ĐẠI HỌC SƢ PHẠM THÁI NGUYÊN
KHOA SAU ĐẠI HỌC
----------------------
Hoàng Thị Thu Hƣơng
BIẾN ĐỔI KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH
THÁI NGUYÊN THỜI KÌ ĐỔI MỚI (1986 - 2010)
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.03.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS.NGND Nguyễn Cảnh Minh
Thái Nguyên, 2013
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến quý thầy
cô trong khoa Lịch sử - trƣờng Đại học Sƣ phạm Thái Nguyên đã quan tâm giúp
đỡ chỉ bảo tận tình trong quá trình thực hiện đề tài. Nhờ đó tôi đã tiếp thu đƣợc
nhiều ý kiến đóng góp và nhận xét quí báu của quí thầy cô thông qua buổi bảo vệ
đề cƣơng.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS.NGND Nguyễn Cảnh
Minh đã trực tiếp hƣớng dẫn, định hƣớng chuyên môn, quan tâm giúp đỡ tận
tình và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất trong quá trình công tác cũng nhƣ thực
Hoàng Thị Thu Hƣơng
Trƣởng khoa lịch sử trƣờng ĐHSP
Giáo viên hƣớng dẫn đề tài
Thái Nguyên
(ký xác nhận)
(ký xác nhận)
TS. HàThị Thu Thủy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
PGS.TS Nguyễn Cảnh Minh
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Mục Lục
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 7
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................. 7
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................... 8
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài ................................... 10
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu .................................................................................. 10
3.2 Phạm vi nghiên cứu ..................................................................................... 10
3.3 Nhiệm vụ đề tài............................................................................................ 11
2.2.2.5 Xây dựng cơ sở hạ tầng ......................................................................... 64
Chƣơng 3: Biến đổi xã hội huyện Đại Từ thời kì đổi mới (1986 - 2010) .... 69
3.1 Giáo dục - đào tạo, văn hoá - thông tin - thể thao ....................................... 69
3.2 Y tế - môi trƣờng ......................................................................................... 78
3.3 Lao động - việc làm ..................................................................................... 84
3.4 Thu nhập - đời sống ..................................................................................... 86
3.5 Thực hiện các chính sách xã hội.................................................................. 88
3.6 Công tác an ninh - quốc phòng .................................................................... 91
KẾT LUẬN ...................................................................................................... 97
Tài liệu tham khảo ......................................................................................... 102
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Bảng chỉ dẫn
1. Các bảng thống kê
STT
Tên bảng
Trang
1
Diện tích, sản lƣợng và năng suất lúa vụ mùa thời kì 1956 - 1975
Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá hiện hành trên địa bàn phân
49
theo thành phần kinh tế
7
Biểu tổng số hộ kinh doanh thƣơng nghiệp - dịch vụ chia theo
54
ngành hàng (1990 - 1995)
8
Số ngƣời kinh doanh thƣơng mại, dịch vụ khách sạn, nhà hàng
56
của huyện Đại Từ trong tỉnh Thái Nguyên (từ năm 1995 đến
1998)
9
Chi ngân sách địa phƣơng
60
10
Bảng thống kê giáo dục mầm non giai đoạn 1991 - 1995
79
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2. Các biểu đồ
STT
Tên biểu đồ
Trang
1
Biểu đồ tỉ trọng về giá trị sản xuất của các ngành kinh tế qua các
26
năm
2
Biểu đồ thể hiện sự thay đổi diện tích, năng suất, sản lƣơng lúa
33
qua các năm (1990 - 2000)
3
thay da đổi thịt - Đại Từ trở thành một trong những huyện có tốc độ phát triển
nhanh nhất tỉnh Thái Nguyên.
Nói đến sự phát triển của một quốc gia, một vùng quê, vùng miền hay của
một địa phƣơng nào đó không thể không nói đến kinh tế bởi kinh tế đƣợc coi là
thƣớc đo trình độ phát triển của bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Vì thế khi
nghiên cứu về sự phát triển của một địa phƣơng tức là nghiên cứu về những
chuyển biến về kinh tế của địa phƣơng đó, từ đó kéo theo những chuyển biến về
mặt xã hội. Chiến tranh kết thúc, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ đã
đem lại hòa bình và thống nhất đất nƣớc. Đảng và nhân dân ta bắt tay vào công
cuộc xây dựng đất nƣớc. 10 năm sau ngày thống nhất đất nƣớc trải qua hai lần
thực hiện kế hoạch nhà nƣớc 5 năm của Đảng đề ra, bên cạnh những thành tựu
đạt đƣợc chúng ta đã mắc phải không ít những sai lầm, khuyết điểm, hạn chế,
đất nƣớc đứng trƣớc những khó khăn, khủng hoảng mà yêu cầu bức thiết là cần
phải đổi mới. Trong bối cảnh thế giới lúc bấy giờ, các nƣớc thuộc phe xã hội chủ
nghĩa đang lâm vào khủng hoảng trầm trọng và để thoát ra khỏi cuộc khủng
hoảng chế độ đó, mỗi quốc gia cần thiết phải tiến hành đổi mới để phù hợp với
đặc điểm của đất nƣớc mình và phát triển bắt kịp với các nƣớc thuộc phe đế
quốc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trƣớc tình hình đó, đƣờng lối đổi mới của Đảng đƣợc nêu ra lần đầu tiên
tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) và không ngừng đƣợc bổ sung,
hoàn thiện đƣờng lối trong các Hội nghị Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng và
các kì Đại hội Đảng toàn quốc sau đó. Sau hơn 25 tiến hành công cuộc đổi mới,
Việt Nam đã đạt đƣợc những thành tựu to lớn, toàn diện và có ý nghĩa lịch sử,
thay đổi mọi mặt đời sống của ngƣời dân: kinh tế tăng trƣởng ở mức tƣơng đối
cao, đời sống nhân dân không ngừng đƣợc cải thiện, tình hình chính trị và xã hội
thứ VI, VII, VIII, IX, X đều đƣa ra những chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội
của đất nƣớc và phƣơng hƣớng nhiệm vụ trong những giai đoạn tiếp theo.
Đặc biệt trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc không thể
không nói đến công cuộc đổi mới của đất nƣớc. Các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà
nƣớc cũng có nhiều tác phẩm viết về đổi mới nhƣ: “Đổi mới là đòi hỏi bức thiết
của đất nƣớc và thời đại” của Trƣờng Chinh, Nhà xuất Bản Sự thật, Hà Nội
1987; hai tác phẩm của Nguyễn Văn Linh là “Đổi mới sâu sắc và toàn diện trên
mọi lĩnh vực”, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội 1987 và “Đổi mới để tiến lên” Nhà
xuất bản Sự thật, Hà Nội 1991; cuốn “Sự nghiệp đổi mới của chủ nghĩa xã hội”
của Đỗ Mƣời… những tác phẩm trên đều mang tính chất lý luận và là những
định hƣớng cơ bản cho công cuộc đổi mới đất nƣớc.
Trong các cuốn: “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Thái - tập 1” (xuất bản năm
1980); “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Thái - tập 2” (xuất bản năm 1991) của Ban
nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Bắc Thái và các cuốn “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái
Nguyên - tập 1” (1936-1965) xuất bản năm 2003; “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái
Nguyên - Tập 2” (1965-2000) xuất bản năm 2005 của Ban chấp hành Đảng bộ
tỉnh Thái Nguyên, các tác phẩm trên đã phản ánh quá trình vận động cách
mạng, đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và thực hiện công cuộc đổi mới ở tỉnh Thái
Nguyên.
Năm 1991, Đảng bộ huyện Đại Từ - Bắc Thái xuất bản cuốn “Lịch sử
Đảng bộ huyện Đại Từ - tập 1” (1930-1954) viết về quá trình ra đời của chi bộ
Đảng đầu tiên ở Đại Từ, công cuộc vận động, chuẩn bị lực lƣợng khởi nghĩa vũ
trang tiến lên giành chính quyền tháng 8/1945 và cuộc kháng chiến chống Pháp
(1945 - 1954). Năm 2000, Huyện ủy Đại Từ xuất bản cuốn “Lịch sử Đảng bộ
huyện Đại Từ - tập 2” (1955 - 1995). Cuốn sách đã dựng lại quá trình cải tạo,
xây dựng xã hội chủ nghĩa và những thành tích lãnh đạo của Đảng bộ trên các
lĩnh vực kinh tế - văn hóa - an ninh - quốc phòng trong 10 năm đầu sau khi hòa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu từ khi đất nƣớc bắt đầu bƣớc vào thời
kì đổi mới 1986 đến năm 2010. Tuy nhiên, để làm sáng tỏ thêm những chuyển
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
biến trong thời kì đổi mới, luận văn còn đề cập khái quát đến tình hình kinh tế xã hội trƣớc đổi mới.
Về không gian: Luận văn đƣợc nghiên cứu với phạm vi giới hạn trong
huyện Đại Từ thuộc tỉnh Thái Nguyên với địa giới gồm 29 xã và 2 thị trấn (thị
trấn Đại Từ và thị trấn Quân Chu).
3.3 Nhiệm vụ đề tài
Khái quát về huyện Đại Từ: điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, tài nguyên
thiên nhiên, thành phần dân tộc, và tình hình kinh tế - xã hội của huyện trƣớc
năm 1986.
Nghiên cứu toàn diện những chuyển biến về kinh tế - xã hội của huyện từ
1986 đến 2010, qua đó rút ra những ƣu điểm và hạn chế của Đại Từ trong phát
triển kinh tế - xã hội giai đoạn 1986 - 2010.
4. Nguồn tƣ liệu, phƣơng pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tƣ liệu
Luận văn sử dụng các nguồn tài liệu liên quan gồm: Các văn kiện Đại hội
đại biểu toàn quốc của Đảng, các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Nhà nƣớc;
Các văn kiện, Nghị quyết, báo cáo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, Huyện ủy
Đại Từ, Ủy ban nhân dân huyện Đại Từ; Các số liệu thống kê của các cơ quan
kinh tế, văn hóa, giáo dục của tỉnh và huyện Đại Từ. Các nguồn tƣ liệu, các công
trình nghiên cứu khoa học đăng trên các sách chuyên khảo, các bài viết về đổi
mới kinh tế - xã hội đăng trên báo và tạp chí, đặc biệt là các cuốn Lịch sử Đảng
bộ tỉnh Thái Nguyên, Lịch sử Đảng bộ huyện Đại Từ và lịch sử Đảng bộ các xã,
thị trấn trên địa bàn huyện Đại Từ.
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các tài liệu điều tra thực địa.
4.2 Phƣơng pháp nghiên cứu
Chƣơng 1: Kinh tế - xã hội huyện Đại từ trƣớc đổi mới
1.1 Khái quát huyện Đại Từ (Thái Nguyên)
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Huyện Đại Từ nằm ở vùng Tây - Tây Bắc của tỉnh Thái Nguyên, với tọa
độ địa lý từ 210 30’ đến 210 50’ độ vĩ Bắc, từ 1050 32’ đến 1050 42’ độ kinh
đông; phía Bắc giáp huyện Định Hóa, phía Nam giáp huyện Phổ Yên và thành
phố Thái Nguyên, phía Đông giáp huyện Phú Lƣơng và phía Tây giáp hai tỉnh
Tuyên Quang và Vĩnh Phúc. Trung tâm của huyện là thị trấn Đại Từ nằm cách
thành phố Thái Nguyên 25 km về phía Tây Bắc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
* Điều kiện tự nhiên
Đại Từ có diện tích tự nhiên 577,4 km2, trong đó, diện tích đất nông
nghiệp là 166,01 km2, đất lâm nghiệp là 278,15 km2, đất nuôi trồng thủy sản là
6,51 km2, đất phi nông nghiệp là 84,38 km2, đất chƣa sử dụng là 42,35 km2.
Toàn huyện có 153,48 km2 rừng từ nhiên và 90,544 km2 rừng trồng từ 30 năm
tuổi trở lên.
Do nằm dọc theo thung lũng phía Đông dãy núi Tam Đảo và hệ thống núi
thấp (núi Hồng, núi Chúa ở phía Bắc, núi Pháo ở phía Đông) nên khí hậu Đại Từ
ôn hòa, nhiệt độ trung bình năm từ 220 đến 270C, lƣợng mƣa trung bình hằng
năm từ 1.800mm đến 2000mm, về mùa nóng thỉnh thoảng có những cơn giông
tạo thành lốc xoáy.
Về địa chất, Đại Từ nằm trong khu vực tạo sơn Caledoni, cách ngày nay
khoảng 480 triệu năm và hình thành xong trong thời kì Đại cổ sinh cách ngày
nay khoảng 255 triệu năm. Trong lần vận động kiến tạo cách ngày nay khoảng
25 đến 28 triệu năm đã làm cho khu vực Đại Từ đƣợc nâng cao thêm 200m đến
Mao, Minh Tiến, An Khánh, Cát Nê. Trên địa bàn huyện có 3 mỏ than lớn nhất
là mỏ than Làng Cẩm thuộc xã Hà Thƣợng với trữ lƣợng than mỡ 1,6 triệu tấn,
chất lƣợng khá tốt có thể khai thác từ 17 đến 20 năm, mỏ than Núi Hồng thuộc
xã Yên Lãng có trữ lƣợng khoảng 15 triệu tấn và mỏ than Bắc Làng Cẩm trữ
lƣợng khoảng 1,6 triệu tấn. Cả 3 mỏ này đều do trung ƣơng quản lý và khai thác
với sản lƣợng hàng năm từ 100 đến 200 triệu tấn. Hiện nay diện tích khai thác
của 3 mỏ này mới khoảng 43% so với thiết kế nên khả năng khai thác có thể cho
khoảng 100 năm nữa.
Quặng thiếc có rất nhiều ở khu vực xã Hà Thƣợng. Vonfram có nhiều ở
khu vực đá liền với trữ lƣợng rất lớn. Hiện nay, mỏ khoáng sản đa kim Núi Pháo
đang đƣợc xây dựng và bắt đầu đi vào hoạt động ở khu vực xã Hà Thƣợng là mỏ
khoáng sản với nhiều loại khoáng sản quý nhƣ Vàng, vonfram, bitmut, pirit,…
là mỏ khoáng sản đa kim lớn nhất Đông Nam Á, và là mỏ vonfram lớn thứ 2
trên thế giới. Ngoài ra, quặng thiếc còn có rải rác ở các xã Yên Lãng, Phú
Xuyên, La Bằng, Hùng Sơn, Văn Yên, Tân Thái, Phục Linh… quặng titan và
quặng sắt có trữ lƣợng không lớn ở các xã phía bắc huyện. Barit và pirit có rải
rác ở nhiều nơi, photphorit có nhiều ở Núi Văn, Núi Võ thuộc xã Ký Phú. Đại
Từ có mỏ đất sét lớn nhất tỉnh, có các loại đá macma, cacbonat dùng làm đá ốp
lát trong xây dựng và cát sỏi ở sông Công có thể khai thác quanh năm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Về giao thông: Sông Công tuy có nhiều ghềnh thác nhƣng trƣớc đây gỗ,
tre, nứa đóng bè vẫn có thể xuôi về ngã ba Vát, theo sông Cầu xuống các tỉnh
đồng bằng Bắc bộ. Ngày nay, do việc xây dựng đập Núi Côc nên việc giao
thông đƣờng thủy theo sông Công không còn nữa.
Từ xƣa, Đại Từ đã có đƣờng bộ về tỉnh lị Thái Nguyên, xuống các huyện
Phổ Yên, sang các tỉnh Vĩnh Phúc và Tuyên Quang, lên Định Châu (Định Hóa).
Đƣờng 13A nay là quốc lộ 37 chạy qua đất Đại Từ từ ngã ba Bờ Đậu sang đất
giới hành chính và đặt tên mới cho phù hợp.
Ngày 27/10/1967, thành lập thị trấn Quân Chu. Ngày 01/10/1083, xã Phúc
Thọ, xã có nhiều diện tích ngập trong lòng hồ Núi Cốc - sáp nhập với các xóm
Tân Thắng, Đồng Đẳng của xã Phúc Thuận (Phổ Yên), xóm Yên Ninh của xã
Phúc Trìu (thành phố Thái Nguyên). Cùng ngày, xóm Quyết Tiến của xã Tân
Thái sáp nhập vào xã Bình Thuận của huyện Đại Từ. Năm 2002, xã Phục Linh
đƣợc chia thành 2 xã Phục Linh và Tân Linh.
Tháng 12/2005 huyện Đại Từ có 29 xã và 2 thị trấn, với tổng số 474 xóm
và 8 tổ dân phố. Từ đó đến nay, địa giới hành chính của huyện Đại Từ không
thay đổi.
1.1.3 Dân cƣ, dân tộc và truyền thống đấu tranh
Là mảnh đất đƣợc thiên nhiên ƣu đãi, từ xa xƣa, huyện Đại Từ đã là nơi
sinh sống của nhiều dân cƣ, dân tộc. Năm 1933, dân số của Đại Từ là 11.641
ngƣời. Sau ngày toàn quốc kháng chiến, đồng bào từ các tỉnh miền xuôi, từ các
đô thị lên tản cƣ kháng chiến và cán bộ, bộ đội chuyển đến ở sau đó sinh cơ, lập
nghiệp ở Đại Từ khá nhiều. Đến tháng 5/1948 dân số toàn huyện là 28.400
ngƣời. Trong những năm 60 của thế kỉ XX, Đại Từ lại đón tiếp hàng ngàn hộ gia
đình từ các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Hƣng Yên… lên khai hoang,
phát triển kinh tế miền núi, đến đầu những năm 70, dân số Đại Từ lên đến
79.382 ngƣời. Năm 2006, dân số toàn huyện là 167.323 ngƣời (trong đó có
84.679 nữ và 82.644 nam), dân số sống ở vùng nông thôn là 158.961 ngƣời, ở
vùng đo thị là 8.362 ngƣời.
Về thành phần dân tộc, huyện Đại Từ gồm 7 dân tộc chính. Trong đó,
ngƣời Kinh chiếm đa số 77,67%, Tày chiếm 7,9%, Nùng 6,3%, Sán Chay
3,51%, Dao 4,48%, Ngái 0,08%, Mƣờng 0,04%; mật độ dân số bình quân là
290,77 ngƣời/km2.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
dân.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, nhân dân đang nô nức xây
dựng đời sống mới, chống giặc đói, giặc dốt thì thực dân Pháp lại nổ súng xâm
lƣợc. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Tuy đầu não lúc bấy giờ của kháng chiến
đƣợc đặt ở Định Hóa, song Đại Từ vẫn là căn cứ địa kháng chiến quan trọng.
Nhiều cơ quan quan trọng của Trung ƣơng đƣợc đóng ở phía Bắc của Đại Từ.
Tại mảnh đất này diễn ra Đại hội Liên đoàn lao động Việt Nam lần thứ nhất, Đại
hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam lần thứ nhất. Cũng tại mảnh đất này đã tổ chức
ngày thƣơng binh liệt sĩ đầu tiên 27/7/1947, nơi làm thì điểm cải cách ruộng đất,
ngƣời cày có ruộng và là nơi xây dựng hợp tác xã nông nghiệp đầu tiên của cả
nƣớc.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp tại đây đã diễn ra những trận chiến
đấu ác liệt nhằm bảo vệ các cơ quan đầu não của ta. Những ngƣời dân công
dũng cảm đã đối đầu với bom đạn của kẻ thù để giữ cho đƣợc con đƣờng chiến
lƣợc qua Đèo Khế sang Tuyên Quang lên Tây Bắc.
Những phong trào yêu nƣớc: tòng quân, đóng thuế nông nghiệp, mua
công trái, ủng hộ bộ đội… cũng diễn ra rất sôi nổi.
Trong những năm kháng chiến, Đại Từ vinh dự nhiều lần đón Bác Hồ về
thăm, sinh sống và làm việc tại đây. Trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã
hội Bác lại đến thăm hợp tác xã Cầu Thành (Hùng Sơn) để động viên bà con xây
dựng cuộc sống mới. Thực hiện lời Bác dạy hợp tác xã đã phát triển mạnh và
xuất hiện anh hùng Trƣơng Văn Nho.
Thời kì chống Mỹ cứu nƣớc Đại Từ là một điểm bị giặc Mỹ bắn phá ác
liệt. Năm 1966, tại đồi 75 thuộc xã Hà Thƣợng, dân công bộ binh đã dùng súng
bộ binh bắn rơi một máy bay phản lực hiện đại của Mỹ. Trong những năm tháng
nên chăn nuôi đại gia súc và gia súc cũng khá phát triển. Năm 1932, đàn trâu bò
của huyện đã có 3.500 con, đàn lợn có trên 5000 con.
Trong những năm toàn quốc kháng chiến, Đại Từ là một huyện giải
phóng nằm trong khu căn cứ địa cách mạng, nên việc xây dựng hậu phƣơng,
bảo vệ kháng chiến là một nhiệm vụ quan trọng. Các cấp ủy, chính quyền địa
phƣơng đã vận động nhân dân hăng hái tăng gia sản xuất.Với những chủ
chƣơng đúng đắn, cùng với sự tham gia, hăng hái, nhiệt tình của nhân dân, diện
tích canh tác không ngừng đƣợc mở rộng, diện tích đất hoang hóa đƣợc cải tạo
tăng lên. Nhờ đó, mặc dù ảnh hƣởng nhiều của thiên tai nhƣng sản lƣợng gieo
trồng của huyện vẫn đại 15 nghìn tấn lƣơng thực (năm 1950). Bên cạnh đó,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
chăn nuôi cũng khá phát triển, nhờ sự quan tâm đúng đắn của các cấp chính
quyền địa phƣơng, Đại Từ trở thành một điểm mẫu về chăn nuôi trong toàn
tỉnh.
Với truyền thống đấu tranh anh dũng, cùng với nhân dân cả nƣớc, nhân
dân các dân tộc huyện Đại Từ đã đóng góp to lớn vào thắng lợi của cuộc kháng
chiến chống Pháp. Hòa bình lập lại ở miền Bắc, nhân dân Đại Từ bắt tay vào
công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa.
Cũng do hoàn cảnh chiến tranh, nên nhiều diện tích ruộng đất trong huyện
bị bỏ hoang. Hòa bình lập lại, số diện tích ruộng hoang lại tăng lên do đồng bào
tản cƣ trở về quê cũ. Trình độ thâm canh và điều kiện đầu tƣ, chăm bón cây
trồng còn hạn chế nên sản lýợng lýõng thực còn thấp, đời sống nhân dân còn gặp
nhiều khó khăn. Để khôi phục sản xuất, Đảng bộ huyện đã phát động phong trào
“sản xuất - tiết kiệm - cứu đói” và phong trào khai hoang phục hóa cũng đƣợc
phát động và thu đƣợc những kết quả đáng khích lệ. Nhờ đó, sản lƣợng lƣơng
thực của huyện cũng tăng dần qua các năm, các ngành chăn nuôi, trồng trọt và
lâm nghiệp cũng đƣợc chú trọng phát triển. Tình hình sản xuất nông nghiệp của
9.117,7
14.552,8
3.183
1958
9.133,7
16.131,9
3.414
1959
9.368,1
19.764,3
4.322
1960
9.682,5
16.124,7
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
21.102,3
3.675
1965
11.876,2
23.271,7
3.905
1966
12.157,4
22.076,4
3.570
1967
11.960,8
26.411,3
4.356
1968
1972
11.162,4
27.036,6
4.807
1973
11.298,7
27.171,6
4.839
1974
11.230,3
28.935,5
5.094
1975
11.374,8
27.614,6
xuất. Một số hợp tác xã đã có quy hoạch điều chỉnh lại đất đai, dành những phần
đất tốt, đất gần cho trại sản xuất thức ăn gia súc. Những hợp tác xã này còn bố
trí các loại cây thức ăn để đảm bảo cho đàn lợn có thức ăn tốt và thƣờng xuyên,
nhất là rau xanh vào mùa đông. Đồng thời xây dựng đƣợc hệ thống chuồng trại
đảm bảo đúng kĩ thuật. Một số trại đã chọn những ngƣời có kinh nghiệp để phụ
trách đàn lợn nái, lợn thịt, làm men ủ thức ăn cho lợn, chăm sóc từng con chu
đáo. Nhờ đó, đàn lợn của huyện phát triển khá tốt. Tính chung toàn huyện, đàn
lợn năm 1965 tăng 38% so với năm 1960 và năm 1967 tăng 11% so với năm
1965. Đàn trâu của huyện năm 1965 tăng 22,6% so với năm 1960 và đến năm
1967 tăng 8,8% so với năm 1965.
Là một huyện có diện tích đồi núi và rừng chiếm 86% diện tích tự nhiên
nên rất chú ý đến việc trồng cây gây rừng. Tuy vậy, hiện tƣợng phá rừng là một
hiện tƣợng phổ biến và diễn ra trong nhiều năm. Một số hợp tác xã năm sau phát
rừng nhiều hơn năm trƣớc. Một số cơ quan Trung ƣơng, Khu và các trƣờng
chuyên nghiệp sơ tán lên Đại Từ cũng tự ý phá rừng để làm rẫy, tự túc lƣơng
thực. Tính chung trong toàn huyện năm 1966, đã phát 367 ha, trong đó có 91 ha
rừng già và rừng đầu nguồn.
Trƣớc tình hình trên, lãnh đạo huyện đã có nhiều biện pháp chỉ đạo khắc
phục. Các đoàn kiểm tra công tác lâm nghiệp đƣợc thành lập, lần lƣợt đi xuống
các xã để kiểm tra, đôn đốc va hƣớng dẫn nhân dân trồng cây gây rừng. Nhiều
hợp tác xã có vƣờn ƣơm cây. Các đội trồng cây chuyên nghiệp đƣợc thành lập ở
13 xã, gồm hàng trăm các cụ lão nông phụ trách. Nhờ đó, đến đầu năm 1968,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Đại Từ căn bản thanh toán đƣợc nạn phá rừng. Nhiều khu đất trống đồi trọc đã
trở thành những cánh rừng xanh tốt.
Trong những năm đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc. Mặc dù vừa
chiến đấu vừa sản xuất nhƣng lấy trọng tâm là cây lúa, cây chè và đàn lợn nhằm