nội dung tóm tắt luận án kinh tế - xã hội huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an thời nguyễn (1802 - 1884) - Pdf 22

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trong đời sống của các cộng đồng cư dân, kinh tế - xã hội là
một lĩnh vực hoạt động mang tính thiết yếu, gắn với nhu cầu vật chất và
sinh hoạt của con người. Hiện nay, cùng với quá trình phát triển nền kinh
tế hàng hóa, mục tiêu xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
cũng được đặt ra. Do vậy, nghiên cứu kinh tế - xã hội của từng khu vực
cụ thể sẽ đem lại những hiểu biết chính xác và toàn diện hơn về lịch sử
địa phương cũng như lịch sử dân tộc.
1.2. Những năm gần đây, trước sự thay đổi nhanh chóng của xã
hội, những yếu tố, đặc điểm của địa phương đang từng bước bị nhấn
chìm. Việc lựa chọn một địa bàn cụ thể (chẳng hạn một tỉnh, một huyện)
làm đối tượng nghiên cứu xuất hiện ngày một nhiều (như Bình Định,
Thừa Thiên - Huế, Đông Sơn [Thanh Hóa], Đức Thọ [Hà Tĩnh]). Đây là
một yêu cầu cấp thiết cả về mặt khoa học và thực tiễn. Bởi nghiên cứu cái
cụ thể sẽ làm cho bức tranh lịch sử Việt Nam thời Nguyễn trở nên sinh
động hơn, sát với thực tế hơn, từ đó góp phần làm cho nhận thức chung
trở nên sâu sắc, toàn diện hơn.
1.3. Nghệ An là tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng. Trải qua
từng thời kỳ, chính sách quản lý của các vương triều đối với vùng đất này
ít nhiều có sự khác biệt so với những nơi khác. Vì vậy, Nghệ An có nhiều
nét đặc thù về kinh tế, xã hội so với diện mạo chung của cả nước. Từ thực
tế đó, nghiên cứu kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An và từng địa phương
cụ thể ở khu vực này trong những giai đoạn cụ thể là một việc làm cần
thiết, mang ý nghĩa khoa học. Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có một
công trình nào đi sâu nghiên cứu về đề tài này.
1.4. Nghi Lộc là một trong những huyện đồng bằng ven biển tiêu
biểu của tỉnh Nghệ An. Dưới thời Nguyễn, Nghi Lộc được chọn làm nơi
đóng “trấn thành”, “tỉnh thành” của Nghệ An. Bên cạnh đó, Nghi Lộc còn
có 2 cửa sông lớn là Cửa Xá (Cửa Lò), Cửa Hội. Ngay từ sớm, hai cửa
sông này đã có vị trí quan trọng về quân sự, kinh tế và giao thương buôn

khác ở khu vực Bắc bộ và Bắc Trung bộ.
+, Về thời gian: Luận án đi sâu nghiên cứu về kinh tế, xã hội
huyện Nghi Lộc trong thời kỳ nhà Nguyễn là triều đại phong kiến độc
lập, cụ thể là trong khoảng thời gian từ năm 1802 cho đến năm 1884.
Nhằm đảm bảo tính lịch sử và tùy thuộc mức độ cho phép của nguồn tư
2
liệu, một số nội dung luận án trình bày kéo dài tới giai đoạn nửa cuối thế
kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
+, Về không gian: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trên địa
bàn huyện Nghi Lộc thời Nguyễn, gồm 4 tổng Đặng Xá, Kim Nguyên,
Ngô Trường, Thượng Xá theo ghi chép trong các bộ sử thời Nguyễn. Về
cơ bản, phạm vi khảo sát của luận án tập trung vào địa bàn chủ yếu của
huyện Chân Lộc, tỉnh Nghệ An thời Nguyễn cũng như phần lớn địa bàn
huyện Nghi Lộc hiện nay.
3. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
3.1. Nguồn tài liệu:
Thực hiện đề tài này, luận án sử dụng các nguồn tài liệu sau:
* Thứ nhất, luận án sử dụng nguồn tài liệu chính thống do Quốc
Sử quán, Nội Các triều Nguyễn biên soạn như: Đại Nam thực lục, Khâm
định Đại Nam hội điển sự lệ (Chính biên và tục biên), Hoàng Việt luật
lệ Loại tài liệu này được khai thác, sử dụng triệt để trong quá trình
nghiên cứu và trình bày nội dung luận án.
Trong quá trình thu thập tài liệu, chúng tôi nhận thấy các sách địa
lý học - lịch sử chép về toàn quốc như: Đại Nam nhất thống chí, Đồng
Khánh địa dư chí hay các sách chép về Nghệ An như: Hoan Châu
phong thổ ký, Nghệ An ký, An Tĩnh cổ lục đã cung cấp thêm cho chúng
tôi nhiều tư liệu về huyện Nghi Lộc thời Nguyễn.
* Thứ hai: Nguồn tài liệu quan trọng nhất của luận án là các thư
tịch: địa bạ, thần tích, gia phả, văn bia Chúng tôi khai thác hơn 5.000
trang tài liệu thư tịch tại TTLTQG I và VNCHN. Trong đó, đáng chú ý

- Về mặt khoa học, luận án khôi phục lại một cách cụ thể, toàn
diện và có hệ thống về tình hình kinh tế, xã hội huyện Nghi Lộc thời
Nguyễn, qua đó góp phần nghiên cứu và làm sáng tỏ những vấn đề lịch
sử, xã hội của khu vực Nghệ Tĩnh nói riêng cũng như cả nước giai đoạn
này. Đồng thời, luận án đi sâu làm rõ nét tiêu biểu về kinh tế, xã hội của
huyện Nghi Lộc so với các vùng, các khu vực lân cận.
- Về mặt thực tiễn, luận án góp phần bổ sung nguồn tài liệu vào
khoảng trống trong nghiên cứu lịch sử địa phương. Kết quả nghiên cứu
của luận án cũng là cơ sở để tiến hành khảo sát, nghiên cứu, biên soạn
lịch sử địa phương; các bài giảng lịch sử địa phương cho học sinh, sinh
viên trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Đồng thời, luận án còn góp thêm những
4
luận chứng, luận cứ cụ thể cho việc hoạch định các chính sách phát triển
kinh tế, xã hội của Nghi Lộc hiện nay.
5. Bố cục luận án: Luận án gồm 169 trang. Trong đó, phần mở
đầu 6 trang, kết luận 4 trang, tài liệu tham khảo 19 trang. Nội dung luận
án gồm 151 trang, được chia làm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề (12 trang)
Chương 2: Vài nét về địa bàn huyện Nghi Lộc (19 trang).
Chương 3: Kết cấu kinh tế huyện Nghi Lộc thời Nguyễn (53
trang)
Chương 4: Xã hội huyện Nghi Lộc thời Nguyễn ( 57 trang)
Ngoài ra, trong luận án còn có các bảng thống kê, sơ đồ và phần
phụ lục gồm các bản đồ, bảng biểu, ảnh, bản chụp tư liệu.
5
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Nghiên cứu kinh tế, xã hội nông thôn, làng xã là mảng đề tài hấp
dẫn, thu hút nhiều học giả trong và ngoài nước tham gia dưới nhiều hình
thức, góc độ khác nhau. Hàng loạt các chuyên khảo về kinh tế, xã hội

(2010) Bên cạnh đó, còn có một số luận văn, luận án, tạp chí, hội thảo,
đề tài khoa học nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế, xã hội của lịch sử địa
phương cũng như lịch sử dân tộc ít nhiều liên quan đến đề tài luận án.
Chính những nghiên cứu với cách tiếp cận mới của các tác giả kể
trên đã gợi mở nhiều vấn đề trong nghiên cứu kinh tế, xã hội nông thôn,
làng xã Việt Nam sau này. Các công trình kể trên là tài liệu tham khảo,
cung cấp lý luận và những kiến thức chuyên ngành giúp chúng tôi có cái
nhìn khách quan, khoa học trong nhận thức, nghiên cứu về kinh tế, xã hội
huyện Nghi Lộc thời Nguyễn.
1.2. Các công trình nghiên cứu về tỉnh Nghệ An
* Trước Cách mạng tháng Tám (1945): Mở đầu quá trình nghiên
cứu về địa lý, lịch sử, văn học, tư tưởng truyền thống của khu vực Nghệ
Tĩnh là cuốn Nghệ An ký. Tiếp đến là công trình nghiên cứu về vùng đất
An Tĩnh của học giả người Pháp - H.Le Breton, với tác phẩm Le vieux An
Tinh (An Tĩnh cổ lục, 1936). Đây là những công trình nghiên cứu tiêu
biểu, có giá trị khoa học, nghiên cứu trực tiếp về khu vực Nghệ Tĩnh
trước năm 1945.
* Sau Cách mạng tháng Tám (1945): nghiên cứu về Nghệ An
được đẩy mạnh. Nhiều công trình biên khảo về lịch sử kinh tế, xã hội khu
vực Nghệ An đã ra đời. Tiêu biểu: Hương ước Nghệ An (1998); Nghề
(làng nghề) thủ công truyền thống ở Nghệ An (1998); Khoa bảng Nghệ
An (1075 - 1919) (2000); Văn bia Nghệ An (2003); Lịch sử Nghệ An
(2012) Ngoài ra còn có nhiều tạp chí, hội thảo, luận án, luận văn nghiên
cứu về mảnh đất, con người Nghệ An.
Nhìn chung, trong các công trình trên, tuy nội dung nghiên cứu
về Nghi Lộc còn hết sức sơ lược nhưng đã cung cấp cho chúng tôi nhiều
luận điểm giá trị, làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu các địa phương
cụ thể trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
1.3. Các công trình nghiên cứu về huyện Nghi Lộc
Đi sâu hơn trong việc tìm hiểu những vấn đề cụ thể của địa

một địa hình rộng lớn, có núi đồi, có sông biển, có đồng bằng thuận lợi
cho việc cư trú và làm ăn sinh sống của cư dân nơi đây.
- Giao thông: Nghi Lộc có điều kiện thuận lợi về giao thông:
đường bộ, đường biển, đường sông , quan trọng nhất là tuyến đường bộ
Bắc - Nam. Đây là điều kiện thuận lợi để Nghi Lộc sớm trở thành nơi
giao lưu văn hóa rộng mở.
- Khí hậu: Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và tiểu khí
hậu Vinh - Bến Thủy, đồng thời chịu ảnh hưởng của khí hậu biển nên ở
Nghi Lộc thường có gió mùa Đông Bắc, gió Lào, gió Nồm. Thời tiết hàng
năm ở đây chia thành hai mùa: mùa nóng và mùa lạnh.
- Đất đai: Nghi Lộc là huyện đồng bằng ven biển nên chủ yếu là
đất cát pha, vừa bạc màu lại vừa bị nhiễm mặn, độ phù sa thấp. Đây là
nguyên nhân gây ra nhiều khó khăn cho sản xuất nông nghiệp.
2.2. Quá trình hình thành và những thay đổi về diên cách
Nghi Lộc là vùng đất cổ có lịch sử hình thành lâu đời. Ban đầu,
Nghi Lộc thuộc địa bàn huyện Phố Dương và Dương Toại thời Tam Quốc
- Lưỡng Tấn - Nam Bắc Triều (220 - 581). Sau đó là vùng đất của huyện
Phố Dương thời thuộc Tùy - Đường (581 - 905) Đến thời Trần (1225 -
1400), huyện Nghi Lộc có tên gọi là Tân Phúc; thời thuộc Minh (1407 -
1427), đổi thành Chân Phúc; thời Tây Sơn (1789 - 1802), đổi thành Chân
Lộc. Đầu thời Nguyễn, huyện Chân Lộc thuộc vào phủ Đức Quang, trấn
Nghệ An. Huyện Chân Lộc lúc bấy giờ có 4 tổng 66 xã, thôn, phường,
trang. Đến đời vua Thành Thái (1889 - 1907), huyện Chân Lộc đổi tên
9
thành Nghi Lộc. Như vậy, tên gọi Nghi Lộc xuất hiện vào năm 1889 và
duy trì cho đến ngày nay.
Địa bàn huyện Nghi Lộc được khảo sát trong luận án là vùng đất
thuộc huyện Chân Lộc thời Nguyễn gồm 4 tổng (Đặng Xá, Kim Nguyên,
Ngô Trường, Thương Xá), tương đương với phần lớn địa bàn Nghi Lộc
hiện nay.

3.1. Tình hình ruộng đất: Từ những số liệu cụ thể đã trình bày
trong luận án, chúng tôi nhận thấy, dưới thời Nguyễn, Nghi Lộc tồn tại đa
dạng các loại hình sở hữu và sử dụng ruộng đất.
* Trước hết phải kể đến ruộng đất công làng xã (gồm công điền,
công thổ). Đây là loại ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước thông qua quản lý
của các làng xã, phân chia cho các thành viên cày cấy dưới hình thức
“đồng quân cấp canh tác”.
Công điền tồn tại ở hầu hết các xã thôn huyện Nghi Lộc nhưng số
lượng không nhiều (chiếm 16,8% tổng diện tích). Tuy số lượng công điền
không nhiều nhưng có đến 81,6% công điền bị bỏ hoang. Bên cạnh đó,
diện tích công thổ ở Nghi Lộc cũng tương đối ít, chiếm 2,8% tổng diện
tích ruộng đất, trong đó chủ yếu là đất hoang. So sánh mức độ phổ biến
của công điền ở Nghi Lộc với một số huyện khác thuộc đồng bằng Bắc
bộ và Bắc Trung bộ cho thấy, tỷ lệ các xã thôn không có ruộng công ở
Nghi Lộc cao hơn nhiều (Nghi Lộc 34%, Đông Sơn 6%, La Sơn 14,71%,
Từ Liêm 32,91%). Sự giảm sút ruộng đất công là do: làng xã ẩn lậu ruộng
công để trốn thuế; tình trạng “biến công vi tư” phổ biến; quá trình mở
rộng khu dân cư, xây dựng tỉnh thành và các công trình công cộng
* Ruộng đất tư: bao gồm tư điền, tư thổ, thổ trạch tư. Dưới thời
Nguyễn, ruộng đất tư ở Nghi Lộc chiếm 80,3% tổng diện tích ruộng đất
toàn huyện.
11
- Bình quân sở hữu một chủ là 1.5.2.5.3. So với một số huyện
thuộc đồng bằng Bắc bộ và huyện Đông Sơn (Thanh Hóa) ở cùng thời
điểm thì bình quân sở hữu ở Nghi Lộc thấp hơn nhiều (Đông Sơn:
3.2.2.7.2; Thanh Trì: 4.2.3.8.2; Đông Quan: 8.8.2.7.8).
- Quy mô sở hữu ruộng đất chủ yếu là sở hữu nhỏ: 83,79% chủ
sở hữu có mức sở hữu dưới 3 mẫu; 6,07% chủ sở hữu có mức sở hữu trên
5 mẫu. Điều này cho thấy: tuy ruộng đất tư chiếm tỷ lệ lớn nhưng ở Nghi
Lộc, quy mô sở hữu tư điền vừa nhỏ bé, vừa phân tán.

trồng ở Nghi Lộc kéo dài hơn các nơi khác, năng suất thu hoạch không
cao và không đảm bảo. Giống lúa ở Nghi Lộc tương đối đa dạng. Ngoài
lúa, nhân dân Nghi Lộc còn biết gieo trồng các loại hoa màu phù hợp với
chất đất như: lạc, ngô, khoai Điều này cho thấy sự đa dạng, phong phú
trong đời sống của cư dân Nghi Lộc.
So với các huyện đồng bằng Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu,
diện tích và chất lượng ruộng đất của Nghi Lộc vừa ít, lại kém màu mỡ.
Do vậy, tuy cùng nằm trong một khu vực nhưng nông nghiệp Nghi Lộc
nhìn chung kém phát triển hơn và không phải là “vựa lúa” của tỉnh.
* Kĩ thuật canh tác: Dưới thời Nguyễn, nông dân Nghi Lộc khá
thuần thục kỹ thuật cày bừa dùng sức kéo trâu bò là chủ yếu. Tùy vào
từng chất đất, thửa ruộng, xứ đồng mà nông dân sử dụng các loại công cụ
khác nhau cho phù hợp. Phương thức canh tác thô sơ, lạc hậu, phụ thuộc
vào tự nhiên. Năng suất cây trồng thấp và hết sức bấp bênh. Điều này ảnh
hưởng lớn đến đời sống của nông dân.
* Năng suất và tô thuế: sản lượng lúa và hoa màu ở Nghi Lộc
không mấy ổn định, phụ thuộc tự nhiên. Tuy nhiên, do tư liệu không cho
phép nên chúng tôi chưa thể đưa ra con số cụ thể về năng suất và sản
lượng. Mặc dù vậy, sản xuất nông nghiệp hầu như không đáp ứng đủ nhu
cầu của nhân dân địa phương.
Bên cạnh đó, chế độ tô thuế cũng trở thành gánh nặng đối với
nhân dân. Ngoài các loại thuế chính thức (thuế đinh, thuế điền), nhân dân
còn phải đóng các khoản phụ thu như: tiền thẻ tre, điền mẫu, thường tân,
cung đốn
* Vấn đề thủy lợi: rất quan trọng với sản xuất nông nghiệp. Khác
với đồng bằng sông Hồng, do đặc điểm địa hình, chính sách của các
vương triều, địa bàn Nghệ Tĩnh trước thế kỷ XX gần như không tồn tại hệ
thống đê điều ngăn lũ, điều tiết nước. Công tác thủy lợi dừng lại ở quy
mô làng xã.
13

nhiều so với các phủ, huyện khác trong tỉnh.
Điểm đặc biệt là, địa bàn Nghi Lộc thời Nguyễn có chợ Vĩnh
(còn gọi là chợ Yên Trường) - trung tâm buôn bán lớn nhất của Nghệ An,
14
Hà Tĩnh lúc bấy giờ. Do vậy, so với các vùng khác, kinh tế hàng hóa ở
Nghi Lộc phát triển mạnh hơn hẳn. Thế nhưng các yếu tố tự nhiên, xã hội
thuận lợi cộng với hệ thống chợ tỉnh, chợ huyện cho đến các chợ làng,
chợ xã cũng không đủ sức tạo nên ở Nghi Lộc một “cảng thị” hay “phố
thị” buôn bán sầm uất, hấp dẫn các thương nhân nước ngoài đến buôn
bán, trao đổi.
Tóm lại, so với nhiều địa phương khác trong tỉnh, Nghi Lộc là
huyện có điều kiện tự nhiên thuận lợi để Nghi Lộc phát triển một nền
kinh tế đa dạng với các ngành: nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương
nghiệp và khai thác thủy sản. Trong đó, nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế
chủ đạo, mang tính chất tự cấp, tự túc và không đáp ứng đủ nhu cầu của
nhân dân địa phương.
15
CHƯƠNG 4.
XÃ HỘI HUYỆN NGHI LỘC THỜI NGUYỄN
Đây là một trong những chương trọng tâm của luận án. Ở đây,
chúng tôi quan niệm phần lịch sử xã hội theo nghĩa rộng, bao gồm nhiều
mặt hoạt động liên quan đến con người. Với 57 trang, chương 4 đi sâu
nghiên cứu một số vấn đề tiêu biểu của xã hội Nghi Lộc thời Nguyễn.
4.1. Tổ chức hành chính
Đầu thế kỷ XIX, huyện Chân Lộc (tức Nghi Lộc sau này) có 4 tổng
66 xã, thôn, phường, trang. Đến cuối thời Tự Đức, huyện Chân Lộc có 4
tổng 81 xã, thôn, phường (giáp). Như thế, so với đầu triều Nguyễn, huyện
Chân Lộc cuối thời Tự Đức đã có nhiều thay đổi. Số lượng xã thôn của
huyện tăng từ 66 lên 81 đơn vị (mặc dù số tổng vẫn giữ nguyên). Dĩ
nhiên, các đơn vị có thể rất khác nhau về diện tích đất đai và dân số,

đến các cuộc đấu tranh của nông dân.
4.3.2. Đời sống nhân dân: do sản xuất nông nghiệp lạc hậu, phụ
thuộc vào tự nhiên nên đời sống của nhân dân Nghi Lộc gặp nhiều khó
khăn. Nhân dân Nghi Lộc thường xuyên lâm vào tình cảnh thiên tai, dịch
bệnh, mất mùa và đói kém. Đây là nguyên nhân dẫn đến các cuộc đấu
tranh của nhân dân chống lại triều đình nhà Nguyễn ở thế kỷ XIX.
Tuy không phải là địa bàn trọng điểm của các cuộc khởi nghĩa
nông dân trên địa bàn tỉnh nhưng Nghi Lộc thời Nguyễn cũng là một
trong những địa phương chịu nhiều ảnh hưởng. Đáng chú ý hơn cả cuộc
đấu tranh do Hoàng Phan Thái lãnh đạo. Điểm đặc biệt là phong trào đấu
tranh ở Nghi Lộc không diễn ra gay gắt như các huyện khác trong tỉnh.
4.4. Tình hình giáo dục
4.4.1. Hệ thống trường học: Dưới thời Nguyễn, Trường thi
Hương Nghệ An được xây dựng trên địa bàn huyện Nghi Lộc (1804).
Đây là cơ sở giáo dục lớn nhất của tỉnh Nghệ An lúc bấy giờ, cũng đồng
thời là trung tâm giáo dục của các tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa
thời Nguyễn. Bên cạnh trường tỉnh, trường học ở các phủ, huyện lân cận
và các tổng, xã trên địa bàn huyện Nghi Lộc cũng được chú ý xây dựng.
Đây là điều kiện thuận lợi để con em trong vùng có thể tham gia học tập.
4.4.2. Thành tựu khoa bảng: truyền thống hiếu học và khoa
bảng là đặc trưng nổi bật nhất ở Nghi Lộc thời Nguyễn. Nghi Lộc là một
trong những địa phương dẫn đầu Nghệ An về thành tựu khoa cử (chỉ sau
17
Quỳnh Lưu, Diễn Châu). Qua các nguồn tài liệu, chúng tôi thống kê được
94 người đậu Hương cống - Cử nhân và 11 người đậu Tiến sĩ, Phó bảng.
Số lượng Hương cống - Cử nhân của huyện Nghi Lộc chiếm tỷ lệ
17,64%. Con số này cao hơn tỷ lệ Hương cống - Cử nhân của Nghệ An so
với cả nước (11,4%).
Nghi Lộc có nhiều làng học tiêu biểu: Kim Khê, Đông Hải,
Thịnh Trường Trong đó, có những làng là “trung tâm phát tích” nhân

chùa khá dày. Điều đó chứng tỏ, ở Nghi Lộc thời Nguyễn, Phật giáo vẫn
tiếp tục phát triển mạnh trong nhân dân.
- Nho giáo: Ở Nghi Lộc thời Nguyễn, cùng với quá trình khôi
phục và phát triển của giáo dục khoa cử, ảnh hưởng của Nho giáo ngày
càng mạnh. Hệ thống Văn miếu, Văn chỉ hay Từ vũ thờ Khổng Tử và các
vị Tiên hiền được xây dựng ở nhiều nơi. Qua 47 tư liệu địa bạ, chúng tôi
thống kê được 15 nhà Từ vũ trên địa bàn huyện. Trong đó, hệ thống các
Từ vũ tập trung nhiều nhất ở các xã thôn thuộc 2 tổng Ngô Trường và
Đặng Xá.
- Ki tô giáo: dưới thời Nguyễn, Ki tô giáo xâm nhập và ảnh
hưởng lớn đến đời sống tinh thần của một bộ phận cư dân Nghi Lộc. Hệ
thống các nhà thờ ra đời và phát triển mạnh, tiêu biểu như: Kẻ Gai
(1853), Mỹ Dụ (1869), Vạn Lộc (1883) ; có 4/14 hạt Thiên chúa của
vùng Nam Đàng Ngoài trên địa bàn huyện là Xã Đoài, Chân Lộc, Cầu
Rầm, Vạn Lộc. Tòa giám mục giáo phận Vinh đặt ở Xã Đoài (Nghi Lộc).
Đây là cơ sở tôn giáo lớn nhất của 3 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình
thời Nguyễn.
So với các giáo phận khác, hệ thống giáo dân ở Nghi Lộc được
xếp vào hàng thứ 2 (sau Ngàn Sâu, Hà Tĩnh). Số lượng giáo dân đông
chứng tỏ Ki tô giáo phát triển mạnh và ảnh hưởng sâu sắc trong một bộ
phận cư dân. Nghi Lộc là một trong những trung tâm Ki tô giáo của vùng
Nam Đàng Ngoài thời Nguyễn.
4.6. Lễ hội
Trong nhiều thế kỷ, Nghi Lộc là địa bàn của rất nhiều lễ hội
truyền thống. Lễ hội là lúc dân làng biểu hiện tập trung tư tưởng và tâm
lý cộng đồng, đồng thời thể hiện sự cầu mong các vị thần ban phúc cho
dân làng có cuộc sống no đủ, thái bình Do vậy, lễ hội vừa phản ánh đặc
điểm văn hóa thời đại, vừa mang dấu ấn riêng. Lễ hội ở Nghi Lộc thường
chia làm hai phần: lễ và hội. Phần lớn lễ hội trong các làng xã ở Nghi Lộc
là lễ hội tổng hợp.

ruộng đất công làng xã cũng cho thấy tính chất dai dẳng của công xã
nông thôn trong các làng xã Nghi Lộc.
- Về kinh tế: sự đa dạng về các ngành nghề kinh tế là đặc điểm
tiêu biểu của vùng đất này. Địa bàn Nghi Lộc thời Nguyễn có sự tồn tại
và phát triển của nhiều ngành kinh tế: nông nghiệp, thủ công nghiệp,
thương nghiệp và khai thác thủy sản.
Nông nghiệp: là ngành kinh tế chủ đạo của nhân dân Nghi Lộc.
Người nông dân Nghi Lộc đã thành thạo kỹ thuật canh tác lúa nước và có
nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, do đây là huyện đồng
bằng ven biển, khí hậu khắc nghiệt, đất đai kém màu mỡ nên mùa vụ bấp
bênh, phụ thuộc vào tự nhiên. Nhìn chung, sản xuất nông nghiệp ở Nghi
Lộc thời Nguyễn còn hết sức lạc hậu, kỹ thuật thô sơ và chưa thoát khỏi
21
phạm vi một nền kinh tế tiểu nông, không đáp ứng đủ nhu cầu của người
dân trong huyện.
Thủ công nghiệp: Nghi Lộc thời Nguyễn là một trong những
trung tâm sản xuất thủ công nghiệp của Nghệ An với nhiều nghề và làng
nghề có quy mô lớn. Một số nghề thủ công nổi tiếng khắp vùng và cả
nước như: đóng thuyền, làm muối, dệt chiếu cói Tuy vậy, thủ công
nghiệp mang nặng tính chất nghề phụ, quy mô nhỏ, mức độ chuyên môn
hóa thấp, yếu tố phường hội không phổ biến và không có các “phố nghề”
hay công xưởng thủ công lớn trên địa bàn.
Thương nghiệp: nhìn chung phát triển hơn so với các huyện khác
trong tỉnh. Đây là địa phương có nhiều chợ, trong đó có chợ Vĩnh - trung
tâm buôn bán lớn nhất của khu vực Nghệ An lúc bấy giờ. Hoạt động
buôn bán tuy đã có làng buôn, phường buôn và các tuyến đường buôn
bán chuyên nghiệp nhưng lại không thấy xuất hiện các “phố thị”, “cảng
thị” thu hút thương nhân nước ngoài đến buôn bán như một số địa
phương khác ở Bắc bộ, Nam bộ.
Khai thác thủy sản: với hai cửa biển (Cửa Xá, Cửa Hội), vùng

những huyện dẫn đầu về thành tựu khoa bảng ở Nghệ An thời Nguyễn
(chỉ sau Quỳnh Lưu, Diễn Châu). Thành tựu khoa bảng đã chứng tỏ:
Nghi Lộc xứng đáng là vùng đất học, là một trong những trung tâm đào
tạo và phát tích nhân tài của đất nước.
- Địa bàn Nghi Lộc có sự hiện diện và tồn tại của đầy đủ các loại
tôn giáo: Nho giáo, Phật giáo, Ki tô giáo và các tín ngưỡng dân gian.
Điều này chứng tỏ, tôn giáo tín ngưỡng có ảnh hưởng sâu sắc đến đời
sống văn hóa tinh thần của người dân địa phương.
- Địa bàn Nghi Lộc có rất nhiều lễ hội truyền thống. Tiêu biểu: lễ
hội đền Nguyễn Xí, lễ hội đền Đông Hải, lễ hội đến Trung Kiên Lễ hội
vừa thể hiện tính cộng đồng, vừa là thông điệp văn hóa mang dấu ấn
riêng của địa phương. Bởi việc tổ chức các lễ hội là dịp giúp con cháu địa
phương tìm hiểu về thần tích các vị thần được thờ ở làng; về cội nguồn
làng; về lễ nghi, khoán ước và tập tục của làng. Do vậy, lễ hội vừa mang
tính truyền thống, vừa mang tính thời đại.
4. Từ việc nghiên cứu về kinh tế, xã hội huyện Nghi Lộc thời
Nguyễn, chúng tôi nhận thấy:
- Dưới thời Nguyễn, Nghi Lộc là một trong những huyện đồng
bằng ven biển tiêu biểu của tỉnh Nghệ An. Đây vừa là nơi đóng “trấn
thành”, “tỉnh thành” - lỵ sở của bộ máy chính quyền, vừa nơi tích trữ binh
23
lương, đóng quân bảo vệ thành và cũng là trung tâm kinh tế - chính trị
của khu vực Nghệ An, Hà Tĩnh lúc bấy giờ.
- Nghi Lộc cũng là một trong những địa phương có nền kinh tế
phát triển toàn diện với đầy đủ các ngành nghề: nông nghiệp, thủ công
nghiệp, thương nghiệp và khai thác thủy sản. Trong đó, thương nghiệp
được xem là lĩnh vực kinh tế hàng đầu với sự ra đời và phát triển của chợ
Vĩnh - trung tâm kinh tế lớn nhất của Nghệ An, Hà Tĩnh lúc bấy giờ. Đây
chính là một thế mạnh của Nghi Lộc mà các huyện khác trên địa bàn tỉnh
không có.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status