skkn VẬN DỤNG TÀI LIỆU CHUẨN KIẾN THƯC, KĨ NĂNG THIẾT KẾ TIẾT ĐỌC – HIỂU VĂN HỌC VIỆT NAM TRONG TRƯỜNG THPT - Pdf 35

SangKienKinhNghiem.org
Tổng Hợp Hơn 1000 Sáng Kiến Kinh Nghiệm Chuẩn

VẬN DỤNG TÀI LIỆU CHUẨN KIẾN THƯC, KĨ NĂNG THIẾT
KẾ TIẾT ĐỌC – HIỂU VĂN HỌC VIỆT NAM
TRONG TRƯỜNG THPT
GV Huỳnh Quang Sơn

A. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

V

iệc nhận thức về tài liệu Chuẩn kiến thức, kĩ năng còn có nhiều ngộ
nhận Khái niệm Chuẩn kiến thức, kĩ năng nên hiểu thế nào ? Nên dạy
đúng Chuẩn để HS dễ hiểu hay nên phát triển thêm kiến thức, dạy đúng
cấu trúc trong sách Chuẩn để an toàn cho GV hay nên phá vỡ cấu trúc ? Chỉ
đạo từ phía thanh tra chuyên môn có sức thuyết phục hay chỉ đạo của HĐBM có
sức thuyết phục hơn ?... Mặt khác, chưa có sự đồng thuận cao ở nội bộ từng tổ
chuyên môn và các tổ chuyên môn Ngữ văn THPT trong tỉnh.
Việc cụ thể hóa nhận thức về Chuẩn vào thiết kế bài dạy và tiến trình tổ
chức các hoạt động dạy – học trên lớp còn nhiều lúng túng càng phát lộ những
mâu thuẫn ở không ít GV.
Thống nhất việc thiết kế bài dạy – học môn Ngữ văn đã được HĐBM Ngữ
văn đặt ra một cách cấp thiết. Vì thế, chúng tôi tham gia vào việc giải quyết vấn
đề soạn và dạy Ngữ văn qua sáng kiến Vận dụng tài liệu chuẩn kiến thức, kĩ năng
thiết kế tiết Đọc – hiểu văn học Việt Nam trong trường THPT.
B. THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
Đề xuất những giải pháp cụ thể cho việc dạy – học chương trình Chuẩn rất
cần sự chia sẻ những thuận lợi, khó khăn và những cách khắc phục khó khăn của
GV dạy Ngữ văn.
I. Một số thuận lợi, khó khăn cơ bản khi thực hiện Chuẩn

Có những hạn chế khi lập kế hoạch bài dạy do chủ quan từ phía GV. Một
số thầy cô giáo hiểu trách nhiệm cá nhân chưa thấu đáo; có những khó khăn từ
phía cán bộ quản lí giáo dục; từ phía phân phối chương trình… Nhưng chung
quy lại, những khó khăn từ nhiều nguyên nhân là có thực. Xin nêu lại một vài
thực trạng :
+ Một số GV thiếu tầm xác định và bám sát chuẩn tối thiểu, luôn thụ động
trong cách truyền thụ, không biết “đãi cát tìm vàng” (...). Hậu quả là người
học bị nhồi nhét kiến thức, luôn phải chịu áp lực quá tải.
+ Có nhiều GV tích cực suy nghĩ, tìm tòi, cải tiến và đổi mới PPDH với nhiều
cách thức sáng tạo nhưng không được sự hưởng ứng vì đồng nghiệp sợ không
sát đáp án thi… sinh ra bất lợi. Khi đánh giá một tiết dạy người dự coi trọng
tính bài bản của từng bước thực hiện ( Nội dung – nghệ thuật – ý nghĩa văn
bản... ) mà xem nhẹ khả năng sáng tạo của người dạy. Kết cấu bài học theo
kiểu kịch “tam duy nhất ( Nội dung – nghệ thuật – ý nghĩa văn bản... ) phá vỡ
nguyên tắc Đọc – hiểu văn bản nói chung, Đọc – hiểu văn bản theo loại thể nói
riêng. Thực tế để ứng xử với điều này GV an ủi nhau : dạy cho kịp giờ, tròn
bài, đủ ý để an toàn. Nhiều giờ đánh giá loại giỏi lại từ cái gọi là tiêu chí này.
Khoảng cách giữa GV có năng lực thật sự và GV kinh nghiệm còn khiêm tốn
vô hình trung bị xóa nhòa, rút ngắn.
+ Khâu biên soạn SGK, phân phối khung chương trình THPT là do Vụ Trung
học quyết định, khâu ra đề thi lại do Cục Khảo thí làm. Hai khâu này dường
như vẫn chưa tìm được tiếng nói chung”.
+ GV chỉ dừng lại ở việc trình bày những kiến thức đơn giản, tối thiểu ( mà
HS dễ dàng tự học ) thì dễ gây hiện tượng nhàm chán, chủ quan ở HS.
+ Khái niệm “quá tải” không được diễn giải một cách rõ ràng, nếu không
muốn nói là còn mơ hồ.
+ Học Chuẩn không học SGK cũng không đủ, ngược lại học SGK cũng sợ
thiếu kiến thức. Nói gì ? Bỏ gì ? Cho ghi thế nào là đủ kiến thức ? Theo chuẩn
không thực sự an tâm. Khổ vì Chuẩn và sách “đá”nhau.
+ Bài soạn theo chuẩn không đủ kiến thức cho HS thi TN THPT.

80
79
252

TRƯỚC TÁC ĐỘNGSAU TÁC ĐÔNG
36 (38.7%)
57 (61.3 %)
27 (33,8 %)
53 (66.2 %)
23 (29.1 %)
56 (70,9 %)
86 (34.1 %)
166 (65.9 %)

Như vậy, khi áp dụng chuẩn kiến thức vào dạy học, đa số HS thỏa mái học
tập hơn. Điều này cũng đúng với các trường trong 2 huyện lân cận. Có lẽ nói,
đó là cơ sở thực tiễn của vấn đề.
C. NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
I- Cơ sở lí luận
- Chuẩn là những yêu cầu, tiêu chí (gọi chung là yêu cầu) tuân theo những
nguyên tắc nhất định, được dùng để làm thước đo đánh giá hoạt động, công
việc, sản phẩm của lĩnh vực nào đó. Đạt được những yêu cầu của Chuẩn là đạt
được mục tiêu, mong muốn của thầy cô giáo...
Một trong những lí do khiến GV chưa hiểu về Chuẩn là GV không đọc kĩ
Giới thiệu chung về Chuẩn kiến thức kĩ năng của chương trình giáo dục phổ
thông ở những trang đầu mỗi cuốn tài liệu Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức
kĩ năng, dẫn đến điều từng được kì vọng thành điều bất an. Theo ông Vũ Đình
Chuẩn, Vụ trưởng Vụ Giáo dục phổ thông, Bộ GD – ĐT thì mục đích của việc
giảm tải lần này là cắt giảm các nội dung quá khó, trùng lặp, chưa thật sự
cần thiết đối với học sinh cũng như các câu hỏi, bài tập, đòi hỏi phải khai

Ông Vũ Nho phát triển thêm khái niệm Chuẩn để làm rõ mức độ khác nhau
của khái niệm Chuẩn. Có 3 loại chuẩn : Chuẩn tối thiểu, Chuẩn thông dụng,
Chuẩn tối đa. Chuẩn tối thiểu ( Thể hiện điều cần thiết và cơ bản mà mọi HS tại
một trình độ nhất định ở một môn nhất định phải biết và nắm vững được; Thể
hiện mục tiêu của GV và của trường để đưa tất cả HS tới trình độ này ). Chúng
ta đã xây dựng chương trình và viết SGK theo cả ba mức Chuẩn. Chúng ta dạy
học và kiểm tra đánh giá cũng kết hợp cả ba mức Chuẩn. Tùy từng vùng miền,
tùy từng lớp học cụ thể, người GV sử dụng phối hợp tỉ lệ ba mức Chuẩn đó sao
cho hiệu quả nhất.
Để thực hiện định hướng giảm tải, bản thân GV phải cụ thể hoá, chi tiết
hoá, tường minh hoá những nội dung, những căn cứ để dạy học, kiểm tra, đánh
giá chất lượng. Phải biết dừng, lướt qua một số đơn vị trí thức và kĩ năng HS đã
thật sự thông hiểu để mở rộng, nâng cao…
Giảng dạy là một nghệ thuật hợp tác. GV không cung cấp, nhồi nhét kiến
thức có sẵn cho HS mà phải hình dung trước công việc mà thầy cô giáo sẽ tổ
chức cho HS học tập trên lớp. Điều đó chứng tỏ thầy mới thật sự là “sư”, trò
mới được tôn trọng… , hiệu quả tiết dạy mới phát huy tính tích cực.
Cần phối hợp các phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học ( HĐBM
Ngữ văn Đồng Nai đã hướng dẫn kĩ )… Khai thác sâu phương pháp bình văn,
-------------------------------------------------------------------------------------------------Vận dụng tài liệu chuẩn kiến thức, kĩ năng thiết kế tiết Đọc – hiểu văn học Việt Nam trong
trường THPT. Huỳnh Quang Sơn
-4-


thảo luận nhóm và nêu vấn đề… nhằm phát huy cao nhất phương pháp chủ
động, tích cực.
II. Nội dung và giải pháp cụ thể
1) Xác định đúng mục tiêu bài học
Căn cứ vào Chuẩn kiến thức đã định hướng. Ngoài ra cần bổ sung mục
tiêu bài dạy – học qua tích hợp giáo dục (KNS, bảo vệ môi trường, giới tính…);

các quy luật dạy học và quy luật nhận thức của HS; khi dạy học trên lớp lại phải
tổ chức, thiết kế các tình huống hoạt động giữa thày và trò, tổ chức, điều hành,
hướng dẫn, khích lệ, động viên các hoạt động của HS một cách sinh động sao
cho các em được làm việc tích cực, được nghĩ, được nói, được thể hiện khả năng
và bản sắc riêng của mình, được tạo nhiều cơ hội nhằm phát triển việc học của
họ.
-------------------------------------------------------------------------------------------------Vận dụng tài liệu chuẩn kiến thức, kĩ năng thiết kế tiết Đọc – hiểu văn học Việt Nam trong
trường THPT. Huỳnh Quang Sơn
-5-


Tiến trình đổi mới phương pháp dạy học ngày nay đòi hỏi người GV còn
phải kết hợp sử dụng các phương tiện, thiết bị, giáo dục hỗ trợ cho phương pháp
dạy học của mình, tổ chức các hình thức, biện pháp kiểm tra nhằm nắm vững kết
quả học tập, tu dưỡng. Từ đó, đánh giá đúng chất lượng học tập của HS mình
dạy, còn phải phát hiện những điểm mạnh, yếu trong cả việc dạy của mình để đề
xuất những cải tiến và chương trình rèn luyện
Không cho phép bản thân mình là nguồn tri thức để nhồi vào tâm trí hồn
nhiên của HS. GV lâu năm đã từng phát biểu : Thức dậy khát vọng học trò
trong những giờ giảng văn là tạo ra bầu không khí văn chương. Đó là một bầu
không khí cởi mở dân chủ, bầu không khí đối thoại. Bước vào giờ giảng là bước
vào một không khí được sẻ chia, được trao đổi, tâm tư, ở đó, thầy và trò bình
đẳng với nhau trong quá trình khám phá và sáng tạo. Mọi áp đặt, mọi thiên
kiến chủ quan, mọi bài xích và thoá mạ sẽ giết chết không khí văn chương. Bao
nhiêu năm đi dạy, chúng tôi đã kiên nhẫn, đã khuyến khích để lắng nghe được ý
kiến từ học trò. Một câu hỏi đúng lúc, đúng chỗ, vừa sức; một ánh mắt thiện
cảm, một lời động viên khích lệ, một sự chờ đợi không nôn nóng, một sự tranh
thủ thêm nhiều ý kiến, một giả định, một nhận xét thoả đáng, đó là những gì
ngoài văn chương hết sức cần thiết để nhen lên khát vọng từ học trò vốn dĩ đã
nguội lạnh.

dẫn cho HS.
Ví dụ : Tại sao tác giả lại viết văn lãng mạn mà không viết văn hiện thực ?
Yếu tố nào thuộc tiểu sử, con người tác giả có tác động tích cực cho việc ra đời
tác phẩm (mối quan hệ của các yếu tố quê hương, gia đình, bản thân). Không
đặt vấn đề này HS không chịu động não.
Phần giới thiệu – phân tích khái quát tác phẩm cần
Xác định thể loại ( Nhận diện đặc điểm thể loại, phân tích vai trò và tác
dụng của thể loại ) Không bỏ sót, không cho là dễ mà lướt qua. Tác giả chọn thể
loại không hề ngẫu nhiên. GV không nên cho rằng giảm tải thì muốn cắt xén
kiến thức thế nào thì cắt.
Việc đọc tác phẩm cần hướng dẫn về âm hưởng, tiết tấu và giải thích từ
khó, từ có vai trò ngữ pháp nòng cốt, từ Hán – Việt, điển tích, điển cố, hư từ…
có nhiều ý nghĩa trong biểu hiện. Giải nghĩa từ và nhóm từ giúp HS mạnh dạn
khai thác nghĩa văn cảnh, mạnh dạn phát biểu cảm nhận ngôn từ…
Tìm bố cục của văn bản trong phạm vi nhà trường là cần thiết ( Khác phân
tích văn học ngoài nhà trường ). Ví dụ tìm bố cục cho bài thơ trữ tình GV hỏi
HS bài thơ có mấy chặng cảm xúc chính.?
6) Đặc biệt là buớc Đọc – hiểu ( phần phân tích trực tiếp tác phẩm ).
GV và HS phải đi sâu vào xác định và phân tích các tín hiệu thẩm mĩ của
văn bản văn học bằng một hệ thống câu hỏi.
Dạy chuẩn kiến thức, kĩ năng càng phải biết đặt câu hỏi. Cũng như việc
thiết lập hệ thống câu hỏi trước khi có chương trình Chuẩn, tránh hỏi để hỏi hay
hỏi nhiều câu tái hiện khiến HS tri nhiều mà thức ít. Câu hỏi hay là kết quả của
khoa học, nghệ thuật và sư phạm. Chú trọng câu hỏi có tính chất vừa sức lại có
sự tạo sức; Câu hỏi trên lớp có quan hệ với câu hỏi trong SGK và trong Thiết kế
… của GV. Câu hỏi còn phải phong phú và hấp dẫn và có vấn đề… Hỏi hướng
vào các yếu tố của văn bản, yếu tố ngoài văn bản và hỏi về vai trò của người
tiếp nhận. Hỏi là quyền, biết hỏi là biến. Hỏi là thứ quyền biến trong tay người
thầy.
7) Vấn đề bình văn

kiến thức, kĩ năng là giáo án – Giáo án thì phải kĩ lưỡng cả về nội dung cần đạt,
hoạt động từng phần. GV không nhìn thấy khi viết sách tác giả phải thỏa mãn
nhiều giới hạn nên cần có kiến thức vừa khách quan, vừa trung dung. Và vì thế
ghi theo cấu trúc : Nội dung – Nghệ thuật – Ý nghĩa văn bản để khái quát các
kiến thức.
Chúng tôi không chấp nhận khi dạy học lại trói cột GV theo cấu trúc đó,
bởi đứng ở góc độ chuyên môn cấu trúc đó hoàn toàn không khả thi. Có chăng
chỉ phù hợp với định hướng chuẩn hay ôn tập kiến thức. Đó không phải là Thiết
kế của người dạy. Nên chăng có thể ghi: Tìm hiểu chung – Đọc hiểu văn bản –
Ghi nhớ.
9) Vấn đề đánh giá giờ dạy của GV
Đánh giá hoạt động dạy học không chỉ đánh giá thành tích học tập của HS,
mà còn đánh giá cả quá trình dạy học nhằm cải tiến hoạt động dạy học.
Một đến hai tiết dự giờ đánh giá cả quá trình một năm học hoặc hơn thế
nữa. Vì vậy cần hướng vào tính hiệu quả, nghiệp vụ sư phạm ( Xử lí tình huống
). Một giờ dạy không có hồn nhưng đúng giờ là kém ý nghĩa, nhưng thực tế
người dự giờ thường đánh giá cao. Trên phiếu đánh giá không thể hiện sự mềm
hóa trong đánh giá – nặng về định lượng, nảy sinh sự thiếu công bằng, thiếu
thân ái. Cũng cần phải công nhận rằng : Tiến hành giờ dạy hoàn hảo cả về kiến
thức, kĩ năng, tạo dấu ấn… và đúng thời gian … thì quá tuyệt vời.
10) Vấn đề kiểm tra, đánh giá HS
Kiểm tra đánh giá được quan niệm là việc học tập dưới hình thức mới hay
là cách để điểu chỉnh dạy và học… Nói cách khác đó là khâu kiểm soát các yếu
tố đầu ra của quá trình dạy – học. Kiểm tra để rút kinh nghiệm lần sau tốt hơn.
Kiểm tra thường xuyên và định kì theo hướng vừa đánh giá được đúng
Chuẩn kiến thức, kĩ năng, vừa có khả năng phân hoá cao ; kiểm tra kiến thức, kĩ
năng cơ bản, năng lực vận dụng kiến thức của người học, thay vì chỉ kiểm tra
học thuộc lòng, nhớ máy móc kiến thức.
GV không tự trói cột mình vào hệ thống câu hỏi và bài tập trong tài liệu
Chuẩn kiến thức, kĩ năng - đã giảm tải, rồi khen chê thiên về sự chủ quan. Thầy

cả lớp học yếu.
2 Tổ bộ môn Văn không phải bàn luận quá nhiều về việc dạy cái gì ? và dạy
như thế nào cho đúng Chuẩn.
3 Việc thi cử đã sát với trọng tâm hơn. Công bằng, khách quan hơn.
4 Ban giám hiệu bớt phần lo lắng về chất lượng bộ môn
E- BÀI HỌC KINH NGHIỆM
1 Phải đọc tài liệu Chuẩn thật kĩ mới thực sự hiểu tầm khái quát vấn đề của
người viết tài liệu. Qua đó thấy độ hàm súc của vấn đề.
2 HS sẽ phải chuẩn bị kĩ trước khi học trên lớp vì chủ quan sẽ không cụ thể
hóa được bài học. GV cũng không thể chủ quan vì thấy bài ghi trong tài liệu
ngắn, bởi làm cho bài dạy có chiều sâu và sôi nổi không đơn giản.
3 Nên soan bài từ dịp hè mỗi năm may ra mới kịp tiến độ. Nước ngoài họ
cũng làm như vậy.
4 Trước khi có tài liệu Hướng dẫn thực hiện chuẩn KT-KN môn Ngữ văn, GV
thường dựa trên hai nguồn chủ yếu sau để xác định mục tiêu bài học : Kết
-------------------------------------------------------------------------------------------------Vận dụng tài liệu chuẩn kiến thức, kĩ năng thiết kế tiết Đọc – hiểu văn học Việt Nam trong
trường THPT. Huỳnh Quang Sơn
-9-


quả cần đạt trong SGK và Mục tiêu bài học trong Sách Giáo viên. Nay, khi
đã có tài liệu Hướng dẫn thực hiện chuẩn KT-KN môn Ngữ văn, GV cần
dựa vào phần Mức độ cần đạt và Trọng tâm kiến thức kĩ năng của tài liệu
này (có đối chiếu với các nguồn trong SGV và SGK) để xác định mục tiêu
bài học, tiết học.
5
Nhìn chung, giữa các tài liệu này không có sự mâu thuẫn nào cả. Tài liệu
Hướng dẫn thực hiện chuẩn KT-KN môn Ngữ văn cũng được biên soạn trên
cơ sở CT GDPT môn Ngữ văn và đã có đối chiếu, thống nhất với SGK và
SGV. Trong trường hợp có sự vênh lệch nhất định nào đó thì Hướng

Ngữ văn để xác định những phạm vi KT-KN mà HS cần phải đạt được sau
tiết học. Điều này có nghĩa là trong hồ sơ dạy học của mình, kể từ bây giờ,
người GV có thêm một công cụ thường trực và đắc lực giúp cho việc dạy
học một cách hiệu quả. Về phía cơ quan chỉ đạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ
chỉ đạo các bộ phận chức năng, NXB Giáo dục nhanh chóng in và phát
-------------------------------------------------------------------------------------------------Vận dụng tài liệu chuẩn kiến thức, kĩ năng thiết kế tiết Đọc – hiểu văn học Việt Nam trong
trường THPT. Huỳnh Quang Sơn
- 10 -


3.

4.

5.

6.
7.

hành tài liệu Hướng dẫn thực hiện chuẩn KT-KN môn Ngữ văn để mỗi GV
có một bộ (03 quyển) và các bậc phụ huynh có thể mua giám sát việc học
tập của con em mình.
Công việc dạy Ngữ văn là công việc luôn đòi hỏi chúng ta không ngừng tận
tâm, tận lực một cách say mê với nghề; công việc đầy nhọc nhằn ngày đêm
nhưng cũng chính vì thế mà dạy Văn đem lại cho cuộc đời ta bao hạnh phúc
tinh thần. Ta có quyền tự hào về điều đó.
GV dạy Ngữ văn đã có quá nhiều nỗ lực trong công việc của mình, nay cần
nỗ lực hơn nữa để bắt kịp yêu cầu mới; Phải khiêm tốn học hỏi đồng nghiệp
qua các cuộc họp tổ chuyên môn, qua trao đổi thông tin, tư liệu với đồng
nghiệp xa gần.

-------------------------------------------------------------------------------------------------Vận dụng tài liệu chuẩn kiến thức, kĩ năng thiết kế tiết Đọc – hiểu văn học Việt Nam trong
trường THPT. Huỳnh Quang Sơn
- 11 -


- Phong cách thơ Hàn Mặc Tử qua bài thơ : Một hồn thơ luôn quằn quại yêu,
đau; trí tưởng tượng phong phú; hình ảnh thơ có sự hòa quyện giữa thực và ảo.
2) Kĩ năng
- Đọc hiểu một bài thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại
- Cảm thụ, phân tích tác phẩm thơ.
3) Thái độ : Tình yêu thiên nhiên, đất nước và con người.
III. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC
1) Ổn định tổ chức lớp
2) Kiểm tra việc chuẩn bị bài của HS
3) Dẫn vào bài mới ( HS mở sách vở xong, GV nói chậm lời vào bài. )
Trời hỡi nhờ ai cho khỏi đói
Gió trăng có sẵn làm sao ăn
Làm sao giết đuợc nguời trong mộng
Để trả thù cho duyên kiếp phũ phàng.
Hàn Mặc Tử thầm yêu Hoàng Cúc, một thiếu nữ xinh đẹp ở thôn Vĩ Dạ Huế. Rồi xa cách. Rồi lâm bệnh. Lâu chưa về Vĩ Dạ… Khoảnh khắc kì diệu của
tâm linh, thi nhân đã để cho đời một bài thơ bất tử - Đây thôn Vĩ Dạ
HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY VÀ TRÒ
YÊU CẦU CẦN ĐẠT
I HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY VÀ TRÒ
Hoạt động 1 : TÌM HIỂU KHÁI QUÁT
 HS đọc tiểu dẫn và tóm tắt
1- Tác giả Hàn
* GV hỏi : Cuộc đời và sự nghiệp văn học của Hàn
Mặc Tử - Nguyễn
Mặc Tử có gì đặc biệt ?

tặng cô gái thôn Vĩ tập Gái quê, sau khi xuất
Viết năm 1938, in trong tập
bản. Hoàng Cúc nhận tập thơ và biết tác giả lâm thơ Điên – tập thơ được khơi
-------------------------------------------------------------------------------------------------Vận dụng tài liệu chuẩn kiến thức, kĩ năng thiết kế tiết Đọc – hiểu văn học Việt Nam trong
trường THPT. Huỳnh Quang Sơn
- 12 -


bệnh hiểm nghèo, cô đã gửi bức ảnh phong nguồn cảm hứng từ mối tình
cảnh Huế và lời hỏi thăm => Duyên cớ để viết đơn phương của Hàn Mặc Tử
bài thơ này.
với Hoàng Thị Kim Cúc.
* GV hướng dẫn HS đọc văn bản (Giọng hân
hoan – bồi hồi; trầm ngâm - sâu lắng; Trách b) Thể thơ
móc - nghi ngờ. GV nhận xét 2 HS đọc và Giải Thất ngôn trường thiên ( 3
thích từ - nhóm từ : Vĩ Dạ, sông trăng, khách,) khổ / bài, mỗi khổ 4 câu ).
Thơ điên ( trạng thái sáng tạo từ đau
thương bên trong, hưng phấn cực điểm, tâm tư c) Bố cục
xé rào vượt biên giới thông thường, không phải 3 đoạn = 3 chặng cảm xúc.
trạng thái bệnh lí . )
- Cảnh ban mai thôn Vĩ và
Vĩ Dạ ngày nay :
tình người
Nhà ai ở tuốt sâu trong hẽm
- Cảnh hoàng hôn thôn Vĩ và
Bỗng chốc xông ra giữa mặt tiền.
tâm trạng của tác giả.
Hình ảnh Vĩ Dạ không còn nguyên như lúc tác - Nỗi niềm thôn Vĩ
giả sáng tác do đô thị hóa.
HoạT động 2 : ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

như ngọc ?
khi xuất hiện con người ( nắng
-------------------------------------------------------------------------------------------------Vận dụng tài liệu chuẩn kiến thức, kĩ năng thiết kế tiết Đọc – hiểu văn học Việt Nam trong
trường THPT. Huỳnh Quang Sơn
- 13 -


 HS tái hiện, trình bày cảm nhận
* GV định hướng:
Thời gian : Lúc bình minh. Cảnh đuợc tái
hiện, tái tạo trong hồi tuởng, tuởng tượng từ nét
bút gợi tả và quan sát tinh tế.
Cảnh sắc : nắng hàng cau thanh tân...,
nắng mới lên tinh khiết, thanh sạch như chưa
hề vướng bụi trần… mướt quá, xanh như ngọc :
mỡ màng, mềm mại, tràn trề nhựa sống => đảo
ngọc. Cảnh như hư, như thực.
* GV hỏi : Mặt chữ điền là khuôn mặt như
thế nào ? Mặt của ai ? Vì sao ? Hình ảnh
mặt chữ điền thấp thoáng qua màn lá trúc
gợi lên cảm xúc gì ?
 HS trả lời (1- 2 em)
* GV định hướng : Có nhiều cách hiểu về mặt
chữ điền trong đó có 2 cách hiểu chính: Mặt
của cô gái thôn Vĩ phúc hậu, thủy chung; mặt
của chính chủ thể trữ tình – chàng trai. Lá trúc
che ngang mặt chữ điền : Vẻ đẹp kín đáo, dịu
dàng.
* GV hỏi : Đặt bức tranh thôn Vĩ ( đẹp,
trong trẻo, gợi cảm, đầy sức sống ) trong nỗi


 Cảnh ban mai thôn Vĩ
tươi sáng, ấm áp, sống động
và tình người tha thiết trở về
trong hoài niệm, sống trọn vẹn
với kí ức đẹp đẽ nhất.
Khổ 2 : Cảnh hoàng hôn và tâm trạng của tác giả
* GV hỏi : Phạm vi không gian và thời gian có gì Hai câu đầu :
thay đổi ? Phân tích bức tranh thiên nhiên ở hai Bao quát toàn cảnh với :
câu thơ đầu ?
- Hình ảnh gió mây chia
 HS đọc và trả lời
lìa đôi ngả;
* GV bổ sung - nhấn mạnh :
- Dòng nước buồn thiu
Không gian : Cảnh ban mai thôn Vĩ nhường lại cho hoa bắp lay gợi nỗi buồn
cảnh trời, mây, sông, nước Huế.
hiu hắt.
Thời gian : Buổi ban mai ở Vĩ Dạ đã chuyển vào => Mặc cảm chia lìa bỏ
ngày rồi sang đêm. Thiên nhiên ban ngày mở ra buồn vào sông nước, chia
trước hết là một thiên nhiên đứt gãy… Tứ thơ vận lìa cả gió, mây.
-------------------------------------------------------------------------------------------------Vận dụng tài liệu chuẩn kiến thức, kĩ năng thiết kế tiết Đọc – hiểu văn học Việt Nam trong
trường THPT. Huỳnh Quang Sơn
- 14 -


động từ thực sang ảo. Lời thơ tách thành hai vế tiểu
đối => Ừ thì Huế đẹp thơ nhưng mà Huế trắc trở
lắm thay.
Hương giang như một sinh thể có tâm trạng

khát vọng thật đau đớn (…)
Khổ 3 : Nỗi niềm thôn Vĩ
* GV gọi 1 HS đọc và phát hiện sự khác biệt về cảnh vật và
con người ở khổ thơ thứ 3 so với khổ 2 ?
 HS đọc và so sánh
* GV nêu vấn đề để thảo luận nhóm ( Tổ ). Thời gian : 4
phút. Cả khổ thơ xoáy vào hình bóng của ai ? Hình bóng
ấy xuất hiện trong mộng ảo như thế nào ? ( phân tích cái
ảo của một giấc mơ, cái ảo của một sắc áo, cái ảo của một
lời giải thích ).
G HS thảo luận – đại diện nhóm phát biểu – các nhóm nhận
xét lẫn nhau .

Cảnh, người
trong
mộng
(mơ).
Thiên
nhiên nhường
chỗ cho sự hiện
diện của con
người.

* GV bổ sung, cho điểm mỗi nhóm, nhấn mạnh:
Thế giới ảo tràn ngập khổ thơ, chồng chất ba tầng
Thứ nhất – Cái ảo của một giấc mơ : Giấc mơ được cắt ra
hai cõi
+ Mơ : Cõi chủ thể, ngóng đợi đau đáu đến mộng mị
+ Khách đường xa : Cõi khách thể, phép điệp ngữ đẩy
bóng mĩ nhân xa dần… xa dần… rồi hút bóng. Chủ thể hướng

Thì ra trái tim mĩ nhân mới chính là thiên đường bí mật nằm
trong tà áo trắng. Đâu phải chuyện không nhìn ra sắc áo mà
là chuyện không nhìn ra sắc lòng. Cái bí mật này mới là cội
nguồn đích thực của bài thơ. Tình thế ở khổ 1 hóa ra là tình
thế giả. Đến câu kết của bài thơ ta mới nhận ra nơi ẩn náu của
tình thế thật của bài thơ : tình thế tương tư. Bảng lảng trong
bài thơ là một tà áo kì lạ, như có, như không. Cái đẹp là thế :
Vừa quyến rũ cao sang để ta đam mê, ngưỡng vọng, vừa quá
tầm tay, đầy bí ẩn để ta suốt đời theo đuổi rồi hụt hẫng.

đường xa.

Hai câu cuối
Mang chút
hoài nghi mà lại
chan chứa niềm
thiết tha với
cuộc đời.
Bỏ cái thực,
chạy theo cái
đẹp mơ ảo là bi
kịch riêng của
Hàn Mặc Tử và
của các nhà thơ
lãng mạn nói
chung.

Hoạt động 3 : III - TỔNG KẾT
* HS đọc Ghi nhớ và tóm tắt
1- Nghệ thuật

như thế. Cái Đẹp là bí ẩn, đó là sức hút vô tận của thơ ca và của của nhà
cuộc đời này.
thơ.
* GV mở dĩa DVD – Hồng Vân ngâm bài Đây thôn Vĩ Dạ
Hoạt động 4 : IV - HƯỚNG DẪN TỰ HỌC
1/- Tại lớp
* Vì sao nói Hàn Mặc Tử là một hiện tượng lạ trong thi ca Việt Nam hiện đại ?
 HS trả lời ( Từ 1- 2 HS )
- GV bổ sung và cho HS điểm.
- Phân tích cấu tứ độc đáo của bài thơ và mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình
trong Đây thôn Vĩ Dạ
 HS trả lời
* GV gợi dẫn và cho HS điểm
2/- Tại nhà
- Học thuộc lòng bài thơ
- “Đây thôn Vĩ Dạ” vừa đem đến cho người đọc bức tranh thiên nhiên đặc
trưng cho hoa cỏ, núi sông một vùng miền Trung nước Việt, vừa cho người ta
thấy được vẻ đẹp lãng mạn của tình yêu thời Thơ mới”.
Anh ( chị ) hiểu như thế nào về ý kiến trên.

Thiết kế ( Đại cương)
Tiết 67 - 68

NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH
(Trích – Nguyễn Thi)
I.

MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT
 Hiểu được nguồn gốc tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn và những chiến
thắng của dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ .

gia đình, nó là nỗi niềm sâu thẳm của người chiến sĩ ra trận lần đầu. Chúng ta cùng chia
sẻ điều đó với tác giả qua tác phẩm Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi.
HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY VÀ TRÒ
Hoạt động 1 : Tìm hiểu khái quát
 GV cho HS chuẩn bị ở nhà trên cơ sở
dựa vào tiểu dẫn (nhất là câu văn khái quát
về sự nghiệp văn học của Nguyễn Thi) và
các nguồn tài liệu khác.
 GV gọi 2 HS giới thiệu tác giả, sau đó
GV nhận xét và chốt lại và cho HS gạch
chân 1 số ý quan trọng (Tên tác phẩm; giải
thưởng…).
 HS : Thực hiện chỉ dẫn
Hoạt động 2 : Đọc và kể tóm tắt văn bản
 GV :Yêu cầu đọc : Giọng hồi ức.
 GV nêu tiêu đề từng đoạn; HS nêu
giới hạn đoạn hoặc ngược lại
 HS làm theo yêu cầu của GV
 GV : Tác giả chọn cách trần thuật kể
chuyện nào ? tác dụng của cách không
theo sự việc một cách trình tự.
 GV có thể chiếu sơ đồ hóa cốt truyện
để HS theo dõi (…)

YÊU CẦU CẦN ĐẠT
I- TÌM HIỂU KHÁI QUÁT
1. Tác giả Nguyễn Thi (1928 – 1968)
Là một trong những cây bút văn

xuôi hàng đầu của văn nghệ giải phóng

HS suy nghĩ trả lời

điểm nhìn của nhân vật Việt – Ngôi thứ
=> Tác dụng của cách trần thuật : Đồng
hiện; Trữ tình; tự nhiên; cốt truyện linh
hoạt.
d) Tóm tắt cốt truyện
e) Bố cục đoạn trích Những hồi ức của
Việt khi Việt tỉnh dậy lần thứ tu: 3 đoạn

Hoạt động 3 : Đọc – hiểu chi tiết
II- ĐỌC – HIỂU CHI TIẾT
 GV : Hãy khái quát tính cách và vai 1- Nhân vật Việt
trò của nhân vật Việt?
- Là một thanh niên mới lớn, rất hồn
 HS thảo luận và trả lời
nhiên (không sợ chết nhưng lại rất sợ
ma, hay giành với chị, đi chiến đấu vẫn
mang súng cao su trong người,…);
- Có một tình yêu thương gia đình sâu
 GV : Hãy khái quát tính cách và vai đậm, một tính cách anh hùng, tinh thần
trò nhân vật Chiến ?
chiến đấu gan dạ, kiên cường.
- Trong anh có dòng máu của những
 GV: Đặc điểm chung của hai chị em con người gan góc, sẵn sàng hi sinh vì
Chiến, Việt?
độc lập, tự do của Tổ quốc (còn nhỏ mà
 HS trả lời
dám tấn công kẻ giết cha, xin đi tòng
 GV chốt lại:


đình?
phải nằm lại chiến trường.
 HS ( Thảo luận 3 phút. Mỗi tổ một 
Truyện kể theo dòng nội tâm của
nhóm – Sau đó cử đại diện trả lời khái Việt khi liền mạch (lúc tỉnh), khi gián
quát.)
đoạn (lúc ngất) của “người trong cuộc”
làm câu chuyện trở nên chân thật hơn;
 GV hỏi (Dành cho HS giỏi) :
có thể thay đổi đối tượng, không gian,
Qua câu chuyện Những đứa con trong thời gian, đan xen tự sự và trữ tình.
gia đình, em lí giải như thế nào về sức 
Chi tiết được chọn lọc vừa cụ thể
mạnh kì diệu của dân tộc ta thời cả nước vừa giàu ý nghĩa, gây ấn tượng mạnh.
đánh Mĩ?

Ngôn ngữ bình dị, phong phú,
 HS trả lời
giàu giá trị tạo hình và đậm sắc thái
 GV định hướng (…)
Nam Bộ.
 GV : Em hãy đọc kĩ Ghi nhớ
2- Ý nghĩa văn bản
 HS đọc và nhập tâm.
Sự hòa quyện giữa tình cảm gia
đình và tình yêu nước, giữa truyền
 GV : Qua câu chuyện về những con thống gia đình và truyền thống dân tộc
người trong một gia đình nông dân Nam đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn
Bộ có truyền thống yêu nước, căm thù của con người Việt Nam, dân tộc Việt

NGƯỜI THỰC HIỆN

HUỲNH QUANG SƠN

-------------------------------------------------------------------------------------------------Vận dụng tài liệu chuẩn kiến thức, kĩ năng thiết kế tiết Đọc – hiểu văn học Việt Nam trong
trường THPT. Huỳnh Quang Sơn
- 21 -




Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status