Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
Phần I. Các vụ việc pháp luật về dân sự
BỘ TƯ PHÁP
VỤ PHỐ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
TÌM HIỂU CÁC VỤ VIỆC PHÁP LUẬT
VỀ DÂN SỰ, THƯƠNG MẠI
HÀ NỘI - 2012
1
2
Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
Phần I. Các vụ việc pháp luật về dân sự
CHỈ ĐẠO BIÊN SOẠN:
Nguyễn Thúy Hiền, Thứ trưởng Bộ Tư pháp, Trưởng Ban
chỉ đạo Đề án
TỔ CHỨC BIÊN SOẠN:
Nguyễn Duy Lãm, Vụ trưởng Vụ PBGDPL, Bộ Tư pháp
Phạm Thị Hòa, Phó Vụ trưởng Vụ PBGDPL, Bộ Tư pháp
THAM GIA BIÊN SOẠN:
1. ThS. Nguyễn Thị Hạnh, Học viện Tư pháp
2. ThS. Nguyễn Thị Hằng Nga, Học viện Tư pháp
Tháng 12/2012
BAN CHỈ ĐẠO ĐỀ ÁN
Nhằm đáp ứng nhu cầu về bồi dưỡng kiến thức pháp luật,
kỹ năng nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật đối với những
người trực tiếp thực hiện công tác này, đặc biệt là đội ngũ báo
cáo viên pháp luật, Ban chỉ đạo Đề án tổ chức biên soạn và
phối hợp với Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản cuốn: “Tìm hiểu
các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại”. Cuốn sách
cung cấp cho báo cáo viên các vụ việc pháp luật trong lĩnh
vực dân sự, kinh doanh thương mại đã và đang diễn ra phổ
biến trên thực tế như thừa kế, ly hôn, các hợp đồng thuê, hợp
đồng tín dụng, hợp đồng góp vốn… cùng với đó là những
5
6
Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
Phần I. Các vụ việc pháp luật về dân sự
PHẦN I
CÁC VỤ VIỆC PHÁP LUẬT VỀ DÂN SỰ
7
8
Sau khi anh Bùi Văn H tiến hành việc đòi nhà theo sự ủy
quyền và đã được cơ quan thi hành án tiến hành thi hành án
bàn giao trả nhà số 8 HĐ thì hai cụ P và cụ C đã cùng anh H
về sinh sống tại ngôi nhà này. Quá trình ở tại đây, anh H đã
xây dựng, sửa chữa như làm toàn bộ trần bằng toocxi, lát lại
toàn bộ nền nhà, xây mới khu phụ, làm lại gác xép, cầu
thang… Đến năm 2002, anh Bùi Văn H đã làm thủ tục để
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà
số 8 HĐ. Trên cơ sở đó, theo Quyết định số 1730/QĐ-UB
ngày 19/3/2002 của Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là
UBND) thành phố H, nhà số 8 HĐ đứng tên chủ sở hữu nhà,
sử dụng đất là anh Bùi Văn H (Giấy chứng nhận quyền sở hữu
nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 5019.2002 ngày
19/3/2002 của UBND thành phố H).
Còn đối với diện tích nhà, đất 1396m2 tại tổ 18 phường
NT, quận LB, thành phố H cũng là di sản của hai cụ P và cụ
C. Sinh thời hai cụ cũng có sinh sống tại nhà cấp 4 diện tích
52m2 được xây dựng trên thửa đất này cùng với vợ chồng anh
Bùi Văn T. Sau này, nhà cấp 4 của các cụ được vợ chồng anh
T sửa chữa, tôn tạo để sử dụng. Đến ngày 11/7/1999, cụ Bùi
Văn P lập di chúc cho anh Bùi Văn T được toàn quyền sử
dụng phần diện tích nhà đất tại tổ 18 phường NT.
10
Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
Phần I. Các vụ việc pháp luật về dân sự
Ông Bùi Văn T chết ngày 20/5/2001, có vợ là Lương
và quyền sử dụng đất ngày 19/3/2002.
Quá trình sử dụng, ông đã xây dựng, sửa chữa như lát lại
toàn bộ nền, xây mới khu phụ, làm mái cầu thang, gác xép,
lợp mái… Nay trước yêu cầu chia thừa kế của phía nguyên
đơn thì ông H không đồng ý chia, vì bố, mẹ ông đã cho ông
ngôi nhà này. Còn đối với phần di sản tại tổ 18 phường NT,
ông yêu cầu chia theo pháp luật.
Anh Bùi Duy H trình bày:
Về huyết thống gia đình, bố anh là Bùi Văn T là một
trong 04 người con của cụ Bùi Văn P và cụ Hoàng Thị C.
Bố anh mất năm 2001. Sinh thời, cụ P có di chúc để lại
toàn bộ nhà, đất phần của cụ ở tổ 18 phường NT cho bố
anh. Sau khi bố anh chết thì mẹ anh là Lương Thị AH và
các con là Bùi Duy H, Bùi Thị X, vẫn quản lý, sử dụng.
Nay trước yêu cầu của phía nguyên đơn, quan điểm của
anh là không đồng ý chia thừa kế vì ông nội anh (Bùi Văn
P) đã cho bố anh (Bùi Văn T) phần di sản của hai cụ. Đối
với phần di sản của bà nội anh (Hoàng Thị C) anh cũng
không đồng ý chia tài sản chung.
12
Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
Phần I. Các vụ việc pháp luật về dân sự
Bà Lương Thị AH và những người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan, Bùi Thị X trình bày thống nhất với quan điểm với
anh Bùi Duy H.
Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện:
Cụ Hoàng Thị C chết ngày 03/01/1995 để lại tài sản thừa kế,
cụ Bùi Văn P chết ngày 29/12/2002. Sinh thời các cụ sinh được
04 người con là ông Bùi Văn T, ông Bùi Văn H, ông Bùi Văn Th,
bà Bùi Thị M. Thời điểm ông T, cụ P chết là thời điểm BLDS
năm 1995 đang có hiệu lực nên áp dụng các quy định về thừa kế
của BLDS năm 1995 để giải quyết vụ án. Ngoài 04 người con đẻ
cụ C và cụ P không có người con riêng, con nuôi nào khác. Ông
Bùi Văn T chết năm 2001, sinh được 02 người con là anh Bùi
Duy H, Bùi Thị X. Căn cứ Điều 634 BLDS năm 1995 xác định cụ
C, cụ P là người để lại thừa kế. Theo Điều 638 BLDS năm 1995
thì ông T, ông H, ông Th, bà M là người thừa kế di sản của cụ C.
Tuy nhiên theo tình tiết trong vụ án, ông T chết trước cụ P nên
không được thừa kế tài sản của cụ P, vì vậy theo Điều 680 BLDS
năm 1995 thì anh Bùi Duy H, chị Bùi Thị X là người thừa kế thế
vị hưởng di sản của cụ P để lại. Vì vậy, ông H, ông Th, bà M; anh
H, chị X là người thừa kế di sản của cụ P.
14
Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
Phần I. Các vụ việc pháp luật về dân sự
Theo Điều 636 Bộ luật Dân sự (sau đây viết tắt là BLDS) năm
1995 thời điểm mở thừa kế lần 1 - cụ C chết ngày 03/01/1995;
thời điểm mở thừa kế lần 2 - cụ P chết ngày 29/12/2002. Ngày
24/02/2010, bà M làm đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế
của bố mẹ để lại nên theo Điều 648 BLDS sự năm 1995 thời hiệu
khởi kiện yêu cầu phân chia di sản của cụ C đã hết. Do đó, không
chia phần di sản của cụ C để lại cho những người thừa kế.
Trong trường hợp con của người để lại di sản chết
trước người để lại di sản, thì cháu được hưởng phần
di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu
còn sống; nếu cháu cũng đã chết trước người để lại di
sản, thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc
mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.
Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của
mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di
chúc hoặc theo pháp luật.
Điều 636 BLDS năm 1995 quy định:
* Về tính hợp pháp của bản di chúc cụ P lập ngày 11/7/1999
Thời điểm, địa điểm mở thừa kế
Cụ Bùi Văn P chết ngày 29/12/2002. Khi còn sống, ngày
11/7/1999 cụ Bùi Văn P đã lập 01 bản di chúc với nội dung: Chuyển
1. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản
chết. Trong trường hợp Toà án tuyên bố một người là
15
16
Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
chứng, có xác nhận của UBND xã NT, huyện GL. Tuy nhiên,
ông Bùi Văn T là người được hưởng phần tài sản của cụ Bùi
Văn P theo di chúc trong số tài sản chung với cụ Hoàng Thị C
là 1396m2 đất trên có nhà xây cấp 4 và một số công trình xây
dựng khác, song ông Bùi Văn T lại chết vào ngày 20/5/2001,
cụ P chết vào ngày 29/12/2002. Thời điểm mở thừa kế của
ông T là ngày 20/5/2001, thời điểm mở thừa kế của cụ P là
ngày 29/12/2002. Như vậy, người được hưởng di sản thừa kế
theo di chúc chết trước người để lại di sản nên theo quy định
tại Điều 638 BLDS năm 1995 ông T không phải là người thừa
17
2. Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ
quan, tổ chức, thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào
thời điểm mở thừa kế.
Điều 678 BLDS năm 1995 quy định:
Những trường hợp thừa kế theo pháp luật
1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những
trường hợp sau đây:
a) Không có di chúc;
b) Di chúc không hợp pháp;
c) Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước
18
Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
Phần I. Các vụ việc pháp luật về dân sự
cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ
quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng
không còn vào thời điểm mở thừa kế.
Hàng thừa kế thứ nhất của cụ Bùi Văn P bao gồm 4 người
con đẻ của cụ P còn sống tại thời điểm viết di chúc: Ông Bùi
Văn T, Bà Bùi Thị M , ông Bùi Văn Th, ông Bùi Văn H (ông
Bùi Văn T chết năm 2001). Hai người con của ông T - anh
Bùi Duy H, chị Bùi Thị X là thừa kế thế vị được hưởng tài sản
thừa kế của cụ P.
19
Do nhà số 8 phố HĐ, thành phố H cho hộ gia đình khác ở
thuê từ trước, vào năm 1992, cụ Bùi Văn P và cụ Hoàng Thị C
đã uỷ quyền cho ông Bùi Văn H thay mặt 2 cụ để tiến hành các
thủ tục pháp lý: Đòi nhà cho thuê. Theo Quyết định của bản án
sơ thẩm số 02/DSST ngày 26/02/1993 của Toà án nhân dân
quận HK và Bản án phúc thẩm số 79/DSPT ngày 29/5/1993 của
Toà án nhân dân thành phố H đều xác định cụ Hoàng Thị C và
cụ Bùi Văn P là đồng sở hữu nhà số 8 phố HĐ, thành phố H.
Đồng thời, án tuyên buộc hộ gia đình đang ở thuê tại số nhà số 8
phố HĐ, thành phố H trả lại toàn bộ diện tích nhà đang thuê cho
cụ P, cụ C do ông Bùi Văn H là đại diện. Bản án phúc thẩm đã
được thi hành án xong và từ sau khi lấy lại nhà cụ P, cụ C, gia
đình ông Bùi Văn H về sống tại số 8 HĐ, thành phố H. Cho đến
năm 1998, thực hiện chủ trương của Nhà nước về việc đăng ký
20
Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
Di sản
1. Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài
sản của người chết trong tài sản chung với người khác.
2. Quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế và
được để lại thừa kế theo quy định tại Phần thứ năm
của Bộ luật này.
- Đối với diện tích nhà đất tại tổ 18 phường NT, quận LB,
thành phố H: Quá trình giải quyết vụ kiện tại Toà án các bên
đương sự đều có lời khai xác nhận nguồn gốc diện tích
1396m2 đất, trên có nhà cấp 4 và nhà tắm, nhà vệ sinh là do cụ
P, cụ C mua. Sau đó, cho vợ chồng ông T, bà Lương Thị AH
về ở tại đây, hiện toàn bộ thửa đất này mang số thửa 87, tờ
bản đồ số 4 đo vẽ năm 1993. Hiện bà Lương Thị AH và anh
Bùi Duy H đang quản lý sử dụng. Bà AH, anh H cho rằng,
phần di sản của cụ P thì cụ P đã lập di chúc cho ông Bùi Văn
T nên đề nghị Toà án chia theo di chúc. Vấn đề này như phần
trên đây đã nhận định, phân tích về di chúc của cụ Bùi Văn P
là di chúc không có hiệu lực nên di sản thừa kế của cụ P được
chia theo pháp luật.
Xác định di sản thừa kế của cụ P, cụ C là 2 khối tài sản:
Nhà số 8 phố HĐ, thành phố H và diện tích 1396m2 nhà và đất
tại tổ 18 phường NT, quận LB, thành phố H. Nay phía nguyên
22
Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
Phần I. Các vụ việc pháp luật về dân sự
áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn
nhân và gia đình thì yêu cầu chia tài sản chung đối với phần di
sản thừa kế của cụ C của bà M không được thoả mãn với quy
định của pháp luật.
Tiểu mục 2.4 Mục 1 Phần I Nghị quyết số 02/2004/NQHĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Toà án
nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong
việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình:
2.4. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế
a) Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời
điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh
chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận
là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười
năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về
Theo quy định tại tiểu mục 2.4 Mục 1 Phần I Nghị quyết
số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật
trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình
23
24
Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
Phần I. Các vụ việc pháp luật về dân sự
hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết
để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản
sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện
theo di chúc.
a.2) Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa
kế thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có
nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó
được thực hiện theo thoả thuận của họ.
a.3) Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa
kế không có thoả thuận về phần mỗi người được
hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản
chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật
về chia tài sản chung.
Xác định di sản thừa kế của cụ P có tổng giá trị thành tiền
là 6.091.407.500 đồng và chia 4 kỷ phần + 01 kỷ phần trích
trừ công sức cho ông H, chia toàn bộ hiện vật nhà số 8 phố
HĐ cho ông H sở hữu. Tổng di sản 6.091.407.500 đồng : 5.
Như vậy, mỗi kỷ phần thừa kế của cụ P được hưởng di sản
b) Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa
kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử
dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất
25
26
Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
Phần I. Các vụ việc pháp luật về dân sự
tài sản chung thì cũng không thoả mãn những quy định tại
mục 2.4 điểm a của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày
10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án
dân sự, hôn nhân và gia đình.
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định
theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ,
cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại,
bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của
người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột
của người chết; cháu ruột của người chết mà người
chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột.
Đối với phần di sản thừa kế của cụ P tại tổ 18 phường
NT, quận LB là 1/2 diện tích quyền sử dụng đất và 1/2 giá trị
xây dựng, cụ thể là 698m2 quyền sử dụng đất tính thành tiền
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần
di sản bằng nhau.
27
28
Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
đất trên có nhà cấp 4 tại tổ 18 phường NT, quận LB, thành phố H
là di sản thừa kế của cụ Bùi Văn P và cụ Hoàng Thị C để lại.
3. Xác định di sản thừa kế của cụ Bùi Văn P gồm: 1/2 giá
trị đất và giá trị xây dựng còn lại của nhà số 8 HĐ, thành phố H
và diện tích 1396m2 đất trên có nhà cấp 4 tại tổ 18 phường NT,
quận LB, thành phố H được chia cho các thừa kế của cụ P.
4. Xác định di chúc của cụ Bùi Văn P lập ngày 11/7/1991
không có hiệu lực pháp luật. Toàn bộ di sản thừa kế của cụ
Bùi Văn P được chia theo pháp luật.
VỤ VIỆC SỐ 2
Nội dung vụ án:
Chị Nguyễn Thị X trình bày:
Năm 1992, chị X kết hôn hợp pháp với anh Vương Văn V
là con trai thứ sáu của ông Vương Văn Tr và bà Nguyễn Thị
D. Bà D chết năm 1996. Năm 2006, anh V mất do tai nạn lao
động, không để lại di chúc. Vợ chồng chị có 03 con chung là:
cháu Vương Thị H - sinh năm 1994; cháu Vương Văn Th sinh năm 1996, cháu Vương Văn A - sinh năm 1998. Khi anh
V còn sống, vợ chồng chị có tạo lập được một khối tài sản,
trong đó có diện tích đất nông nghiệp là 2.472m2 tại các xứ
đồng thuộc thôn LC, xã XG, huyện S, tỉnh H. Diện tích đất
30
Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
Phần I. Các vụ việc pháp luật về dân sự
trên đã được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất năm 1998 mang tên anh Vương Văn V, số sổ là
ngày 12/02/2009 có nội dung: Ông là họ hàng của cả ông Tr và
chị X. Thực hiện Nghị định số 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính
phủ ban hành bản Quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ
gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất
nông nghiệp, ông H đến nhà anh V - chị X, lúc đó ông Tr đang ở
cùng để làm thủ tục kê khai. Họ đã thống nhất và nhờ ông ký tên
hộ. Khi có Giấy chứng nhận ông H đã giao cả 02 bản cho chính
ông Tr. Đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông
nghiệp cho hộ gia đình hiện đang lưu giữ tại UBND huyện S,
cũng như Công văn số 242/UBND-TNMT ngày 17/3/2009 của
UBND huyện S có nội dung đối tượng được cấp Giấy chứng
nhận 2.472m2 đất là hộ gia đình ông Vương Văn V. Hộ gia đình
anh V tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện
tích đất tranh chấp hộ gia đình anh Vương Văn V gồm ông Tr,
anh V, chị X.
Bình luận:
* Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Tranh chấp giữa chị X và ông Tr là tranh chấp về thừa kế
32
Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
Phần I. Các vụ việc pháp luật về dân sự
quyền sử dụng đất nông nghiệp vì diện tích đất nông nghiệp là
2.472m2 tại các xứ đồng thuộc thôn LC, xã XG, huyện S, tỉnh
H đã được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất năm 1998 mang tên anh Vương Văn V, số sổ là
863/QSDĐ. Năm 2006, anh V chết, ông Vương Văn Tr đã
không có. Song thực tế là từ tháng 01/1998 thì diện tích đất có
tranh chấp đã được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đứng tên hộ anh Vương Văn V.
Theo nội dung lời khai của ông Nguyễn Xuân H - nguyên
chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp LC, nguyên Trưởng tiểu
ban cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp thực
hiện Nghị định số 64-CP, thì ông là người trực tiếp đến nhà
anh V - chị X, lúc đó ông Tr đang ở cùng để làm thủ tục kê
khai (ông H là họ hàng của cả ông Tr và chị X), ông Tr, anh
V, chị X đã thống nhất và nhờ ông ký tên hộ. Khi có Giấy
chứng nhận ông đã giao cả 02 bản cho chính ông Tr.
Căn cứ vào các đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất nông nghiệp cho hộ gia đình hiện đang lưu giữ tại
UBND huyện S, cũng như căn cứ vào Công văn số
242/UBND-TNMT ngày 17/3/2009 của UBND huyện S đã
34
Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
Phần I. Các vụ việc pháp luật về dân sự
khẳng định đối tượng được cấp Giấy chứng nhận 2.472m2 đất
là hộ gia đình anh Vương Văn V (gồm ông Tr, anh V, chị X).
Từ những căn cứ trên, xác định diện tích đất tranh chấp là tài
sản của hộ gia đình anh Vương Văn V theo quy định tại Điều
106, 107, 108, 688 BLDS năm 2005. Do vậy, anh V, ông Tr,
chị X có quyền ngang nhau đối với diện tích họ đang có tranh
chấp là 1.080 m2. Do xác định diện tích đất tranh chấp là tài
sản chung của ông Tr, anh V chị X nên chia ba sau khi anh V
Ðiều 107 BLDS năm 2005 quy định:
2. Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản
chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các
thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với
các loại tài sản chung khác phải được đa số thành
viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý.
Ðại diện của hộ gia đình
1. Chủ hộ là đại diện của hộ gia đình trong các giao
dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ. Cha, mẹ hoặc một
thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ.
Chủ hộ có thể ủy quyền cho thành viên khác đã thành
niên làm đại diện của hộ trong quan hệ dân sự.
35
36
Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
Phần I. Các vụ việc pháp luật về dân sự
Ðiều 688 BLDS năm 2005 quy định:
Ðiều 689 BLDS năm 2005 quy định:
Căn cứ xác lập quyền sử dụng đất
Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Anh V chết,
thanh toán chia tài sản chung của vợ chồng nên xác định
quyền sử dụng đất là di sản của anh V để lại là 360 m 2 : 2
còn 180m2 chia đều cho 05 người thừa kế theo quy định tại
các điều 676, 689, 735 BLDS: 180 m2 : 5 = 36 m2 (gồm ông
Tr = chị X = cháu H = cháu Th = cháu A). Như vậy, ông Tr,
chị X, cháu H, cháu Th, cháu A được chia mỗi người 36 m 2
từ 180 m2 đất di sản thừa kế của anh V.
37
Thừa kế quyền sử dụng đất
Thừa kế quyền sử dụng đất là việc chuyển quyền sử
dụng đất của người chết sang cho người thừa kế theo
quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai.
Ðiều 734 BLDS năm 2005 quy định:
Cá nhân để thừa kế quyền sử dụng đất
Cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhận
chuyển quyền sử dụng đất có quyền để thừa kế quyền
sử dụng đất theo quy định tại Phần thứ tư của Bộ luật
này và pháp luật về đất đai.
38
Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
Phần I. Các vụ việc pháp luật về dân sự
1. Chấp nhận yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng
1.080 m2 đất nông nghiệp tại xứ đồng bờ Tuỳ, thôn LC, xã XG,
huyện S, tỉnh H của Nguyễn Thị X đối với ông Vương Văn Tr.
2. Xác định quyền sử dụng 1.080 m2 đất nông nghiệp đo thực
tế tại xứ đồng bờ Tuỳ thuộc thôn LC (bản đồ địa chính lập năm
1992) được cấp cho hộ gia đình anh Vương Văn V gồm: anh
39
4. Ghi nhận sự tự nguyện của chị X và 03 con xin chia
chung vào một khối. Chia cho chị Nguyễn Thị X và 03 con là
Vương Thị H, Vương Văn Th, Vương Văn A quyền sử dụng
684 m2 đất nông nghiệp còn lại tại xứ đồng bờ Tuỳ, thôn LC,
xã XG, huyện S, tỉnh H.
5. Chia cho ông Vương Văn Tr quyền sử dụng 396 m2 đất
nông nghiệp tại xứ đồng bờ Tuỳ, thôn LC, xã XG, huyện S,
tỉnh H (trong 1.080 m2 đất nông nghiệp đang có tranh chấp).
Các bên không phải thanh toán cho nhau khoản tiền nào
và có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền kê
khai xin cấp Giấy chứng nhận theo quyết định của Toà án.
VỤ VIỆC SỐ 3
Nội dung vụ án:
Ông Nguyễn Th mất ngày 09/5/2007, có vợ là bà Hồng
Bảo A. Ông Th, bà A có 03 con chung là Nguyễn Hồng C;
40
Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
Phần I. Các vụ việc pháp luật về dân sự
con của ông Th cụ thể: Anh C được hưởng toàn bộ diện tích nhà
đất tại phòng 103 (cũ phòng 3) - C5 - tập thể KL - quận Đ - thành
phố H gồm có phần đất tự tạo (lưu không) và 10m2 kiốt tại phòng
116 - C1. Anh S được hưởng 2/3 diện tích phòng 116 nhà C1 tập
thể KL; chị Q được hưởng 1/3 diện tích phòng 116 nhà C1 tập thể
KL bao gồm cả phần đất tự tạo (lưu không: có phần nhà xây trên
đất lưu không liền kề phần nhà chính có diện tích 22,75m2). Ngày
41
Anh Nguyễn Hồng S thống nhất với lời khai của chị Q
yêu cầu Tòa công nhận di chúc.
Chị Trần Thị Kim T (vợ anh C) nhất trí với lời khai của
anh C.
Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện:
Tại biên bản lấy lời khai ngày 20/4/2008, anh C khai có
nội dung vào cuối năm 2006 anh đã dùng tiền của bố để sửa
nhà. Tại phiên hòa giải ngày 24/6/2008, chị Q, anh Sơn cũng
đã tự nguyện thanh toán khoản tiền 24.944.160 đồng là tiền
sửa chữa xây dựng cho anh C.
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh C có đơn yêu cầu Tòa
án trưng cầu giám định chữ ký của ông Nguyễn Th tại chúc thư
lập ngày 18/4/2006. Tại Kết luận giám định số 920/C21 (P6)
ngày 06/5/2009 của Viện khoa học hình sự, Tổng cục cảnh sát
42
Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
Phần I. Các vụ việc pháp luật về dân sự
trên phần đất lưu không là của vợ chồng anh chị bỏ ra. Tuy
nhiên, anh C, chị T không đưa ra được các chứng cứ chứng
minh cho việc sửa chữa của mình. Hơn nữa, anh C còn xác
nhận vào cuối năm 2006 anh đã dùng tiền của bố để sửa nhà.
Về thực tế, ông Th là chủ sở hữu 02 căn hộ nêu trên. Trong quá
trình ở và quản lý nhà này, ông Th mới là người được quyền
lấn chiếm xây dựng phần đất lưu không phía trước hoặc phía
sau căn hộ. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Q, anh S cũng
đã tự nguyện thanh toán khoản tiền 24.944.160 đồng là tiền sửa
chữa xây dựng cho anh C.
Tuy nhiên, phần đất lưu không nói trên thuộc quyền quản
lý của nhà nước nên diện tích đất này không phải là di sản
thừa kế của ông Th. Do đó, xác định di sản của ông Th để lại
bao gồm: Nhà tại P116 - C1 theo biên bản định giá có giá trị
là: 353.663.136 đồng (giá trị của căn hộ P116) + 24.944.160
đồng (giá trị vật liệu xây dựng trên phần đất lưu không) =
378.607.296 đồng. Nhà tại P103 - C5 theo biên bản định giá
có giá trị là: 259.000.000 đồng (giá trị của căn hộ P103) +
28.574.000 đồng (giá trị vật liệu xây dựng trên phần đất lưu
không) = 287.574.000 đồng.
44
Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
Phần I. Các vụ việc pháp luật về dân sự
Đối với diện tích 10m2 kiốt, các đồ dùng sinh hoạt trong
gia đình các đương sự đã tự giải quyết không yêu cầu Tòa án
xem xét nên không phải xét.
Từ những phân tích trên, xác định phần diện tích nhà đất
đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng sở hữu hợp pháp
mang tên ông Nguyễn Th là di sản thừa kế của ông Nguyễn
Th và công nhận di chúc của ông Th về phần nhà đất này là có
căn cứ và đúng pháp luật.
Ðiều 652 BLDS năm 2005 quy định:
Di chúc hợp pháp
1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều
kiện sau đây:
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh C có đơn yêu cầu Tòa
án trưng cầu giám định chữ ký của ông Nguyễn Th tại chúc thư
lập ngày 18/4/2006. Tại Kết luận giám định số 920/C21 (P6)
45
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập
46
Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
Phần I. Các vụ việc pháp luật về dân sự
di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;
a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;
b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội;
những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc
điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người
di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải
được công chứng hoặc chứng thực.
Ðiều 655 BLDS năm 2005 quy định:
Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng
Người lập di chúc phải tự tay viết và ký vào bản di chúc.
Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm
chứng phải tuân theo quy định tại Ðiều 653 của Bộ
luật này.
Ðiều 653 BLDS năm 2005 quy định:
Từ những phân tích trên đây, vụ việc có thể được giải
quyết như sau:
Nội dung của di chúc bằng văn bản
1. Chấp nhận yêu cầu chia thừa kế theo di chúc của chị
1. Di chúc phải ghi rõ:
47
48
Tìm hiểu các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại
6. Ghi nhận sự tự nguyện của anh S và chị Q thanh toán
cho anh C, chị T 24.944.160 đồng tiền nguyên vật liệu xây
dựng trên đất lưu không.
5. Xác định di chúc do ông Nguyễn Th lập ngày
18/4/2006 là hợp pháp đối với di sản là căn hộ P116 - C1 và
căn hộ P103 - C5 khu tập thể KL, quận Đ, thành phố H cộng
với giá trị phần nguyên vật liệu xây dựng trên phần đất lưu
không tại 02 căn hộ nêu trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp
của ông Nguyễn Th.
- Giao cho anh Nguyễn Hồng S, chị Nguyễn Hồng Q sở
hữu, sử dụng chung căn hộ P116 - C1 tập thể KL, phường KL,
quận Đ, thành phố H diện tích 20,2m2 đã được UBND thành
phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông
49
50