CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
TAILIEUHUUICH.BLOGSPOT.COM
Câu 1: Trình bày điều kiện lịch sử - xã hội tác động đến quá trình hình thành và phát
triển tư tưởng Hồ Chí Minh:
Xã hội VN
- Xã hội VN thế kỷ XIX cho đến khi trước khi Pháp xâm lược vẫn là một xã hội phong kiến,
nông nghiệp lạc hậu, trì trệ. Sau khi lật đổ nhà Tây Sơn triều đình nhà Nguyễn đã thi hành
một chính sách đối nội, đối ngoại bảo thủ, phản động .Điều đó đã làm cho nước ta vốn đã
lạc hậu càng lạc hậu hơn.
- Năm 1858, Pháp chính thức xâm lược VN, triều đình nhà Nguyễn thối nát bạc nhược dưới
sức ép của nhân dân đã kháng cự một cách yếu ớt dần dần từng bước thỏa hiệp, nhượng bộ
và cuối cùng là cam chịu đầu hàng, đẩy nhân dân ta vào cảnh cực kỳ khó khăn, một cổ hai
tròng (phong kiến và thực dân).
- Trước tình cảnh đó, có hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nổ ra ở khắp mọi nơi theo nhiều xu
hướng khác nhau nhưng cuối cùng đều bị thất bại (Hoàng Hoa Thám,Phan Đình Phùng,
Phan Bội Châu,…). Con đường cách mạng Việt Nam lâm vào cảnh bế tắc về đường lối,
chưa có lối thoát.
- Chính lúc đó Nguyễn Ái Quốc đã xuất hiện. Vượt lên trên những hạn chế của các nhà yêu
nước đương thời. Người đã đến được với CN Mác-Lênin và con đường cứu nước đúng đắn
Quê hương và gia đình.
- Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước, gần gũi với nhân dân, chủ
trương lấy dân làm hậu thuẫn cho mọi cải cách về chính trị, xã hội của mình. Hồ Chí Minh
đã tiếp thu một cách sâu sắc tư tưởng thương dân của người cha. Sau này gặp trào lưu tư
tưởng mới của thời đại đã được nâng lên thành tư tưởng cốt lõi trong đường lối chính trị của
Người “lấy dân làm gốc”.
- Nghệ Tĩnh, nơi Người sinh ra cũng là mảnh đất giàu truyền thống yêu nước, chống giặc
ngoại xâm và cũng là quê hương của nhiều anh hùng nổi tiếngtrong lịch sử chống giặc ngoại
xâm. Hơn nữa ngay từ nhỏ Người đã đau xót chứngkiến cuộc sống nghèo khổ, bị bóc lột
đến cùng cực của đồng bào mình ngay trênmảnh đất quê hương.
Tất cả những điều đó đã thôi thúc Người phải sớm ra đi tìm một con đường mới để cứu dân,
cứu nước.
đã đánh dấu bước chuyển biến trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người từ chủ nghĩa
yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lê nin, từ người yêu nước trở thành người cộng sản.
- Trong quá trình ra đi tìm đường cứu nước, Người thấy tư tưởng của chủ nghĩaMác - Lênin,
tư tưởng của cách mạng vô sản phù hợp với con đường để có thể cứudân tộc mình. Chính vì
vậy Người đã tham gia cách mạng, đến với chủ nghĩa Mác -Lênin, đánh dấu sự chuyển biến
từ người yêu nước thành người cộng sản. Và Ngườitừ người đi tìm đường cứu nước đã
thành người dẫn đường cho cả dân tộc đi theo.
Câu 2: Trình bày những phẩm chất cá nhân ảnh hưởng đến quá trình hình thành và
phát triển tư tưởng HCM:
- Thứ nhất: Đó là tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo cộng với đầu óc phê phán tinh tường, sáng
suốt trong việc nghiên cứu các cuộc cách mạng tư sản hiện đại không bị đánh lừa bởi hào
nhoáng bên ngoài. Người thấy rằng cách mạng tư sản về cơ bản vẫn chưa thể giải phóng
loài người, vẫn còn người bóc lột người.
- Thứ hai: Đó là sự khổc ông học tập chiếm lĩnh vốn tri thức vốn có của thời đại, vốn kinh
nghiệm đấu tranh của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân quốc tế để có
thể tiếp cận với chủ nghĩa Mác-Lênin, khoa học về cách mạng của giai cấp vô sản quốc tế.
- Thứ ba: Đó là tâm hồncủa một nhà yêu nước, một chiến sĩ cộng sản nhiệt thành cách
mạng, một trái tim yêu nước thương dân, thương yêu những người cùng khổ, sẵn sàng chịu
đựng những hy sinh cao nhất vì độc lập của Tổ quốc, vì tự do và hạnh phúc của đồng bào.
- Thứ tư: Hồ Chí Minh là người có khả năng xử lý và chuyển hóa những tri thức của dân
tộc, nhân loại thành tri thức của bản thân mình.
Nhân cách, phẩm chất, tài năng của HCM đã tác động rất lớn đến sự hình thành và phát
triển tư tưởng của Người. Đó là một con người sống có hoài bão, có lý tưởng yêu nước,
thương dân, có bản lĩnh kiên định, có lòng tin vào nhân dân, khiêm tốn, bình dị, ham học
hỏi, nhạy bén cái mới, thông minh, có hiểu biết rộng, có phương pháp biện chứng, có đầu óc
thực tiễn… Chính nhờ vậy, Người đã khám phá sáng tạo về lý luận cách mạng thuộc địa
trong thời đại mới, xây dựng được 1 hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc và sáng tạo về
cách mạng VN, đã vượt qua mọi thử thách, sóng gió trong hoạt động thực tiễn, kiên trì chân
thuộc địa.
+ Giữa 1923: Người được bầu vào đoàn chủ tịch Hội Quốc tế Nông dân ở Mátxcơva,
tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V và Đại hội các đoàn thể quần chúng khác.
+ Cuối 1924: Nguyễn Ái Quốc tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên tại
QuảngChâu TQ, mở lớp huẩn luyện đào tạo cán bộ chính trị.
+ Tháng 2- 1930: Người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam và trực tiếp thảo cácvăn
kiện. Các văn kiện này cùng 2 tác phẩm “Người hoàn thành” và “Đường Kách mệnh”đã
đánh dấu sự hình thành cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng của Việt
Nam.
Từ 1930 – 1941: Giai đoạn vượt qua thử thách, kiên trì con đường đã xác địnhcho cách
mạng Việt Nam
+ Do không nắm được tình hình thực tế, lại bị chi phối bởi quan điểm “tả”khuynh đang
ngự tri bấy giờ, Quốc tế Cộng sản đã chỉ trích đường lối của NguyễnÁi Quốc và đã quyết
định đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương đồng thời ra nghị
quyết thủ tiêu Chánh cương và Sách lược vắntắt.
+ Tuy nhiên, khi nguy cơ của chủ nghĩa phát xít và chiến tranh thế giới mới đến gần,
Đại hội VII Quốc tế Cộng sản đã có sự chuyển hướng về sách lược, thành lập Mặt trận dân
chủ chống phát xít đồng thời tự phê phán các biểu hiện biệt phái, cô độc trước đây.
+ Tháng 11 – 1939 Nghị quyết Trung ương khẳng định tất cả mọi vấn đề phải nhằm vào
mục đích giải phóng dân tộc, lấy quyền lợi dân tộc làm tối cao mà giải quyết.
→ Phản ánh quy luật của cách mạng Việt Nam, giá trị và sức sống của tư tưởng Hồ Chí
Minh.
Từ 1941 – 1969: Giai đoạn phát triển và thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh
+ Đầu 1941: Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp chỉ đạo Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp
hành Trung ương khóa I, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc cao hơn hết, lập ra Mặt trận Việt
Minh, đưa tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, cũng là thắng lợi đầu tiên của Tư tưởng
Hồ Chí Minh.
+ Sau khi giành chính quyền, ta phải tiến hành 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ,
Tư tưởng HCM là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của
CM VN, từ CM dân tộc dân chủ nhân dân đến CM XHCN; là kết quả của sự vận dụng sáng
tạo và phát triển CN Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, đồng thời là sự kết tinh
tinh hoa dân tộc và trú tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải
phóng con người.
Tư tưởng HCM là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa yêu nước truyền thống văn hóa ,nhân
nghĩa và thực tiễn CMVN với tinh hoa văn hóa nhân loại, được nâng lên tầm cao mới dưới
ánh sáng của CN Mác – Lênin .
Tư tưởng HCM đã trở thành ngọn cờ thắng lợi của CM VN trong suốt hơn 70 năm qua và
tiếp tục soi sáng con đường chúng ta tiến lên XD một nước VN hòa bình, thống nhất. độc
lập, dân chủ và XHCN, dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN.
Ý nghĩa của việc học tập, nghiên cứu tư tưởng HCM:
- Tư tưởng HCM là chủ nghĩa Mac – Lênin ở VN:
+ Tư tưởng HCM được hình thành trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của
CNML. HCM đã vận dụng sáng tạo và phát triển CNML vào điều kiện cụ thể của nước ta,
phù hợp với LS, VH VN, xuất phát từ ĐN và con người VN. Có nắm được tư tưởng HCM
mới hiểu được đường lối của CMVN.
+ Tư tưởng HCM đã và đang soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng
lợi, trở thành giá trị bền vững chắc của dân tộc VN và lan tỏa ra TG.
+ Khi các thế lực thù địch đang ra sức tấn công nền tảng tư tưởng của Đảng nhằm đẩy
chúng ta đi chệch hướng thì đấu tranh bảo vệ, phát triển và vận dụng sáng tạo CNML, tư
tưởng HCM là vấn đề quan trọng, nhiệm vụ hàng đầu trong công tác chính trị tư tưởng và lý
luận của toàn Đảng, toàn dân ta.
+ Học tập và nghiên cứu tư tưởng HCM là để kiên định mục tiêu, nâng cao nhận thứctư tưởng, cải tiến phương pháp và phong cách công tác của chúng ta, góp phần đem công
cuộc đổi mới đi tới thắng lại ngày càng to lớn hơn nữa.
- Cốt lõi tư tưởng HCM là ĐL DT gắn liền với CNXH:
+ Đổi mới, mở cửa, hội nhập, hợp tác liên quốc gia, liên khu vực là một xu thế tất yếu,
trong đó các đối tác vừa hợp tác vừa cạnh tranh nhau một cách gay gắt. Các thế lực phản
động, thù địch không từ bỏ âm mưu “diễn biến hòa bình ” nhằm xóa bỏ CNXH đối với nuớc
ta thong qua kinh tế thị trường và trao đổi, giao lưu văn hóa. Trong điều kiện đó, để mở cửa,
- Thứ ba: Dân tộc Việt Nam là một dân tộc có truyền thống lạc quan yêu đời.Tinh thần
lạc quan đó có cơ sở từ niềm tin vào sức mạnh của bản thân mình, dântộc mình, tin vào sự
tất thắng của chính nghĩa.
- Thứ tư: Dân tộc Việt Nam là một dân tộc cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo
trong sản xuất và chiến đấu, đồng thời cũng là một dân tộc ham học hỏi, cầu tiến bộ, không
ngừng mở rộng cửa đón nhận tinh hoa văn hóa của nhân loại. Trên cơ sở giữ vững bản sắc
của dân tộc, nhân dân ta đã biết chọn lọc, tiếp thu, cải biến những cái hay, cái tốt, cái đẹp
của người thành những giá trị của riêngmình.
Tinh hoa văn hóa nhân lọai.
Hồ Chí Minh xuất thân trong gia đình khoa bảng, từ nhỏ Người đã được hấp thụ một nền
Quốc học và Hán học khá vững vàng. Khi ra nước ngoài, Người không ngừng làm giàu trí
tuệ mình bằng tinh hoa văn hóa của nhân loại. Chính điều đó làm nên nét đặc sắc của Hồ
Chí Minh, một con người tượng trưng cho sự kết hợp hài hòa văn hóa Đông - Tây.
Tư tưởng văn hóa phương đông.
-Trước hết nói về Nho giáo. Nho giáo còn có rất nhiều yếu tố tích cực nên mới có sức
sống mãnh liệt ngàn năm như vậy. Đó là triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, hành đạo,
giúp đời; đó là lý tưởng về một xã hội bình trị; là triết lý nhân sinh: tu thân dưỡng tính. Nó
đề cao văn hóa, lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu học. Hồ Chí Minh đã khai thác Nho giáo,
lựa chọn những yếu tố tích cực, phù hợp để phục vụ cho nhiệm vụ cách mạng.
- Tiếp theo là về Phật giáo. Bên cạnh những mặt tiêu cực vốn có của một tôngiáo, Phật
giáo cũng có rất nhiều ưu điểm như: Tư tưởng vị tha, từ bi, bá cái, cứu khổ cứu nạn, thương
người như thể thương thân; nếp sống có đạo đức, trong sạch,giản dị, chăm lo làm điều thiện;
tinh thần bình đẳng, dân chủ chất phác chống lại mọi phân biệt đẳng cấp; đề cao lao động,
chống lười biếng.
Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn kế thừa nhiều tư tưởng của các nhà tư tưởng phương Đông như:
Lão tử, Mặctử, Quản tử,… đặc biệt là tư tưởng Tam dân của Tôn Trung Sơn sau này
Tư tưởng văn hóa phương Tây.
- Trong 30 năm hoạt động cáchmạng ở nước ngoài, Hồ Chí Minh sống chủ yếu ở châu
chủ nghĩ Mác –Lênin, làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về
cách mạng ở các nước thuộc địa và phụ thuộc.
- Lý luận Mác – Lênin là một học thuyết cách mạng và khoa học, Đảng ta lấy chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động
của Đảng.
Câu7: Phân tích quan niệm của Hồ Chí Minh về dân tộcvà độc lập dân tộc.
Trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, cách mạng giải phóng dân tộc trở thành một bộ phận
của cách mạng vô sản thế giới, Lênin có cơ sở thực tiễn để phát triển vấn đề dân tộc thuộc
địa thành một hệ thống lý luận. Tuy cả Mac, Angghen và Lênin đã nêu lên những quan điểm
cơ bản về mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, tạo cơ sở lý luận
và phương pháp cho việc xác định chiến lược, sách lược của đẩng công sản về vấn đề dân
tộc và thuộc địa. Nhưng yêu cầu vận dụng và phát triển lý luận Mac_Lênin cho phú hợp với
thực tiễn ở các nước thuộc địa, chính HCM là người đã đáp ứng những yêu cầu đó.
HCM quan niệm về dân tộc và độc lập dân tộc là một nền độc lập hoàn toàn, độc lập một
cách triệt để, không phụ thuộc vào bất kỳ một lực lượng nào. Điều đó được thể hịên trong
một số bài viết như: lá thư gửi tổng thống Mỹ. Qua đó Người một lần nữa khẳng định nhân
dân Việt Nam rất yêu chuộng hoà bình và chống lại mọi kẻ thù xâm lược để đảm bảo nền
hoà bình của mình. Nền độc lập của chúng ta là nền độc lập về mọi mặt: chính trị, kinh tế,
quốc phòng an ninh, văn hoá xã hội.
Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc:
Độc lập, tự do là khát vọng lớn nhất của các dân tộc thuộc địa. Trong quá trình tìm đường
cứu nước, HCM đã tìm hiểu và tiếp nhận những nhân tố về con người trong tuyên ngôn độc
lập năm 1776 của Mỹ, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1791 của cách mạng
Pháp. Từ đó Người khái quát và nâng lên thành quyền của các dân tộc” tất cả các dân tộc
trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và
quyền tự do”.
Chính vì thế mà năm 1919 Người gửi tới hội nghị Vecxay bản yêu sách gồm 8 điểm đòi
quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam. Bản yêu gồm 2 nội dung cơ bản:
- Theo HCM giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và cách mạng vô
sản ở chính quốc có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau trong cuộc
đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc. Đó là mối quan hệ bình đẳng chứ không
phải là quan hệ phụ thuộc, hoặc quan hệ chính_phụ.Năm 1925 HCM viết” chủ nghĩa tư bản
là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám
vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng
thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của
giai cấp vô sản; con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị đứt sẽ lại mọc ra”
- Nhân dân các dân tộc thuộc địa có khả năng cách mang to lớn. Theo HCM khối liên
minh các dân tộc thuộc địa là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản. Phát biểu tại
đại hội V Quốc tế cộng sản (tháng 6_1924) Người khẳng định vai trò, vị trí chiến lược của
cách mạng thuộc địa:” vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của
giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vân mệnh của giai cấp bị áp
bức ở các nước thuộc địa…nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập
trung ở các nước thuộc địa hơn là ở chính quốc”.Nếu xem thường cách mạng ở thuộc địa
tức là “muốn đánh chết rắn đằng đuôi”. Vận dụng công thức của C.Mac: sự nghiệp giải
phóng giai cấp công nhân phải là sự nghiệp của bản thân giai cấp công nhân, Người đưa ra
luận điểm:”công cuộc giải phóng anh em( tức nhân dân thuộc địa_TG) chỉ có thể thực hiện
được bằng sự nỗ lực của bản than anh em”.
- Do nhận thức được vai trò, vị trí chiến lược của cách mạng thuộc địa, đánh giá đúng
sức mạnh dân tộc, năm 1921 Nguyễn Aí Quốc cho rằng cách mạng giải phóng dân tộc ở các
nước thuộc địa có thể dành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc.Người viết: ngày
mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê
tiện của bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và
trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế
quốc, họ có thể giúp đỡ những người an hem ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn
toàn.
- Trong tác phẩm Đườn cách mệnh, HCM có sự phân biệt về nhiệm vụ của cách mạng
vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc và cho rằng: hai thứ cách mạng tuy có khác nhau
khăn, thách thức, trên cả bình diện quốc tế cũng như từ các điều kiện thực tế trong nước tạo
nên. Trong bối cảnh đó, vận dụng tự tưởng HCM và cnxh và con đường quá độ lên cnxh.
Đảng ta tập trung giải quyết những vấn đề quan trong nhất.
ữ vững mục tiêu CNXH.
ền làm chủ của nhân dân, khơi dậy mạnh mẽ tất cả các nguồn lực, trước
hết là nội lực để thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Kết hợp sức mạnh dân tộc sức mạnh thời đại
ựng đảng vững mạnh làm trong sạch bộ máy nhà nước, đẩy mạnh đấu
tranh chống quan liêu bao cấp, tham nhũng lãng phí, thực hiện cần kiệm liêm chính xây
dựng CNXH.
Câu 10: PT quan điểm của HCM về động lực xây dựng CNXH ở VN? Ý nghĩa thực
tiễn?
* Động lực xây dựng CNXH là tất cả các yếu tố, nhân tố góp phần cho sự thúc đẩy phát
triển của CNXH
* HCM đề cập đến nhân tố con người trên 2 bình diện :
ộng đồng: để XDCNXH phải phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc, đây là 1
động lực chính.
nhân: HCM cho rằng phải xây dựng 1 hệ thống nội dung và biện pháp để kích
thích tính sáng tạo , tính tích cực của người lao động trong sự nghiệp XDCNXH. Người cho
rằng cần tác động vào các yếu tố chính trị, tinh thần của người lao động(VD như tuyên
truyền giáo dục để nâng cao tinh thần yêu nước, tinh thần lao động của người lao động).
Cần bồi dưỡng và phát huy ý thức làm chủ, tâm lý làm chủ, năng lực làm chủ của người lao
động, phát huy tinh thần dân chủ coi là chìa khóa vạn năng; Phát huy lợi ích của người lao
động, trước tiên là lợi ích về kinh tế; HCM cho tằng cần phải có sự điều chỉnh tác động của
những yếu tố khác như văn hóa. Đạo đức, pháp luật.
ếu tố ngoại lực : là sự giúp đỡ của các nước anh em
ếu tố của hệ thống chính trị và của đội ngũ cán bộ Đảng viên
ần phải nhận diện, khắc phục, kìm hãm những trở lực của CNXH: trước hết là sự
bênh về chính trị, sự trì trệ về kinh tế, lạc hậu về văn hoá. HCM nhấn mạnh “muốn cải tạo
XHCN thì phải cải tạo chính mình, nếu không có tư tưởng XHCN thì không làm việc
XHCN được”. “Khắc phục chủ nghĩa cá nhân là bước quan trọng để tiến lên CNXH”.
ề bước đi và các biện pháp xây dựng CNXH ở VN
HCM nêu ra hai nguyên tắc có tính phương pháp luận:
- Một là: Xây dựngk CNXH mang tính quốc tế, cần nắm vững nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác- Lênin về xây dựng chế độ mới. Phải học tập các nước an hem nhưng không áp
dụng máy móc vì nước ta có đặc điểm riêng của ta.
- Hai là: Xác định bước đi, biện pháp phaỉi xuất phát từ thực tế, đặc điểm dân tộc, nhu
cầu và khả năng thưc tế của nhân dân.
Phương pháp xây dựng CNXH là “ làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá
giàu, người giàu thì giàu thêm”, như vậy CNXH không đồng nhẩt với đói nghèo , mà từng
bước tiến lên cuộc sống sung túc, dồi dào.
Cách làm, là đem tài dân, sức dân để làm lợi cho dân. CNXH là do dân vì dân. Người đề
ra 4 chính sách: Công – tư đều lợi, chủ thợ đều lợi, công – nông giúp nhau, lưu thông trong
ngoài.
Ý nghĩa thực tiễn:
Giữ vững mục tiêu của CNXH
Phát huy quyề làm chủ của nhân dân, khơi dậy mạnh mẽ các nguồn lực nhất là nguồn
lựcnội sinh để công nghiệp hoá- hiện đại hoá.
Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh, làm trong sạch bộ máy nhà nước, đấu tranh
chống quan lieu, tham nhũng, thực hiện cần kiệm xây dựng CNXH.
Câu 12: Trình bày những quan điểm của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc. Liên
hệ vận dụng trong giai đoạn cách mạng hiện nay?
Quan điểm 1:
- Tư tưởng HCM về đại đoàn kết dân tộc nhất quán, xuyên suốt toàn bộ tiến trình cách
mạng Việt Nam. Đó là chiến lược tập hợp lực lượng nhằm hình thành sức mạnh to lớn của
quan, tự phát quần chúng thành hiện thực có tổ chức, thành sức mạnh vô địch của đấu tranh
vì độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân. HCM cho rằng yêu nước phải thể hiện ở
thương dân, không thương dân thì không có tinh thần yêu nước.
Quan điểm 3: Đại đoàn kết là nền tảng liên minh Công nhân-Nông dân-Trí thức
- Đoàn kết phải được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác Lê – Nin, trên cơ sở lập
trường, quan điểm thuộc giai cấp công nhân.
- Đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết Quốc tế, đoàn kết dân tộc là đoàn kết toàn
dân nhưng phải lấy liên minh Công nhân-Nông dân-Trí thức làm nền tảng, trong đó phải lấy
giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo.
- Vì xuất phát từ sứ mệnh lịch sử thuộc giai cấp công nhân là giai cấp đào huyệt chôn
CNTB và xây dựng XH mới.
- Xuất phát từ từ vị trí kinh tế, chính trị, Xã hội thuộc giai cấp công nhân là giai cấp có
kinh nghiệm tiếp thu tư tưởng mới, nắm giữ nền kinh tế tiên tiến…
- Trong mỗi một dân tộc, một đất nước có nhiều mối quan hệ, lợi ích song song cới từng
cá nhân và tập thể, gia đình và xã hội, quốc gia và quốc tế, việc giải phóng đất nước là một
yếu tố quan trọng.
Bản than giai cấp công nhân VN còn non trẻ nhưng có những đặc điểm của giai cấp
công nhân quốc tế: hiện đại, có tính kỉ luật cao, đại diện cho phương thức sản xuất tiến bộ…
Quan điểm 4: Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân
- Dân và nhân dân là khái niệm có nội hàm rộng, chỉ toàn bộ con dân nước Việt, “con
Rồng, cháu Tiên”. Tư tưỏng đại đoàn kết toàn dân là đoàn kết với tất cả nhân dân không
phân biệt: dân tộc thiểu số hay đa số, tín ngưỡng, già trẻ, gái, trai, giàu, nghèo,… Đoàn kết
với mỗi người dân cụ thể, với đông đảo quần chúng và cả hai đối tượng trên đều là chủ thể
của khối đại đoàn kết dân tộc.
- Đại đoàn kết dân tộc là nền tảng là gốc rễ là nguồn sức mạnh vô địch, quyết định
thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong khi tập hợp thì “lực lượng chủ yếu của khối đại
đoàn kết dân tộc là liên minh công – nông – trí thức, cho liên minh công- nông – trí thức là
nền tảng của mặt trận dân tộc thống nhất”.
Câu 13: PT quan điểm HCM về xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất vững mạnh?
ĐCSVN vận dụng những quan điểm đó vào dựng mặt trận tổ quốc hiện nay như thế
nào?
Quan điểm HCM về xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất vững mạnh.
1 .Dựng nước và giữ nước là sự nghiệp của toàn dân
- Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn quán triệt quan điểm cách mạng là sự nghiệp
của quần chúng, trong thực tiễn đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây và xây dựng, bảo
vệ Tổ quốc ngày nay. Trong tác phẩm "Đường kách mệnh", đồng chí Nguyễn ái Quốc đã
nói: Kách mệnh là việc chung của dân chúng, chứ không phải là việc của một hai người.
- Quan điểm cơ bản trên đã được thể hiện trong thực tiễn đấu tranh giành và giữ chính
quyền trước đây, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Mặt trận
dân tộc thống nhất là sự thực hiện bằng tổ chức việc tập hợp và phát huy sức mạnh toàn dân
trong sự nghiệp chung: giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Từ ngày thành lập, Đảng
ta đã coi Mặt trận dân tộc thống nhất là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, và đã phê phán mọi
biểu hiện coi nhẹ công tác mặt trận, hạ thấp vai trò của quần chúng, coi thường nhân tố dân
tộc trong cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: công tác mặt trận là một công tác rất
quan trọng trong toàn bộ công tác cách mạng.
- Để hình thành được mặt trận, tập hợp được hết thảy các lực lượng cách mạng và tiến
bộ trong mỗi thời kỳ cách mạng, Đảng đã đề ra những chủ trương, chính sách thích hợp
nhằm đoàn kết toàn dân, phấn đấu cho một mục tiêu nhất định xem đó là chương trình hành
động thống nhất của tất cả các giai cấp, các đảng phái, các lực lượng tham gia Mặt trận dân
tộc thống nhất. Thể hiện tính chất quần chúng rộng rãi trong công tác mặt trận, Đảng còn
linh hoạt trong việc lựa chọn các hình thức và tên gọi của mặt trận, phù hợp với hoàn cảnh
cụ thể và mục tiêu, nhiệm vụ từng thời kỳ cách mạng như: Mặt trận dân chủ, Mặt trận Việt
Minh, - Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Tổ quốc v.v.. Có mặt trận được tổ chức chặt chẽ theo
hệ thống từ trung ương đến cơ sở; có mặt trận chỉ mang tính chất liên hiệp hành động;
nhưng tất cả đều nhằm tập hợp, động viên được hết thảy mọi người tích cực tham gia vào sự
nghiệp chung giải phóng dân tộc và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
- Trong hệ thống chính trị - xã hội của nước ta, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức
xã hội rộng lớn nhất, vừa có tính liên hiệp rộng rãi, vừa có tính quần chúng sâu sắc. Vì vậy,
Mặt trận là đại diện chung cho quyền làm chủ của nhân dân, là sự nối liền các tầng lớp nhân
dân rộng rãi với Đảng, là chỗ dựa của Nhà nước như Điều 9 của Hiến pháp nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thể chế hoá.
- Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, nhiệm vụ trọng yếu hàng đầu của mặt trận là:
"Thực hiện tốt liên minh công nông, đoàn kết chặt chẽ trí thức và các tầng lớp nhân dân lao
động khác, đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo, các nhân sĩ... cùng những người Việt Nam
hiện đang sống ở nước ngoài muốn góp phần xây dựng đất nước, nhằm mục tiêu chung là
xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, góp phần giữ gìn hoà bình ở Đông Nam á và thế giới".
- Để phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò của mặt trận, tǎng cường mối liên hệ giữa Đảng
và quần chúng, các cấp, các ngành đều phải quán triệt và làm tốt công tác mặt trận, phê
phán tư tưởng coi nhẹ mặt công tác này. Các cấp uỷ Đảng phải tǎng cường lãnh đạo và tạo
điều kiện để mặt trận ngày càng làm tốt ba chức nǎng cơ bản sau:
Tuyên truyền, giáo dục, vận động các tầng lớp nhân dân giác ngộ về chủ nghĩa xã
hội, nhất trí với đường lối, chính sách của Đảng, hǎng hái tham gia các phong trào cách
mạng nhằm thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược, mục tiêu tổng quát của thời kỳ quá độ và
những mục tiêu cụ thể của chặng đường đầu mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của
Đảng đã đề ra.
Phối hợp và thống nhất hành động giữa các tổ chức thành viên, giữa mặt trận với
chính quyền từ trung ương đến cơ sở, nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động,
góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Phản ánh nguyện vọng, ý kiến của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và công
tác quản lý của Nhà nước; đề xuất và góp phần vào việc xây dựng luật pháp và chính sách
có liên quan đến các tầng lớp nhân dân; cùng các đoàn thể, các thành viên tổ chức thực hiện
quyền giám sát của nhân dân đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước.
--> Mặt trận dân tộc thống nhất đã đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử cách mạng
nước ta. Đó là một trong những nhân tố thành công của cách mạng Việt Nam, là vũ khí
quyết định sự mạnh yếu của nhà nước. Trách nhiệm của người cách mạng làm cho người
dân hiểu, giác ngộ và nhận thức được trách nhiệm của người làm chủ.
Nhà nước vì dân: nhà nước toàn tâm, toàn ý phục vụ quyền lợi, nguyện vọng của dân,
không có đặc quyền, đặc lợi riêng. Để có được nhà nước vì dân nhà nước đó phải của dân,
do dân, vì dân. Biểu hiện:
+) Thiết kế, tổ chức: đó là bộ máy lo cho dân những vấn đề thiết thực nhất như ăn - ở ngủ - nghỉ - đi lại. Nhà nước đó phải kiên quyết chống đặc quyền, đặc lợi, là một bộ máy
nhà nước trong sạch.
+) Đội ngũ cán bộ: cán bộ nhà nước không phải là những ông quan đè đầu cưỡi cổ nhân
dân, phải là những người cách mạng, đầy tớ trung thành của nhân dân và cũng là người lãnh
đạo nhân dân