1
LêI C¶M ¥N
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn khoa học PGS – TS
Đỗ Hương Trà đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Vật lí, phòng Sau đại
học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô trong tổ Phương pháp giảng
dạy trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tận tình giảng dạy và tạo điều kiện giúp đỡ
tôi hoàn thành khóa học.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc TTGD TX Mê Linh, Ban giám hiệu
trường THPT Tiền Phong, cùng gia đình và bạn bè đã động viên, tạo điều kiện và
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn! Xuân Hòa, ngày 08 tháng 10 năm 2009
Tác giả
Hồ Thị Kim Giang
3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 9
1.1. Quan điểm hiện đại về dạy học 9
1.1.1. Nhiệm vụ của quá trình dạy học 9
1.1.2. Bản chất của sự học tập 9
1.1.3. Bản chất của sự dạy 10
1.1.4. Hệ tương tác dạy học 11
4
CHƯƠNG 2. LỰA CHỌN HỆ THỐNG BÀI TẬP, XÂY DỰNG PHƯƠNG
PHÁP GIẢI VÀ HƯỚNG DẪN HỌC SINH GIẢI BÀI TẬP CHƯƠNG
“SÓNG CƠ VÀ SÓNG ÂM” VẬT LÍ 12 THPT 28
2.1. Nội dung kiến thức chương “Sóng cơ và sóng âm”. 28
2.1.1. Đặc điểm của chương. 28
2.1.2. Sơ đồ cấu trúc nội dung chương sóng cơ và sóng âm. 28
2.1.3. Nội dung về kiến thức, kĩ năng học sinh cần có sau khi học. 28
2.1.4. Phân phối chương trình. 31
2.2. Tình hình dạy học bài tập vật lí chương “Sóng cơ và sóng âm” Vật lí lớp 12
THPT. 31
2.2.1. Mục đích của việc điều tra. 31
2.2.2. Phương pháp điều tra. 31
2.2.3. Kết quả điều tra 32
2.2.4. Các biện pháp khắc phục khó khăn khi sử dụng bài tập vật lí trong dạy học
chương Sóng cơ và sóng âm lớp 12 THPT 33
2.3. Phương pháp giải bài tập chương “Sóng cơ và sóng âm”. 34
2.3.1.Phân loại bài tập chương “Sóng cơ và sóng âm”. 34
2.3.2. Phương pháp giải bài tập chương “Sóng cơ và sóng âm”. 35
2.4. Hướng dẫn học sinh giải bài tập chương “Sóng cơ và sóng âm”. 43
2.4.1. Loại bài tập viết phương trình sóng tại một điểm. 44
2.4.2. Loại bài tập xác định các đại lượng vật lí đặc trưng cho sóng 47
2.4.3. Loại bài tập viết phương trình dao động( phương trình sóng) tổng hợp tại một
điểm. 55
2.4.4. Loại bài tập tìm các điểm dao động với biên độ cực đại, cực tiểu nằm trên
đoạn thẳng nối hai nguồn phát sóng. 58
2.4.5. Loại bài tập tìm các đại lượng vật lí đặc trưng cho sóng. 62
CÁC CHỮ VIẾT TẮT, KÍ HIỆU TRONG LUẬN VĂN
Trung học phổ thông THPT
Giáo sư – tiến sĩ GS – TS
Sách giáo khoa SGK
Bài tập vật lí BTVL
Giáo viên GV
Học sinh HS
Nhà xuất bản NXB
Giáo viên đặt câu hỏi
Giáo viên nhận xét, phân tích, tổng kết
Đối chứng
ĐC
Thực nghiệm
TN
6
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Chúng ta đang chứng kiến sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ,
đang sống trong xã hội mở cửa hội nhập toàn cầu, xã hội đó đòi hỏi con người phải
làm chủ được công nghệ, có kĩ năng lao động, năng động, sáng tạo, không những có
7
Vật lí 12 THPT theo chương trình và sách giáo khoa mới (bắt đầu triển khai từ năm
học 2008 – 2009).
Từ những lí do trên, với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng dạy học
vật lí ở trường THPT chúng tôi chọn đề tài: Phân loại, lựa chọn hệ thống bài tập
và hướng dẫn hoạt động giải bài tập nhằm phát huy tính tích cực và giúp học
sinh nắm vững kiến thức khi học chương “Sóng cơ và sóng âm” Vật lí 12 THPT.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận về bài tập vật lí, tìm hiểu thực trạng dạy học bài
tập vật lí chương “Sóng cơ và sóng âm”, nghiên cứu nội dung và mục tiêu dạy học
chương “Sóng cơ và sóng âm” Vật lí 12 THPT, tiến hành phân loại, lựa chọn hệ
thống bài tập, xây dựng phương pháp giải và hướng dẫn giải từng loại bài tập, thiết
kế phương án hướng dẫn học sinh giải một số bài tập, nhằm phát huy tính tích và
giúp học sinh nắm vững những kiến thức cơ bản khi học chương “Sóng cơ và sóng
âm” Vật lí 12 THPT.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận:
+ Nghiên cứu mục tiêu dạy học.
+ Nghiên cứu quan điểm hiện đại về dạy học.
+ Nghiên cứu lí luận về bài tập vật lí.
+
Nghiên cứu tiến trình nhận thức khoa học xây dựng, vận dụng một kiến thức
vật lí cụ thể.
-
Phân tích nội dung kiến thức, xác định các mức độ kiến thức và kĩ năng cơ
bản học sinh cần đạt được trong chương “Sóng cơ và sóng âm”
Để làm rõ vấn đề mà đề tài nghiên cứu, chúng tôi vận dụng tổng hợp các
phương pháp nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu lí luận:
+ Nghiên cứu lí luận dạy học vật lí, nghiên cứu mục tiêu dạy học, lí luận về bài
tập vật lí.
+ Nghiên cứu các tài liệu vật lí: sách giáo khoa, sách giáo viên vật lí 12, các tài
liệu có liên quan về chương “Sóng cơ và sóng âm”.
- Điều tra cơ bản: sử dụng các phiếu hỏi, trao đổi với giáo viên và học sinh, dự
giờ,… từ đó, phân tích các kết quả điều tra.
- Thực nghiệm sư phạm.
- Sử dụng phương pháp phân tích thống kê toán học.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu phân loại và lựa chọn được hệ thống bài tập phù hợp, sử dụng hệ thống
bài tập đó một cách hợp lí trong quá trình dạy học, đồng thời, xác định được
phương pháp hướng dẫn học sinh giải bài tập đáp ứng các yêu cầu của việc tổ chức
định hướng trong dạy học thì sẽ không những giúp học sinh nắm vững kiến thức mà
còn phát huy được tính tích cực của học sinh.
9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Quan điểm hiện đại về dạy học
1.1.1. Nhiệm vụ của quá trình dạy học
Quá trình dạy học là một quá trình nhận thức tích cực, có liên quan đến nhu
cầu, hứng thú của học sinh. Dạy học không những phải chú ý đến động cơ học tập,
10
sự biến đổi của bản thân, tạo được cái mới với chính chủ thể), nhờ đó người học
phát triển năng lực thể chất, tinh thần và nhân cách.
Hoạt động của chủ thể tồn tại tương ứng với động cơ thúc đẩy hoạt động đó.
Hoạt động có đối tượng cấu thành từ các hành động. Hành động gồm các thao tác.
Hành động có mục đích, điều kiện, phương tiện cụ thể.[14, tr 28] Mỗi hành động diễn ra theo các pha: định hướng, chấp hành và kiểm tra. Cơ sở
định hướng của hành động có tầm quan trọng đặc biệt đối với chất lượng, hiệu quả
của hành động.[14, tr 29]
Như vậy, sự học nói chung, là sự thích ứng của người học với những tình
huống thích đáng, làm nảy sinh và phát triển ở người học những dạng thức hoạt
động, phát triển ở người học những năng lực thể chất, tinh thần và nhân cách của cá
nhân. Nói riêng, sự học có chất lượng một tri thức khoa học mới phải là sự thích
ứng của người học với những tình huống học tập thích đáng. Chính quá trình thích
ứng này là hoạt động của người học xây dựng nên tri thức mới, với tính cách là
phương tiện tối ưu giải quyết tình huống mới. Đồng thời, đó là quá trình góp phần
làm phát triển các năng lực nhận thức, thực tiễn và nhân cách của người học.
của hoạt động thì hoạt động có ý thức của con người mới được thực hiện. Vì thế,
giáo viên phải thực hiện nhiệm vụ của mình là chuyển giao nhiệm vụ khách quan
thành động cơ học tập của học sinh.
Theo A.M. Machiuskin thì dạy học phải làm cho người học phát triển được trí
tuệ, động cơ học tập và hứng thú nhận thức. Do vậy sự dạy là sự tổ chức định
hướng việc xây dựng, chiếm lĩnh tri thức, hình thành và phát triển nhân cách. Dạy
học phải luôn tạo ra sự “mất cân bằng” về mặt tâm lý, tạo ra xung đột xã hội – nhận
thức trong bản thân học sinh, nhằm thiết lập sự “cân bằng” mới trong quá trình học
tập.
Theo GS -TS Phạm Hữu Tòng: Nếu học là hành động xây dựng kiến thức cho
bản thân mình và vận dụng kiến thức của mình thì dạy học là dạy hành động chiếm
lĩnh tri thức và hành động vận dụng kiến thức. Do đó, trong dạy học giáo viên phải
tổ chức các tình huống học tập đòi hỏi sự thích ứng của học sinh, để qua đó học sinh
chiếm lĩnh được tri thức, đồng thời phát triển trí tuệ và nhân cách toàn diện của
mình. [14, tr 30].
Về mặt nhận thức luận, dạy học có vai trò điều khiển, tổ chức nhận thức tri
thức khoa học cụ thể của học sinh theo một tiến trình nhận thức khoa học: Đề xuất
vấn đề - suy đoán giải pháp và khảo sát lí thuyết hoặc thực nghiệm - kiểm tra, vận
dụng kết quả.
1.1.4. Hệ tương tác dạy học
Trong hệ tương tác dạy học, mỗi hành động của người học được diễn ra theo
các pha: Định hướng- chấp hành- kiểm tra. Trong đó cơ sở định hướng có vai trò
quan trọng đối với chất lượng, hiệu quả của hành động. Giáo viên có vai trò quan
trọng trong việc giúp đỡ cho sự hình thành cơ sở định hướng khái quát của hành
động của học sinh. Đó là cơ sở định hướng bao gồm những nội dung cơ bản nhất,
cần thiết cho sự thực hiện thành công hành động của chủ thể. [14, tr 29]
Như vậy muốn đạt chất lượng, hiệu quả cao trong sự vận hành của hệ tương
tác dạy học gồm người dạy (giáo viên), người học (học sinh) và tư liệu hoạt động
dạy học (môi trường) thì giáo viên cần tổ chức, kiểm tra, định hướng hành động của
học sinh theo một chiến lược hợp lý sao cho học sinh tự chủ chiếm lĩnh, xây dựng
của giáo viên đối với học sinh.
Tương tác trực tiếp giữa học sinh với nhau và giữa học sinh với giáo viên là sự
trao đổi, tranh luận giữa các cá nhân và nhờ đó từng cá nhân học sinh tranh thủ hỗ
trợ xã hội từ phía giáo viên và tập thể học sinh trong quá trình chiếm lĩnh, xây dựng
tri thức.[14,32]
1.2. Vai trò của bài tập vật lí trong dạy học
1.2.1. Khái niệm về bài tập vật lí
Trong thực tế dạy học, bài tập vật lí được hiểu là một vấn đề được đặt ra mà
trong trường hợp tổng quát đòi hỏi những suy luận lôgíc, những phép toán và thí
nghiệm dựa trên cơ sở các định luật và các phương pháp vật lí. Hiểu theo nghĩa
rộng thì mỗi một vấn đề xuất hiện do nghiên cứu tài liệu giáo khoa trong các tiết
Giáo
viên
Học
sinh
Tư liệu
hoạt động dạy học
(môi trường)
Cung cấp tư liệu
Tạo tình huống
Định hướng
Tổ chức
Liên hệ ngược
Thích ứng
Hình 1.2: Hệ tương tác dạy học. [14]
với tốc độ v. Một lúc sau sóng truyền tới điểm M làm
M dao động, M cách O một khoảng x. Coi biên độ
dao động tại mọi điểm khi có sóng truyền đến là như
nhau và nguồn O dao động điều hòa với tần số f, li
độ u
O
theo phương vuông góc với phương truyền
sóng. Lập phương trình dao động tại điểm M.
x
A
O
M
14
1.2.2.2. Bài tập vật lí dùng để ôn tập, củng cố, đào sâu, mở rộng kiến thức
Khi giải bài tập, học sinh phải nhớ lại những công thức, định luật, khái niệm,
kiến thức đã học, có khi đòi hỏi phải vận dụng một cách tổng hợp kiến thức của
nhiều chương, nhiều phần do đó học sinh sẽ hiểu rõ hơn, ghi nhớ vững chắc những
kiến thức đã học.[17]
1.2.2.3. Bài tập vật lí dùng để hình thành và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo vận dụng lí
thuyết vào thực tiễn, rèn luyện thói quen vận dụng kiến thức khái quát
Học sinh chỉ thực sự nắm vững được kiến thức khi họ vận dụng thành thạo
chúng để giải được các bài tập lí thuyết và thực hành.[7]
Có rất nhiều bài tập có nội dung thực tế. Khi giải các bài tập này đòi hỏi học
12”, có thể cho học sinh làm bài tập sau: Cho một ống hình trụ chứa
nước, một ống rỗng hở hai đầu có thể bỏ lọt vào ống chứa nước, một
thước đo chiều dài và một âm thoa.
a. Với các dụng cụ nêu trên, hãy lập phương án đo tần số rung
của âm thoa nhờ vào khoảng cách của ống ứng với âm nghe được ở
miệng ống to nhất.Giải thích.
b. Tính tần số của âm thoa với các dữ liệu sau đây: Âm ở miệng
ống nghe to nhất lần một và lần hai ứng với các khoảng cách từ miệng
ống đến mặt nước là 75cm và 25cm. Vận tốc truyền âm trong không
khí là 340m/s.
1.2.2.5. Bài tập vật lí dùng để kiểm tra sự nắm vững kiến thức, kĩ năng của học sinh
Tùy vào cách đặt câu hỏi kiểm tra mà khi học sinh trả lời ta có thể phân loại
được các mức độ nắm vững kiến thức, kĩ năng của họ, qua đó đánh giá được chính
xác chất lượng của học sinh.
Qua việc giải bài tập của học sinh còn giúp cho giáo viên phát hiện những khó
khăn, sai lầm của học sinh trong quá trình học, từ đó có biện pháp điều chỉnh cách
dạy cho phù hợp, đồng thời việc giải bài tập còn giúp người học vượt qua những
khó khăn và khắc phục những sai lầm của bản thân khi học.
1.2.2.6. Bài tập vật lí dùng để giáo dục kĩ thuật tổng hợp
Tuy nhiên không phải cứ làm bài tập là chúng ta đạt ngay được các kết quả
mong muốn. Bài tập vật lí chỉ phát huy tác dụng to lớn của nó trong những điều
kiện sự phạm nhất định. Kết quả của việc giải bài tập phụ thuộc rất nhiều vào việc
có hay không một hệ thống bài tập được sắp xếp và sử dụng phù hợp với mục đích
dạy học.
1.3. Phân loại bài tập vật lí
Có nhiều cách phân loại bài tập vật lí. Người ta phân loại bài tập vật lí theo
nhiều đặc điểm: theo nội dung, theo phương thức giải, theo mức độ phát triển tư
duy…
Có thể tóm tắt phân loại bài tập vật lí theo sơ đồ sau:
Bài tập sáng tạo
Bài tập luyện tập
Nội dung vui
Nội dung kĩ thuật
tổng hợp
Đề tài
Nội dung cụ thể và
nội dung trừu tượng
Nội dung lịch sử
Quang
Điện
Nhiệt
Cơ
Hình 1.3: Sơ đồ phân loại bài tập vật lí.
17
1.4. Mối quan hệ giữa giải bài tập vật lí với nắm vững kiến thức
1.4.1. Khái niệm nắm vững kiến thức
Một trong những nhiệm vụ chủ yếu của dạy học là đảm bảo cho học sinh nắm
vững kiến thức dạy trong nhà trường.
Nắm vững kiến thức không những là hiểu đúng nội hàm, ngoại diên của nó,
xác định được vị trí tác dụng của kiến thức ấy trong hệ thống kiến thức cơ bản đã
tiếp thu từ trước, mà còn biết quá trình hình thành nó và vận dụng nó được vào thực
tiễn.[7]
1.4.2. Mối quan hệ giữa giải bài tập vật lí với nắm vững kiến thức
Để đảm bảo cho học sinh nắm được kiến thức vật lí một cách chắc chắn, cần
phải hình thành cho họ kĩ năng, kĩ xảo không chỉ vận dụng mà còn cả chiếm lĩnh
động nhận thức tích cực của mình, trong đó các em đã phải có những cố gắng trí
tuệ, đó là chưa nói lên tới một trình độ nhất định, thì sự học tập tích cực sẽ mang
tính nghiên cứu khoa học và người học cũng làm ra kiến thức mới cho nhân loại.
[24]
1.5.2. Các biểu hiện của tính tích cực học tập
Có những trường hợp tính tích cực học tập biểu hiện ở những hoạt động cơ
bắp nhưng quan trọng là sự biểu hiện ở những hoạt động trí tuệ. Hai hình thức biểu
hiện này thường đi liền với nhau. Theo G.I. Sukina (1979) có thể nêu những dấu
hiệu của tính tích cực hoạt động trí tuệ như sau:
- Học sinh khao khát tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ
sung câu trả lời của bạn, thích được phát biểu ý kiến của mình về vấn đề nêu ra.
- Học sinh hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề giáo viên
trình bày chưa đủ rõ.
- Học sinh chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kĩ năng đã học để
nhận ra vấn đề mới.
- Học sinh mong muốn được đóng góp với thầy cô, với bạn những thông tin
tươi mới lấy từ những nguồn khác nhau, có khi vượt ra ngoài phạm vi bài học, môn
học.
Ngoài những biểu hiện nói trên mà giáo viên dễ nhận thấy còn có những biểu
hiện về mặt xúc cảm, khó nhận thấy hơn, như thờ ơ hay hào hứng, phớt lờ hay ngạc
nhiên, hoan hỉ hay buồn chán trước một nội dung nào đó của bài học hoặc khi tìm ra
lời giải cho một bài tập. Những dấu hiệu này biểu hiện khác nhau ở từng cá thể học
sinh, bộc lộ rõ ở các lớp học sinh bé, kín đáo ở học sinh lớp trên.
G.I.Sukina còn phân biệt các biểu hiện của tính tích cực học tập về mặt ý chí:
- Tập trung chú ý vào vấn đề đang học.
- Kiên trì làm xong các bài tập.
- Không nản trước những tình huống khó khăn.
- Thái độ phản ứng khi chuông báo hết tiết học: tiếc rẻ cố làm cho xong hoặc
vội vàng gấp vở chờ được lệnh ra chơi. [24]
lập các phương trình và giải hệ các phương trình để tìm ra ẩn số của bài toán.
Ta có thể mô hình hoá các mối liên hệ đã cho, cái phải tìm và cái chưa biết
như hình sau:
Trong đó: (x) là cái phải tìm
(A), (B)….là cái đã cho
(a), (b)…là những cái chưa biết
Giả sử khi giải một bài tập nào đó, phân tích dữ kiện trong đề bài và dựa trên kiến thức
vật lí, ta dẫn ra được 6 mối liên hệ và được mô hình hoá như sau:
(
x
) (
A
) (
B
)…. (
a
) (
b
)……
20
- Việc giải bài tập này cần xác lập những mối liên hệ cơ bản nào?
(1)
(2
)
(3)
(4)
(5)
(6)
(x) (A) (a)
(b)
(B) (a) (c)
(C) (D) (c)
(b) (E) (d) (e)
(G) (H) (d)
(I) (K) (e)
(4
)
(3)
(5)
(6)
(2)
(1)
x
c
a
d
quan.
- Xác lập các mối liên hệ cơ bản, cho biết sự liên hệ của cái phải tìm với các
dữ kiện xuất phát và từ đó có thể rút ra được cái phải tìm
Bước 3: Rút ra kết quả cần tìm
- Từ mối liên hệ cơ bản đã thiết lập được tiếp tục luận giải tính toán rút ra kết
quả cần tìm
-
Trong thực tế khi giải bài tập vật lí có khi không thấy bước 3 và bước 2, bởi
hai bước này có thể xen kẽ, hoà lẫn vào nhau trong quá trình giải bài tập. Thế
nhưng, về mặt vật lí điều quan trọng vẫn là phải xác lập được những mối liên hệ cụ
thể cần thiết của cái phải tìm và cái đã cho dựa trên sự vận dụng kiến thức vật lí vào
22
điều kiện cụ thể của bài tập. Việc làm kế tiếp là sự luận giải này cho phép xác định
được mối liên hệ mới, xem như là kết quả của các mối liên hệ trước đó.
Bước 4: Kiểm tra xác nhận kết quả
Để có thể xác nhận kết quả vừa tìm được, cần kiểm tra lại việc giải theo một
hoặc một số cách sau
- Kiểm tra xem đã trả lời hết câu hỏi chưa? đã xét hết các trường hợp chưa?
- Kiểm tra lại xem tính toán có đúng không?
- Kiểm tra thứ nguyên của các đại lượng có phù hợp không?
- Kiểm tra kết quả về ý nghĩa thực tế xem có phù hợp không?
- Giải bài tập theo cách khác xem kết quả có trùng hợp không?
Ví dụ: Hai điểm S
1
, S
2
S
2
dao động với biên độ cực đại.
Ta có:
1 2
0 d ,d d
(1)
d
1
+ d
2
= d (2)
2 1
d d k
(3)
k 0, 1, 2
(4)
Với d
1
và d
2
là khoảng cách từ M đến S
1
, S
2
:
d k
0 d
thực hiện những phân tích và biến đổi để có thể áp dụng được phương pháp giải cơ
bản đã biết; cuối cùng ở trình độ sáng tạo, phải tìm ra giải pháp mới mà trước đây
chưa biết.[7]
Tiến trình hoạt động giải quyết vấn đề khi xây dựng, vận dụng một tri thức vật
lí cụ thể nào đó được biểu đạt bằng sơ đồ sau: “Đề xuất vấn đề – Suy đoán giải pháp
và khảo sát lí thuyết và / hoặc thực nghiệm – Kiểm tra, vận dụng kết quả”.
* Đề xuất vấn đề: Từ cái đã biết và nhiệm vụ cần giải quyết nảy sinh nhu cầu
về cái còn chưa biết, về một cách giải quyết không có sẵn, nhưng hy vọng có thể
tìm tòi, xây dựng được. Diễn đạt nhu cầu đó bằng một câu hỏi.
* Suy đoán giải pháp: Để giải quyết vấn đề đặt ra, suy đoán điểm xuất phát
cho phép đi tìm lời giải: Chọn hoặc đề xuất mô hình có thể vận hành được để đi tới
cái cần tìm, hoặc phỏng đoán các biến cố thực nghiệm có thể xảy ra nhờ đó có thể
khảo sát thực nghiệm để xây dựng cái cần tìm.
* Khảo sát lí thuyết hoặc thực nghiệm: Vận hành mô hình rút ra kết luận lôgíc
cái cần tìm hoặc thiết kế phương án thực nghiệm, tiến hành thí nghiệm, thu thập dữ
liệu cần thiết và xem xét, rút ra kết luận về cái cần tìm.
(2)
(3)
d
2
m
(4)
(1)
k
Hình 1.4: Dạng khái quát của sơ đồ biểu đạt lôgíc của tiến trình khoa học giải quyết
vấn đề khi xây dựng một kiến thức cụ thể 15]
Định hướng giải pháp cho vấn đề
BÀI TOÁN
Giải quyết bài toán
nhờ suy luận/ nhờ thí nghiệm và quan sát/
nhờ phỏng đoán/ nhờ giả thuyết
KẾT LUẬN, NHẬN ĐỊNH
TÌNH HUỐNG ( ĐIỀU KIỆN) XUẤT PHÁT NẢY SINH VẤN ĐỀ
Vấn đề ( đòi hỏi tìm kiếm xây dựng kiến thức)
25
Giải bài toán bằng
suy luận lí thuyết
KẾT LUẬN
(Thu được nhờ suy luận
lí thuyết)
KẾT LUẬN
(Thu được nhờ thí
nghiệm và quan sát )
Kết luận
TÌNH HUỐNG ( ĐIỀU KIỆN) XUẤT PHÁT NẢY SINH VẤN ĐỀ