Nghiên cứu một số giải pháp chuẩn bị kỹ thuật nhằm phòng tránh ngập lụt trong QHXD khu đô thị Chân Mây, tỉnh Thừa Thiên Huế - Pdf 35

1
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Lũ lụt miền Trung nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng là một
trong những tai biến tự nhiên, thường xuyên đe dọa cuộc sống của người dân
và sự phát triển kinh tế xã hội trong vùng.
Vào những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI thiên tai lũ lụt đã liên tiếp
xảy ra. Đặc biệt các trận lũ lịch sử vào tháng XI và tháng XII/1999 ước tính
tổn thất nhiều tỷ đồng, làm chết hàng trăm người.... Lũ lụt đã để lại hậu
quả hết sức nặng nề, hàng ngàn hộ dân phải di dời khỏi các vùng sạt lở, ngập
lụt, hệ sinh thái môi trường các vùng cửa sông ven biển bị hủy hoại nghiêm
trọng.
Lũ lụt Miền Trung có những nét đặc trưng cơ bản: tần suất lớn, trung
bình hàng năm có khoảng 3 - 4 trận lũ xuất hiện trên các sông; thời
gian truyền lũ rất nhanh, ngập lụt xẩy ra khi có mưa lớn chỉ sau từ 2 đến 8 giờ;
thời gian duy trì ngập lụt ngắn; cường suất lũ rất lớn và rất bất ổn định, thay
đổi theo từng đoạn sông và từng trận lũ; biên độ lũ cao, thời gian lũ lên rất
ngắn gây ra ngập lụt nghiêm trọng.
Khu đô thị Chân Mây nằm trong khu vực có điều kiện địa hình phức tạp
gồm 3 dạng cơ bản: Địa hình đồi núi phía Nam, đây là địa hình mà nước mưa có
thể đổ về khu quy hoạch rất nhanh. Địa hình đồng bằng và các doi cát ven biển,
khi có lũ về dễ bị ngập úng. Địa hình thấp trũng dọc theo sông Bù Lu, thường
xuyên bị ngập úng khi có lũ và khi mưa lớn.
Theo báo cáo thế giới, Việt Nam là một trong các nước hàng đầu sẽ phải
chịu tác động mạnh của hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu trong 30 năm tới.
Khu đô thị Chân Mây cũng như các rất nhiều các đô thị ven biển khác, hàng năm
đều phải gánh chịu các trận lụt, bão lũ gây thiệt hại nghiêm trọng về người và


2
của. Vì vậy đề tài “ Nghiên cứu một số giải pháp chuẩn bị kỹ thuật nhằm

Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra, khảo sát hiện trạng, thu thập tài liệu.
- Phương pháp phân tích, đánh giá các thông tin được thu thập.
- Phương pháp tổng hợp, so sánh.
- Phương pháp kế thừa có chọn lọc những kết quả đã nghiên cứu về khu đô thị
Chân Mây .
Hướng kết quả nghiên cứu
- Đưa ra được các giải pháp chuẩn bị kỹ thuật phòng tránh ngập lụt, giảm nhẹ
hậu quả do ngập lụt tại khu đô thị Chân mây, Tỉnh Thừa Thiên Huế.
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Nghiên cứu chung các giải pháp chuẩn bị kỹ thuật có tính ứng dụng cao
trong cuộc sống, để thuận tiện trong quản lý, hiệu quả trong công tác phòng
tránh ngập lụt và giảm thiểu hậu quả do thiên tai, hướng đến mục tiêu xây dựng
và phát triển đô thị bền vững trong tương lai.
- Làm ví dụ điển hình cho các khu đô thị có điều kiện địa hình tương tự trong
cả nước.
Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan CBKT phòng tránh ngập lụt tại khu đô thị Chân Mây,
tỉnh thừa Thiên Huế.
Chương 2: Cơ sở khoa học của công tác CBKT Khu đô thị Chân Mây, tỉnh Thừa
Thiên Huế với vấn đề phòng tránh ngập lụt.
Chương 3: Đề xuất các giải pháp CBKT nhằm phòng tránh ngập lụt trong
QHXD khu đô thị Chân Mây, tỉnh Thừa Thiên Huế.


4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CBKT PHÒNG TRÁNH NGẬP LỤT TẠI KHU
ĐÔ THỊ CHÂN MÂY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
1.1.

khu kinh tế thì việc hình thành khu đô thị mới Chân Mây với đầy đủ các chức
năng đáp ứng được các nhu cầu của khu kinh tế là vô cùng cần thiết.
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
a) Vị trí và giới hạn khu đất
Vị trí khu vực nghiên cứu nằm ở phía Tây Nam tỉnh Thừa Thiên Huế,
thuộc địa phận huyện Phú Lộc, được giới hạn như sau:
- Phía Đông giáp khu công nghiệp và khu phi thuế quan
- Phía Tây giáp dãy núi Phước Tượng
- Phía Nam giáp đường cao tốc quy hoạch
- Phía Bắc giáp núi Vĩnh Phong, khu du lịch Cảnh Dương
Khu đô thị mới : 2096ha

Khu CN công nghệ cao và
CN sạch:1345 ha

Hình 1.2. Quy hoạch khu đô thị Chân Mây (nguồn: Hồ sơ quy hoạch chi tiết xây
dựng tỉ lệ 1/2000 Khu đô thị mới Chân mây, tỉnh Thừa Thiên Huế)
Tổng diện tích khu vực nghiên cứu là 3441 ha trong đó:
+) Khu vực quy hoạch 1 có diện tích 2096 ha được quy hoạch là khu đô thị mới


6
+) Khu vực quy hoạch 2 có diện tích 1345 ha được quy hoạch là khu vực đô thị
kết hợp với khu công nghệ cao được quy hoạch là Khu công nghiệp công nghệ
cao và công nghiệp sạch.[6]
b) Địa hình, địa mạo
*) Đặc điểm địa hình
- Địa hình đồng bằng và các đồi cát ven biển: Địa hình bằng phẳng, có
dạng lưng rùa, độ dốc nền từ 0,5 % ÷ 3 %, là đồng bằng của sông Bu Lu, thoải
về hai hướng: ra sông Bu Lu và ra phía biển.

- Mùa Đông: Gió Bắc, Đông Bắc, Đông và Đông Nam, gió Nam và Tây
Nam thỉnh thoảng cũng xuất hiện nhưng rất ít.
- Mùa Hè: Gió Đông, Đông Nam, gío Tây Nam kèm theo không khí khô
nóng.
Gió Tây (gió Lào) khô nóng: Thịnh hành vào tháng 5 ÷ tháng 8 - Nhiệt độ
> 35oC, độ ẩm thấp. Tổng số ngày thời tiết khô nóng 34,9 ngày. [1]
Bão:
Khu vực Chân Mây hàng năm chịu ảnh hưởng trực tiếp các cơn bão đổ bộ
vào vùng Thừa Thiên Huế. Bão thường gây ra mưa lớn, sạt lở đất nở các sườn
núi và lụt ở ven các sông lớn, nước dâng làm cho các cửa sông không thoát ra
biển mà tràn vào trong đất liền 2÷3 km làm cho các cánh đồng ven sông bị
nhiễm mặn
Số liệu đo được tại khu vực Chân Mây mực nước dâng trong bão Hmax là
2,0m (ở độ sâu 10m), mực nước triều lớn nhất trong bão 1,45m, mực nước trung


8
bình 0,7m, mực nước nhỏ nhất 0,2m.
Tần suất số cơn bão đổ bộ vào khu vực Thừa Thiên Huế hàng năm chiếm
8% với cường độ bão và sức gió từng cơn khác nhau.
Lượng bốc hơi: Trung bình năm 919mm. [1]
* ) Điều kiện thủy văn
Khu vực quy hoạch có hai con sông chính chảy qua:
• Sông Bù Lu
Khu vực Chân Mây chịu ảnh hưởng trực tiếp của thủy văn sông Bù Lu.
Sông này có hai nhánh chảy theo hướng Nam Bắc, đổ vuông góc với đoạn nhập
lưu sông chính Bù Lu. Sông chính có chiều dài rất ngắn, chảy qua xã Lộc Thủy,
cuối cùng đổ vào vịnh Chân Mây qua cửa Cảnh Dương (gần Mũi Chân Mây
Tây).
• Sông Thừa Lưu (sông Chu Mới)

1.1.2 Hiện trạng kinh tế-xã hội
a) Hiện trạng dân cư
Tổng dân số hiện trạng năm 2005, trong Khu kinh tế là 40.658 người bao
gồm thị trấn Lăng Cô và các xã Lộc Thuỷ, Lộc Tiến, Lộc Vĩnh thuộc huyện Phú
Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Tỷ lệ tăng dân số trung bình toàn Khu kinh tế giai đoạn 2001-2005 là
1,22%/năm. Trong đó, tỉ lệ tăng tự nhiên là 1,2%/năm, và tăng cơ học là 0,2
%/năm. Dân số chủ yếu tăng tự nhiên không có biến động nhiều. [25]
(* Ngày 20/12/2002 Chính phủ ra Nghị định số 105/2002/NĐ-CP thành
lập thị trấn Lăng Cô trên cơ sở diện tích tự nhiên của toàn xã Lộc Hải.)
Bảng 1.1 Hiện trạng dân số trong Khu kinh tế (Đơn vị tính: người)


10
Tổng lao
TT Tên xã, thị trấn

Năm

Năm

Năm

Năm

Năm

động năm

2001

11.80

*

2

3

27.790

27.990 28.25

28.75

13.882

12.648

0
12.769 12.87

1
13.07

6.461

8
11.907 5.780

(Thị trấn Lăng

bắt và nuôi trồng thủy sản, dịch vụ thương mại (trong đó thị trấn Lăng Cô: dịch
vụ thương mại là 40%, thủy sản là 35% và nông nghiệp là 25%). Dân cư có mức
sống thấp so với mặt bằng bình quân trong tỉnh. Trong những năm gần đây, do
được đầu tư một số công trình trọng điểm như cảng nước sâu Chân Mây, nâng
cấp quốc lộ 1A, xây dựng hầm đường bộ Hải Vân… Số người đến làm việc ở
trong khu vực tăng lên, dịch vụ và mức sống của người dân đã được cải thiện.
Dân số trong tuổi lao động có việc làm của khu kinh tế hiện nay khoảng
19.662 người chiếm 48,4% dân số, dân định cư tại khu kinh tế lao động chủ yếu


11
sản xuất nông ngư nghiệp, một số làm dịch vụ và lao động công nghiệp, xây
dựng.[25]
1.1.3 Hiện trạng xây dựng các công trình
a. Hiện trạng sử dụng đất
Bảng 1.2 Bảng đánh giá hiện trạng sử dụng đất
STT

Loại đất
1
Đất làng xóm
2
Đất trồng hoa màu
3
Đất trồng lúa
4
Đất trồng cây lâm nghiệp
5
Đất nghĩa địa
6

nhà tạm. Trong đó công trình kiên cố chiếm khoảng 18%; công trình tạm chiếm
khoảng 24%. Hiện tại đã và đang xây dựng khu tái định cư Lộc Tiến với tổng
mức đầu tư 8,2 tỷ đồng và chuẩn bị đầu tư một số khu tái định cư Lộc Vĩnh, Lập
An phục vụ giải phóng mặt bằng, xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật..v.v...
*) Công trình công cộng:
- Công trình công cộng tập trung bám dọc theo đường ra bãi biển Cảnh Dương
như: Chợ Lộc Vĩnh, UBND xã Lộc Vĩnh, trạm xá Lộc Vĩnh, bưu điện Lộc Vĩnh,
Trường cấp I, II Bình An, HTX Bình An. Ngoài ra là các cơ sở dịch vụ buôn bán
nhỏ dọc QL1A của tư nhân.


12
- Tổng diện tích đất hiện trạng dành cho trường học : 54562m2
- Hiện trạng đất dành cho tôn giáo: Khu vực đất dành cho tôn giáo nằm rải rác
không tập trung, được giữ nguyên và bảo tồn với tổng diện tích :37023 m2. [1]
1.1.4 Hiện trạng các công trình hạ tầng kỹ thuật
a) Hiện trạng về giao thông
Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô tiếp cận với cả 4 loại hình giao thông
quan trọng, nằm trên đường QL1A và đường sắt thống nhất, gần Cảng hàng
không quốc tế Phú Bài và cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng, cảng nước sâu
Chân Mây có thể tiếp nhận tàu hàng 30.000 DWT và tàu du lịch cỡ lớn. [6]
*) Giao thông đối ngoại
 Giao thông hàng không
Sân bay Phú Bài, cách đô thị mới Chân Mây 45km về phía Tây Bắc, được
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trở thành sân bay quốc tế, có đường băng 2800
x 45m. Sân bay Đà Nẵng, cách đô thị mới Chân Mây 75km về phía Nam- Sân
bay Đà Nẵng là 1 trong 3 sân bay lớn nhất cả nước, đạt cấp 4E theo tiêu chuẩn
phân cấp của ICAO, với tổng diện tích 815ha, trong đó khu vực hàng không dân
dụng là 150ha. [6]
 Giao thông đường sắt

Hiện nay cấp nước cho Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô có nhà máy
nước Bo Ghe công suất 6.000m3/ngđ đặt tại xã Lộc Tiến cách quốc lộ 1A
khoảng 150m. Nhà máy này lấy nước ở đập Khe Mệ và đập Bo Ghe. Nước được
dẫn từ đập khe Mệ về bể điều tiết bằng hệ thống đường ống dẫn D250 - L4300m
và từ đập Bo Ghe về bể điều tiết bằng đường ống D300 - L2300m. Cao độ xây
dựng của nhà máy nước Bo Ghe: +55,0m và hệ thống cấp nước theo phương
pháp tự chảy. [6]
 Mạng lưới đường ống
Khu vực Chân Mây hiện nay có tuyến ống chính Φ300mm trên QL1A và
tuyến Φ250mm trên đường nối QL1A với bến cảng số 1 Chân Mây. Khu vực xã
Lộc Vĩnh đã có mạng lưới đường ống phân phối Φ63- Φ90.
Khu vực Lăng Cô với đường ống cấp nước Φ150, Φ100, Φ80 dẫn tới khu
vực làng Chài và dọc đường quốc lộ 1A tới chân cầu Lăng Cô cũ. Tổng chiều dài
đường ống cấp nước khoảng 5,0 km. [6]
c) Hiện trạng cấp điện
 Nguồn điện
Khu vực Chân Mây – Lăng Cô hiện tại đang được cấp điện từ lưới điện
quốc gia 110KV khu vực miền Trung, trực tiếp từ trạm nguồn 110KV Cầu Hai:
110/35/22KV –1x25MVA và trạm 110KV Lăng Cô: 110/22KV – 1x25MVA.
 Lưới điện
 Lưới điện cao áp
Trên địa bàn nghiên cứu có các đường dây cao áp sau:
- Đường dây 500KV mạch kép Hà Tĩnh - Đà Nẵng. Đây là đường trục cấp


15
điện lớn của quốc gia.
- Đường dây 220KV mạch kép Hòa Khánh – Huế: chiều dài tuyến 80km,
dây dẫn ACSR 500. Đây là tuyến nguồn chính cấp điện cho tỉnh Thừa Thiên –
Huế, qua trạm 220KV Huế.

- Tiếp cận dễ dàng đường cao tốc, QL1A, cảng, sân bay , có thể thực hiện
vận tải một cách hiệu quả, kinh tế.
- Các khu dân cư hiện trạng và mộ dân sinh nằm dàn trải trong khu vực đã
có kế hoạch di dời, tái định cư phục vụ nhu cầu phát triển khu đô thị .
b)Khó khăn
- Tuyến đường QL1, và tuyến đường sắt cắt ngang qua khu vực nghiên cứu
quy hoạch đô thị gây cản trở cho việc phát triển giữa 2 khu chức năng (khu đô
thị phía bắc và khu công nghiệp cao phía nam).
- Cơ sở hạ tầng chưa được xây dựng (đường, điện, nước, thông tin liên
lạc).
- Hàng năm xảy ra các trận lũ lụt tương đối lớn, do công tác phòng chống
còn yếu kém.
- Công nghiệp phụ trợ chưa phát triển.
1.2. Ảnh hưởng của thiên tai bão lũ đến khu đô thị Chân Mây, tỉnh Thừa
Thiên Huế
1.2.1. Những thiệt hại do thiên tai gây ra
Thiên tai là một hiện tượng thiên nhiên gây ra các tổn thất về người và của cải
vật chất và làm xáo trộn mạnh các hoạt động của con người trên phạm vi lớn.
Dựa trên mức độ thiệt hại, phạm vi ảnh hưởng và tần suất xuất hiện của
chúng, có thể xếp các loại thiên tai ở Thừa Thiên Huế theo thứ tự như bảng sau:


17
Bảng 1.3 Phân loại các nhóm thiên tai ở Thừa Thiên Huế
Tác động mạnh

Tác động vừa

Tác động nhẹ


-Năm 1818 lũ làm kinh thành Huế ngập sâu 4,2m.
-Các trận lũ liên tiếp trong hai năm 1841-1842 làm hơn 700 ngôi nhà bị sập
đổ, lăng Minh Mạng bị hư hại nặng, số lượng người chết rất nhiều.
-Trận lũ tháng X năm 1844 đã làm thiệt mạng hơn 1000 người, 2000 ngôi
nhà bị phá huỷ hoàn toàn, cột cờ ở kỳ đài bị gãy, kinh thành huế ngập sâu 4,2m.
-Nhiều trận lũ tiếp theo vào các năm 1848 và 1856 phá huỷ hơn 1000 ngôi
nhà ở Huế, 2/3 Ngọ Môn bị sụp đổ.
Bước sang thế kỷ XX, Thừa Thiên Huế đã nhiều lần bị lũ tàn phá, đáng chú
ý là các trận lũ sau:


18
-

Trận lũ từ 20-26/IX/1953 làm 500 người thiệt mạng, 1290 ngôi nhà bị

trôi, 80% diện tích hoa màu bị mất trắng.
-

Sau ngày mới giải phóng một trận lũ lớn đã xảy ra ở Thừa Thiên Huế

từ ngày 15-20/X/1975 gây thiệt hại lớn về tính mạng và tài sản của nhân dân.
-

Từ ngày 28/X đến 1/XI/1983 một trận lũ lớn ở Thừa Thiên Huế đã

làm 252 người bị chết,115 người bị thương, 2100 ngôi nhà bị sập, 1511 ngôi nhà
bị trôi.
-


mái, làm hư hỏng nhiều công trình của ngành du lịch, thuỷ lợi, giao thông, thuỷ
sản, điện lực, thông tin liên lạc, gây tổn thất nặng nề cho ngành nông lâm nghiệp.
Tổng thiệt hại ước tính lên tới hàng trăm tỷ đồng. [21]
b. Ngập lụt
Vì ở khu vực Chân Mây – Lăng Cô không có số liệu quan trắc khí tượng thuỷ
văn nên chúng tôi phải căn cứ vào số liệu điều tra vết lũ năm 1998, 1999 và
trong các đợt khảo sát để phân tích tính toán.
Kết quả điều tra cho thấy tình hình ngập lụt của khu vực Chân Mây – Lăng Cô
không nghiêm trọng như hạ lưu sông Hương, sông Bồ và sông Ô Lâu vì ở đây
sông ngắn, lưu vực nhỏ lại sát biển nên lũ lên nhanh xuống nhanh. Hàng năm các
khu vực thấp ở Chân Mây- Lăng Cô đều bị ngập lụt. Thời gian ngập lụt dài mhất
khoảng 3 ngày ( như lũ năm 1999), ngắn nhất khoảng vài giờ. Những trận lụt
lớn xảy ra trong những năm qua trên khu vực này là: 1953, 1975, 1985, 1998,
1999, 2004. Do điều kiện địa hình không đồng nhất nên mức độ ngập lụt của các
vùng rất khác nhau và thay đổi theo từng trận lũ.
Có bốn khu vực chịu ảnh hưởng của những nguyên nhân khác nhau như sau:
• Khu vực ngập lụt nặng nhất nằm trên lưu vực sông Bù Lu (gồm hai nhánh
Thừa Lưu và Nước Ngọt) bao gồm xã Lộc Thuỷ và Lộc Tiến do mưa lớn gây ra


20
lũ lớn. Phần thượng nguồn sông Bù Lu phía tây quốc lộ IA bị quốc lộ IA và
đường sắt chắn ngang như một con đê nên khả năng thoát nước kém, làm tăng
mức độ ngập. Ở đây có những điểm ngập sâu nhất trong khu vực như: Thuỷ
Dương, Thuỷ Xuân, Bà Tơ.
• Tương tự như vậy, thôn Phú Hải (xã Lộc Vĩnh) và thôn Tam Vị (xã Lộc Tiến)
bị ngập lụt do ứ nước vì các con đường mới làm (đường đi Cảnh Dương, đường
đi cảng) thoát nước kém. Ngoài ra nước từ khu du lịch Làng Xanh chảy qua cũng
gây ngập lụt.
• Vùng ven biển Cảnh Dương, Cổ Dù, Bình An, khu vực cảng, bãi biển Lăng Cô

Trong đợt lũ đầu tháng 11 năm 1999 nhiều địa điểm ở đèo Phước Tượng, Phú
Gia và Hải Vân đã bị trượt lỡ nghiêm trọng. Theo kết quả điều tra, trong khu vực
Chân Mây có 2 địa điểm có nguy trượt lỡ đất cao là dưới chân núi Thổ Sơn và
Phú Gia (xã Lộc Tiến) với diện tích khoảng 3.000 m2 đe doạ ảnh hưởng 50 hộ
dân. Trên khu vực Lăng Cô những vị trí có nguy trượt lở đất cao là: thượng
nguồn Hói Mít, Hói Dừa, trên đèo Hải Vân. [21]
f. Sạt lở bờ sông, bờ biển:
Dọc theo hai bờ sông Bu Lu tình trạng sạt lỡ bờ sông xảy ra thường xuyên mỗi
khi lũ về. Chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là hai xã Lộc Vĩnh và Lộc Thuỷ. Ở thôn
Cảnh Dương xã Lộc Vĩnh vùng sạt lở dài 1 km, lấn sâu từ 3-20m. 78 hộ dân gồm
322 nhân khẩu sống trong vùng nguy cơ sạt lở, trong đó có 37hộ/106 khẩu nằm
trong vùng có nguy cơ cao. Ở xã Lộc Thuỷ số hộ chịu ảnh hưởng của sạt lỡ đất
và lũ quét là 450 hộ/2.210 khẩu. Tình trạng sạt lở ở Cảnh Dương xảy ra khi xây
dựng các hồ nuôi tôm làm cản trở và thay đổi dòng chảy.


22
Ngoài ra, tại cửa sông Bù Lu thôn Cảnh Dương và bãi biển Lăng Cô cũng bị
xâm thực mạnh do sóng biển và nước dâng trong bão. Rừng phòng hộ chắn sóng
và thảm thực vật bảo vệ bờ biển bị suy kiệt làm tăng cường xâm thực bờ biển
Lăng Cô hàng năm. Trong cơn bão CECIL năm 1985 khu vực Lăng Cô bị xâm
thực sâu vào bờ 15m, sau đó được bồi tụ lại. Trong cơn bão số 6 năm 2006 nhiều
công trình bảo vệ bờ biển bị phá huỷ như công trình bờ kè của khách sạn Thanh
Tâm. [21]
g. Lũ quét:
Là một trong những vùng có lượng mưa lớn nên lũ quét có thể xẩy ra ở thượng
nguồn các sông suối ở khu vực Chân Mây – Lăng Cô. Qua điều tra thực tế cho
thấy có 3 điểm đã xẩy ra lũ quét và có nguy cơ cao là: Hói Mít, Hói Dừa ở bờ tây
đầm Lập An, Thuỷ Yên, Thuỷ Cam ở thượng nguồn sông Nước Ngọt thuộc xã
Lộc Thuỷ, Thuỷ Dương ,Thuỷ Tụ ở thượng nguồn sông Thừa Lưu thuộc xã Lộc

đúng mức để có giải pháp phù hợp.
Trong số những ngành và lĩnh vực chịu tác động của nhiều loại thiên tai là môi
trường, du lịch và thuỷ sản.
Theo báo cáo hiện trạng môi trường ở khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô [1] thì
chất lượng môi trường ở khu vực này nằm trong giới hạn cho phép của tiêu
chuẩn môi trường Việt Nam. Tuy nhiên, cùng với tốc độ công nghiệp hoá và đô
thị hoá và dưới tác động của thiên tai xu thế môi trường có thể bị biến đổi theo
chiều hướng xấu. Từ những đánh giá chung trong bảng 4 có thể rút ra kết luận là:
với mức độ khác nhau, hầu hết các loại thiên tai xảy ra ở Lăng Cô đều có ảnh
hưởng đến môi trường, trong đó nặng nhất là bão, lụt, sự cố công nghiệp, sạt lở
đất.


24
Cũng như lĩnh vực môi trường, ngành du lịch chịu ảnh hưởng của tất cả các
thiên tai với mức độ khác nhau. Thiên tai tác động đến du lịch trên những khía
cạnh sau:
+ Làm hư hại cơ sở hạ tầng.
+ Làm xấu đi môi trường và cảnh quan du lịch.
+ Làm giảm sự hấp dẫn của địa điểm du lịch do đó làm giảm lượng khách đến.
+ Ảnh hưởng đến các loại hình du lịch nghỉ dưởng, du lịch sinh thái, du lịch biển
và du lịch mạo hiểm.
Trong khu vực Chân mây – Lăng Cô thiên tai tác động theo mùa và theo những
tần suất khác nhau. Bão, nước dâng, lũ quét xảy ra với tần suất nhỏ nhưng gây
thiệt hại lớn cho ngành du lịch, như bão Xangsane năm 2006 là một dẩn chứng.
Những khu du lịch ảnh hưởng của bão và nước dâng là Cù Dù, Cảnh Dương và
dọc bờ biển từ Chân Mây Đông đến cửa Lăng Cô. Bão, nước dâng không chỉ
gây tổn thất về cơ sở vật chất mà còn tàn phá môi trường, cảnh quan du lịch,
rừng phòng hộ ven biển, cản trở các hoạt động của du lịch. Thời gian thường xảy
ra bão từ tháng 9 đến tháng 11. Thời kỳ này cần chú ý theo dõi tin thời tiết khi

nhiên, với tần suất xuất hiện hàng năm, lũ lụt gây thiệt hại đáng kể cho các
ngành du lịch, thuỷ sản, thuỷ lợi, nông nghiệp và môi trường. Nhiều hộ dân đang
sống trong vùng nguy cơ sạt lở do lũ lụt gây ra.
Khu vực Hói Mít, Hói Dừa và xung quanh đầm Lập An độ sâu ngập lụt khá
lớn từ 1,5-3,2m nên cần điều tra kỹ để qui định cốt xây dựng phù hợp.
Tương tự như bão, nước dâng có tần suất xuất hiện thấp, nhưng rất nguy hiểm.
Trong cơn bão CECIL 1985 nhiều nhà cửa, tàu thuyền và ngư lưới cụ bị cuốn
trôi, nước mặn tràn qua bờ cát vào sâu trong đất liền 1-2km. Nhiều người bị chết.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status