chế tạo một trục có bậc và có rãnh cần phải: lấy tâm; tiện;
phay rãnh; mài; sửa nhẵn. Những công việc đó gọi là các bước công việc.
Bước công việc là đơn vị cơ bản của quá trình sản xuất được thực hiện
trên một nơi làm việc, do một hoặc một nhóm công nhân cùng tiến hành trên một
đối tượng lao động nhất định. Khi xét bước công việc cần căn cứ vào cả 3 yếu tố:
nơi làm việc, công nhân và đối tượng lao động. Nếu một trong 3 yếu tố đó thay
đổi thì bước công việc thay đổi. Vì vậy:
26