skkn GIÚP HỌC SINH NẮM VỮNG KIẾN THỨC XÃ HỘI – NHÂN VĂN ĐỂ LÀM TỐT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI - Pdf 35

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Trường THPT Long Phước
Mã số:……………

Sáng kiến kinh nghiệm
GIÚP HỌC SINH NẮM VỮNG KIẾN THỨC XÃ HỘI – NHÂN
VĂN ĐỂ LÀM TỐT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

Thực hiện: Nguyễn Thanh Tùng
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn
- Lĩnh vực khác





Có đính kèm: Các sản phẩm khác không thể hiện trong bản in sáng
kiến kinh nghiệm
Mô hình: □
Phần mềm: □
Phim ảnh: □
Hiện vật
khác: □

Năm học: 2011-2012

1



-

Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy ngữ văn

-

Số năm có kinh nghiệm: 24 năm

-

Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong những năm gần đây:
1. Phương pháp bình giảng thơ trong nhà trường THPT
2. Phương pháp giảng dạy ôn thi tốt nghiệp PTTH theo nhóm đề tài
3. Một số biện pháp dạy ôn thi học sinh giỏi tỉnh lớp 12
4. Phương pháp sử dụng hệ thống câu hỏi trong một giờ văn học sử ở trường T

2


GIÚP HỌC SINH NẮM VỮNG KIẾN THỨC XÃ HỘI – NHÂN VĂN
ĐỂ LÀM TỐT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Gần đây, dõi theo sự xôn xao của dư luận trước những bài văn “lạ”, bất thường của
học sinh, tôi đã nghĩ rằng: điều các em mong muốn chính là môn văn phải thật sự gần
gũi, thiết thực hơn mà thôi.
Và tôi – một giáo viên dạy văn đã hai mươi năm cũng như bao đồng nghiệp khác
cũng đã từng mong mỏi làm sao đem môn văn đến gần tâm tư tình cảm của học sinh hơn,
giúp các em dễ tiếp nhận và yêu thích học văn hơn. Chính vì thế mà cứ mỗi lần thay đổi
sách giáo khoa là tôi lại hy vọng vào một sự đổi mới nào đó để có thể thực hiện được
điều mình mong mỏi. Thế nhưng, vẫn là sự “quá tải” của kiến thức khiến cả thầy và trò

dạy văn trong nhà trường chính là hướng con người sống đẹp hơn, cao thượng hơn, có ích
hơn và thiết thực hơn là giúp các em làm tốt bài văn nghị luận xã hội.
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
1. Cơ sở lý luận:
Môn Ngữ văn được xem là trọng tâm của bộ môn khoa học xã hội – nhân văn. Điều
đó có nghĩa là muốn nhấn mạnh vào những kiến thức xã hội và chất nhân văn trong các
tác phẩm văn chương.
Theo V. Bêlinxki – nhà phê bình văn học Nga: “thơ, trước hết là cuộc đời, sau đó mới
là nghệ thuật”. Vậy nên, trước hết cần phải giúp học sinh hiểu đời trước rồi mới hiểu văn
thơ sau. Học sinh chưa hiểu đời sẽ khó tiếp thu cái đẹp của văn chương nghệ thuật. Cái
hay, cái đẹp của văn chương sẽ được học sinh tiếp nhận trong cả một quá trình xuyên
suốt chứ không phải chỉ ở một vài tiết học trên lớp. Vì thế giáo viên cần phải giúp học
sinh nắm vững kiến thức xã hội qua bài đọc văn tác phẩm văn chương.
Giá trị đích thực của một tác phẩm văn chương chính là chất nhân văn. Mọi đề tài,
chủ đề, tư tưởng cũng như mọi biện pháp nghệ thuật của một tác phẩm văn chương,
chung qui lại đều đọng vào những giá trị nhân văn nhất định. Bởi vì, mục tiêu, chức năng
của văn học là nhân đạo hóa con người. Văn chương không phải là một cách đem đến
cho người đọc sư thoát li hay sự quên, trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao
và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác, vừa
làm cho lòng người trong sạch và phong phú hơn “(Thạch Lam)”. Nó ca tụng lòng
thương, tính bác ái, sự công bình. Nó làm cho người gần người hơn “(Nam Cao)”.

4


Theo tinh thần của sách giáo khoa cải cách và chuẩn kiến thức, giờ dạy tác phẩm văn
chương được gọi là Đọc văn, để đạt được yêu cầu sau đó là những vẻ đẹp trong cuộc
sống con người dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. “Văn học, nghệ thuật là công cụ để hiểu
biết, để khám phá, để sáng tạo thực tại xã hội” (Phạm Văn Đồng). Điều đó có nghĩa là nói
đến chức năng nhận thức, giáo dục và thẩm mĩ của tác phẩm văn chương. Văn học cung

5


của vấn đề được nêu ra. Căn cứ vào đối tượng nghị luận, bài nghị luận xã hội chia làm
hai dạng:
 Nghị luận về tư tưởng đạo lí.
 Nghị luận về một hiện tượng đời sống.
Giáo viên cần xác định những nội dung cơ bản mà đề bài yêu cầu.
Ví dụ:
 Nội dung của bài nghị luận xã hội về một tư tưởng đạo lí bao gồm:
 Các vấn đề về nhận thức: lí tưởng, lẽ sống, quan niệm sống, cách sống…
 Về tâm hồn, tính cách: lòng yêu nước, lòng nhân ái, tính trung thực, có trách
nhiệm, thói ích kỉ, vô trách nhiệm…
 Về các quan hệ xã hội, quan hệ gia đình, cách ứng xử tu dưỡng, hành động của
mỗi người trong cuộc sống…
 Nội dung của bài nghị luận về một hiện tượng đời sống bao gồm những nghị
luận:
 Vi phạm về nạn an toàn giao thông, môi trường, bạo lực học đường…
 Nhiễm những thói quen xấu: nghiện internet, ma túy…
 Những hiện tượng tốt: làm từ thiện, làm sạch môi trường, nuôi dạy trẻ mồ côi,
cơ nhỡ…
Giáo viên định hướng trước cho học sinh những nội dung trên và yêu cầu học sinh
nắm vững, biết cách tiếp nhận qua những bài học cụ thể.
Giáo viên lên kế hoạch tích hợp, mở rộng những nội dung đó vào từng bài cụ thể.
Cách thức tích hợp có thể thực hiện linh động.
 Trong khi tìm hiểu nội dung bài học.
 Sau khi kết thúc bài học, cho học sinh viết bài thu hoạch.
 Bài tập về nhà.
Ví dụ: Dạy bài Tây Tiến của Quang Dũng (tiết 19-20).
Sau khi thực hiện những nội dung cần đạt, giáo viên tiến hành cho học sinh tìm hiểu

phải khắc sâu giá trị nhân văn cho học sinh, cụ thể là qua việc phân tích nhân vật người
đàn bà hàng chài.
Nhân vật người đàn bà bị chồng đánh “Ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận
nặng” đến nỗi gây nên sự bức xúc trào dâng của nhân vật.
 Chánh án Đẩu: “Cả nước không có người đàn ông nào như hắn… Chị không sống
nổi với cái lão đàn ông vũ phu ấy đâu”.
 Nhiếp ảnh Phùng: Vứt chiếc máy ảnh xuống đất chạy nhào tới…
 Thằng Phát: Phản ứng dữ dội nhất “nhảy xổ vào cái lão đàn ông…quật vào giữa
khuôn ngực trần vạm vỡ…”
Giáo viên đặt câu hỏi: Theo em điều gì khiến người phụ nữ cam chịu nhẫn nhục như
vậy?
7


Học sinh sẽ trả lời theo những lí do người đàn bà đưa ra:
 Vì cuộc sống khổ quá…
 Vì đẻ quá nhiều con…
 Vì cần có người đàn ông trên thuyền để chống chọi với phong ba sóng gió…
 Vì cần có người cùng nuôi các con…
Giáo viên gợi ý thêm: Có lí do nào khác ngoài những lí do mà người đàn bà đưa ra
không?
Nếu học sinh trả lời đúng: người đàn bà giàu lòng vị tha, giáo viên sẽ biểu dương và
khắc sâu thêm.
Nếu học sinh chưa trả lời được, giáo viên giúp các em bằng cách chỉ ra cho các em
thấy đó chính là lòng vị tha, vì suy cho cùng, vượt lên tất cả những lí do đó chính là lòng
vị tha, một vẻ đẹp nhân văn ở người đàn bà ấy.
Giáo viên mở rộng: Vị tha là biết sống vì người khác, quên mình để chăm lo, giúp đỡ
và hi sinh cho mọi người. Lòng vị tha là biểu hiện cao đẹp nhất của phẩm chất nhân hậu
của người phụ nữ Việt nam.
Giáo viên liên hệ: Cuộc sống rất cần lòng vị tha của con người. Nhờ vị tha mà con

cầu thực tế và cũng rất thiết thực vì vào được Đại học là đích đến cuối cùng của 12 năm
học. Thế nhưng, vì đã đặt nặng mục tiêu đó mà học sinh đã học “lệch”, chỉ chú trọng vào
các môn tự nhiên- các môn thi Đại học. Điều này đã khiến cho nhiều giáo viên dạy văn
bức xúc, đau lòng khi nhìn những học sinh khá giỏi chỉ đối phó qua loa lấy lệ, thậm chí
bỏ hẳn môn văn. Đến kiến thức tối thiểu còn không nắm được thì làm sao còn có thể mở
rộng được kiến thức xã hội – nhân văn. Lẽ ra được sự cộng hưởng của đối tượng học sinh
thông minh khá giỏi này, giáo viên dạy văn sẽ có thêm cảm hứng để giảng dạy tốt hơn.
Đây là một trở ngại từ phía học sinh ảnh hưởng đến việc thực hiện của giáo viên mà
tội vẫn chưa tìm ra giải pháp thỏa đáng, rất mong nhận được sự góp ý từ các đồng
nghiệp.
III.

HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI:

Như đã trình bày ở trên, thời gian đổi mới cấu trúc đề thi chỉ mới thực hiện được ba
năm và chưa có thời gian để áp dụng nhiều trong các tiết học với các đối tượng học sinh
nên kết quả ban đầu đạt được chưa nhiều.
Ở lớp 12A1 năm học 2010-2011 (đối tượng học sinh thuộc nhóm lớp trung bình).
Kiểm tra chất lượng đầu năm đạt 20/47, tỉ lệ 42,6 %
Thi tốt nghiệp đạt 38/47, tỉ lệ 80,9 %
Chỉ có 9 học sinh dưới điểm trung bình bằng với 2 lớp học sinh khá.
So với mặt kết quả thi tốt nghiệp năm 2009-2010:

70.4 % cao hơn 15%

Kết quả đạt được ban đầu chỉ tương đối khả quan thế nhưng điều quan trọng hơn là tôi
đã thực hiện được phần nào điều mong mỏi của mình. Đó là đưa môn văn đến gần với
học sinh hơn, giúp các em nhận ra được giá trị xã hội – nhân văn cũng là giá trị ChânThiện-Mỹ của tác phẩm văn chương. Nó sẽ làm hành trang giúp các em bước vào đời để
sống tốt hơn.
9


SGK ngữ văn 11T1 nâng cao – NXBGD.

3.

SGK ngữ văn 12T1 cơ bản – NXBGD.

4.

Giao tiếp ứng xử tuổi học đường – NXB Thanh Niên.

11




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status