Bài giảng môn tư tưởng hồ chí minh - Pdf 35

TÓM LƯỢC BÀI GIẢNG MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Chương mở đầu: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VÀ Ý NGHĨA HỌC TẬP MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH.
I.

-

II.

ĐỒI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
1. Khái niệm tư tưởng và tư tưởng Hồ Chí Minh.
a. Khái niệm tư tưởng:
Sự phản ánh hiện thực trong ý thức, biểu hiện quan hệ của con người với thế giới xung
quanh.
Một hệ thống những quan điểm, quan niệm, luận điểm được xây dựng trên một nền tảng
triết học nhất quán; đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của một giai cấp, một dân tộc; được hình
thành trên cơ sở thực tiễn nhất định và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện thực.
b. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh.
Định nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh: Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm
toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; từ cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa, là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ
nghĩa Mác -Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, là kết quả của sự kết tinh tinh hoa dân tộc
và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
Phân tích định nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh:
Thứ nhất: bản chất cách mạng và khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Thứ hai: nguồn gốc lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Thứ ba: nội dung cơ bản nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Thứ tư: giá trị, ý nghĩa, sức hấp dẫn, sức sống lâu bền của tư tưởng Hồ Chí Minh.
2. Đối tượng và nhiệm vụ của môn học tư tưởng Hồ Chí Minh.
a. Đối tượng nghiên cứu.
Hệ thống các quan điểm lý luận về cách mạng Việt Nam trong dòng chảy của thời đại mới.

Quan điểm lịch sử - cụ thể.
Quan điểm toàn diện và hệ thống.
Quan điểm kế thừa và phát triển.
Kết hợp nghiên cứu các tác phẩm với thực tiễn chỉ đạo cách mạng của Hồ Chí Minh.
2. Các phương pháp cụ thể.
Phương pháp lịch sử.
Phương pháp lôgíc.
Phương pháp liên ngành khoa học xã hội – nhân văn, lý luận chính trị.
Phương pháp phân tích và tổng hợp.
Phương pháp so sánh, đối chiếu.
Phương pháp văn bản học.
Phương pháp phỏng vấn nhân chứng lịch sử . . .
III. Ý NGHĨA HỌC TẬP BỘ MÔN TƯ TƯởNG Hồ CHÍ MINH.
1. Nâng cao năng lực tư duy lý luận và phương pháp công tác.
Thông qua việc truyền thụ Tư tưởng Hồ Chí Minh nâng cao nhận thức của sinh viên về vai
trò, vị trí của tư tưởng Người đối với cách mạng Việt Nam; tư tưởng của Người từ đó ngày càng
giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của thế hệ trẻ.
Bồi dưỡng củng cố cho sinh viên, thanh niên lập trường quan điểm cách mạng: kiên định
mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; tích cực chủ động đấu tranh phê phán
những quan điểm sai trái, bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ
trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta; biết vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh
vào giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống.
2.Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng và rèn luyện bản lĩnh chính trị.
Giúp cho người học lựa chọn được cách sống hợp đạo lý, yêu cái tốt, cái thiện, ghét cái ác,
cái xấu.
Nâng cao lòng tự hào dân tộc.
Vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống, tu dưỡng, rèn luyện bản thân, hoàn thành tốt
chức trách của mình, đóng góp thiết thực và hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng theo con đường
mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lựa chọn.
ChươngI:







mới: Chủ trương cầu ngoại viện, bạo lực của Phan Bội Châu; chủ trương “ỷ Pháp cầu tiến bộ”
của Phan Chu Trinh; con đường khởi nghĩa anh hùng của Hoàng Hoa Thám. . . tất cả đều thất
bại.
Phong trào cứu nước của nhân dân ta muốn giành được thắng lợi phải đi theo con đường
mới.
Bối cảnh quốc tế.
Vào nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản phát triển từ giai đoạn tự do
cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Chủ nghĩa đế quốc đã trở thành kẻ thù chung của
các dân tộc thuộc địa.
Sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân và chế độ phong kiến đối với các
nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ la tinh ngày càng nặng nề, sâu sắc. Bên cạnh các giai cấp cơ
bản trước kia, đã xuất hiện thêm các giai cấp, tầng lớp xã hội mới, trong đó có công nhân và tư
sản.
Từ cuộc đấu tranh sôi nổi của giai cấp công nhân các nước tư bản đã dẫn đến cao trào mới
của cách mạng thế giới với đỉnh cao là cách mạng tháng Mười Nga (7/11/1917), mà thành công
của nó thức tỉnh các dân tộc bị áp bức. Nhiều dân tộc được hưởng quyền tự do, tự quyết, hình
thành nên các quốc gia độc lập dẫn đến sự ra đời của Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô
Viết (12/1922).
Quốc tế Cộng sản III ra đời, phong trào công nhân trong các nước tư bản chủ nghĩa
phương Tây và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa phương Đông càng có quan
hệ mật thiết với nhau hơn trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc.
b. Những tiền đề tư tưởng – lý luận.
Giá trị truyền thống dân tộc.
Tư tưởng Hồ Chí Minh bắt nguồn từ chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất đấu tranh để


Quá trình tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin ở Hồ Chí Minh đã diễn rất khó khăn, nhưng chân
thành, giản dị:
Tham gia Đảng xã hội Pháp.
Đọc Sơ thảo lần thứ I Luận cương của V. I. Lênin.
Tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin từ cảm tính đến lý tính: theo phương pháp mác xít, nắm lấy
cái tinh thần, cái bản chất, vận dụng phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin để giải
quyết những vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam, không dập khuôn, máy móc, giáo điều.
Thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin đã giúp Hồ Chí Minh tổng
kết kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn để tìm ra con đường cứu nước: chỉ có chủ nghĩa xã hội,
chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên
thế giới.
2. Những nhân tố chủ quan thuộc về phẩm chất cá nhân của NGUYễN ÁI QUốC .
Tư duy độc lập, sáng tạo, tự chủ cộng với đầu óc phê phán tinh tường khi nghiên cứu các
cuộc cách mạng và đời sống chính trị của dân tộc, cũng như của thời đại.
Phẩm chất đạo đức cách mạng sáng ngời và năng lực hoạt động thực tiễn nhạy bén.
Bản lĩnh kiên định, luôn luôn tin tưởng vào nhân dân, khiêm tốn, bình dị, hay học hỏi,
nhạy bén với cái mới, có phương pháp biện chứng, có đầu óc thực tiễn.
Khổ công học tập để chiếm lĩnh vốn tri thức phong phú của thời đại và nắm bắt kinh
nghiệm đấu tranh của giai cấp vô sản quốc tế.
Có tâm hồn của một nhà yêu nước, một chiến sĩ cộng sản nhiệt thành, sẵn sàng hy sinh vì
độc lập của Tổ quốc, vì tự do, hạnh phúc của đồng bào.
Chính những phẩm chất cá nhân hiếm có đó đã góp phần quyết định việc NGUYễN ÁI
QUốC tiếp nhận, chọn lọc, chuyển hóa, phát triển những tinh hoa dân tộc và thời đại thành tư
tưởng đặc sắc của mình.
II. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIểN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH.
1. Thời kỳ trước năm 1911:hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cứu nước.
Hồ Chí Minh (lúc nhỏ là Nguyễn Sinh Cung) sinh ngày 19 – 05 – 1890 trong một gia đình
nhà nho yêu nước, gần gũi với nhân dân. Ảnh hưởng của quê hương và gia đình lên Người rất
lớn. Bản thân Người lớn lên trong nỗi đau của người dân mất nước, được sự giáo dục của gia

b.

2.
a.
b.
c.

Các văn kiện trên cùng với tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) và Đường kách
mệnh (1927) đã đánh dấu sự hình thành cơ bản TƯ TƯởNG Hồ CHÍ MINH về con đường của
cách mạng Việt Nam.
4. Thời kỳ 1930 – 1945: Vượt qua thử thách, kiên trì giữ vững lập trường cách mạng.
HCM vượt qua khuynh hướng tả khuynh đang chi phối Quốc tế Cộng sản và Ban chấp
hành Trung ương Đảng CSVN. Giữ vững quan điểm cách mạng giải phóng dân tộc của mình,
phát triển nó thành chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc, xác lập tư tưởng độc lập, tự do
dẫn đến thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ra đời.
Bản Tuyên ngôn độc lập do HCM trịnh trọng công bố trước quốc dân, đồng bào và toàn thể thế
giới về sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là sự khẳng định về mặt pháp lý quyền
tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam.
5. Thời kỳ 1945 – 1969: TƯ TƯởNG Hồ CHÍ MINH tiếp tục phát triển, hoàn thiện.
Đây là thời kỳ HCM cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân ta vừa tiến hành cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp, vừa xây dựng chế độ dân chủ nhân dân (1945 – 1954) mà
đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ; tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Thời kỳ này TƯ TƯởNG Hồ CHÍ MINH có những bước
phát triển mới:
Tư tưởng kết hợp kháng chiến với kiến quốc, tiến hành kháng chiến kết hợp với xây dựng
chế độ dân chủ nhân dân; tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng khác nhau, Cách mạng
giải phóng dân tộc ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc nhằm một mục tiêu
chung trước mắt là giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Tư tưởng chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính.
Tư tưởng xây dựng quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì

5


Lựa chọn con đường phát triển của dân tộc.
b. Độc lập dân tộc – nội dung cốt lõi của vấn đề dân tộc thuộc địa.
Cách tiếp cận từ quyền con người.
Những nhân tố về quyền con người trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ năm 1776
và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của CM Pháp năm 1791 đã được Hồ Chí Minh nâng
cao thành quyền dân tộc: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào
cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.
Nội dung của độc lập dân tộc.
Hoạt động của Hồ Chí Minh cho độc lập dân tộc.
Như vậy, tất cả những quan niệm trên của Hồ Chí Minh không chỉ là tư tưởng, mà còn là
lẽ sống, là học thuyết cách mạng của Hồ Chí Minh và tạo nên nguồn động viên to lớn cho các
dân tộc bị áp bức trên thế giới. Vì vậy, Hồ Chí Minh vừa được tôn vinh là Anh hùng giải phóng
dân tộc của Việt Nam, vừa được thừa nhận là Người khởi xướng các cuộc đấu tranh giải phóng
của các dân tộc thuộc địa trong thế kỷ XX.
2. Chủ nghĩa dân tộc - một động lực lớn của đất nước.
Đối với các dân tộc ở phương Đông, chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước.
Hồ Chí Minh thấy rõ sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc với tư cách là chủ nghĩa yêu nước chân
chính của các dân tộc thuộc địa. Đó là sức mạnh chiến đấu và chiến thắng trước bất cứ thế lực
ngoại xâm nào.
Chủ nghĩa dân tộc chân chính là một bộ phận của tinh thần quốc tế, khác hẳn với tinh
thần “vị quốc” của bọn đế quốc phản động.
Xuất phát từ sự phân tích quan hệ giai cấp trong xã hội thuộc địa, từ truyền thống dân tộc
Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đánh giá cao sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc mà những người cộng
sản phải nắm lấy và phát huy, và Người cho đó là một chính sách mang tính hiện thực tuyệt vời.
3.Mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp.
a. Vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp có quan hệ chặt chẽ với nhau.
b. Giải phóng dân tộc là vấn đề trên hết, trước hết; độc lập dân tộc gắn liền với chủ

Vượt qua được sự hạn chế về tư tưởng của các sĩ phu yêu nước đương thời, Hồ Chí Minh
đã lựa chọn khuynh hướng chính trị vô sản, Người khẳng định; “Muốn cứu nước và giải phóng
dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.
3/ Cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải do Đảng Cộng sản lãnh
đạo.
a.
Cách mạng trước hết phải có Đảng.
Nhưng muốn làm cách mệnh “trước hết phải làm cho dân giác ngộ . . . phải giảng giải lý
luận và chủ nghĩa cho dân hiểu”. “Cách mệnh phải hiểu phong triều cách mệnh thế giới, phải
bày sách lược cho dân. Vậy nên sức cách mệnh phải tập trung, muốn tập trung phải có Đảng
cách mệnh”.
Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Người khẳng định: “Trước hết phải có đảng cách
mệnh, để trong thì vận động và tổ chức quần chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và
vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có
vững thuyền mới chạy”.
b.
Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo duy nhất.
Đầu năm 1930, Hồ Chí Minh sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam – Đảng của giai cấp
công nhân và dân tộc Việt Nam, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin “làm cốt”, có tổ chức chặt chẽ, kỷ
luật nghiêm minh và mật thiết liên lạc với quần chúng.
Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong vấn đề thành lập Đảng
Cộng sản Việt Nam; trong vấn đề xác định bản chất của Đảng là “Đảng của giai cấp công nhân
và nhân dân lao động, nghĩa là những người thợ thuyền, dân cày và lao động trí óc kiên quyết
nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân”; trong vấn
đề xây dựng một Đảng cách mạng tiên phong, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, gắn bó với dân
tộc và một lòng phụng sự nhân dân, được nhân dân thừa nhận là đội tiên phong của mình; trong
vấn đề quy tụ lực lượng và sức mạnh của toàn dân tộc.Vì vậy, mọi người Việt Nam đều cảm
nhận Đảng Cộng sản Việt Nam là “Đảng của Bác Hồ”, là “Đảng ta”.
Nhờ những yếu tố trên, ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nắm ngọn
cờ lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam và trở thành nhân tố hàng đầu bảo đảm mọi

được độc lập”
b. Quan hệ giữa cách mạng thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc.
Trong phong trào Cộng sản quốc tế đã từng tồn tại quan điểm xem thắng lợi của cách
mạng thuộc địa phụ thộc vào thắng lợi của cách mạng vô sản ở chính quốc. quan điểm này đã
làm giảm tính chủ động sáng tạo của cách mạng thuộc địa. Hồ Chí Minh xem cả hai loại cách
mạng đều có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau trong cuộc đấu tranh
chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc. Đây là mối quan hệ bình đẳng, chứ không phải quan
hệ lệ thuộc hay chính – phụ.
6. Cách mạng giải phóng dân tộc phải được thực hiện bằng con đường cách mạng
bạo lực.
a. Tính tất yếu của bạo lực cách mạng.
b. Tư tưởng bạo lực cách mạng gắn bó hữu cơ với tư tưởng nhân đạo hòa bình.
c. Hình thái bạo lực cách mạng.
III. Kết luận.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc có những luận
điểm sáng tạo, đặc sắc, có giá trị lý luận và thực tiễn.
1. Làm phong phú học thuyết Mác-Lênin về cách mạng thuộc địa.
Về lý luận cách mạng giải phóng dân tộc.
Về phương pháp tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc.
2. Soi đường thắng lợi cho cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945.
Thắng lợi của 30 năm chiến tranh cách mạng 1945 – 1975.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay.
Khơi dậy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, nguồn động lực mạnh
mẽ để xây dựng và bảo vệ đất nước; nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc trên quan điểm giai
cấp; chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, giải quyết tốt mối quan hệ giữa các dân tộc
anh em và trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Chương 3:

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Mục tiêu:
Mục tiêu tổng quát của chủ nghĩa xã hội là: Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân lao động, sao cho xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh
thần ngày càng tốt.
b. Mục tiêu cụ thể:
Mục tiêu chính trị: chế độ chính trị chúng ta xây dựng là chế độ do nhân dân làm chủ.
Mục tiêu kinh tế:
Nền kinh tế chúng ta xây dựng là “một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và
nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến”. Cách bóc lột theo chủ nghĩa tư bản được
bỏ dần, đời sống vật chất của nhân dân ngày càng được cải thiện.
Mục tiêu văn hóa – xã hội:
Văn hóa thể hiện trong mọi sinh hoạt tinh thần của xã hội. Đó là xóa nạn mù chữ, xây
dựng phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, xây dựng phát triển văn hóa nghệ thuật, thực hiện
nếp sống mới thực hành vệ sinh, phòng bệnh, giải trí lành mạnh, bài trừ mê tín, dị đoan, khắc
phục phong tục tập quán lạc hậu. . .
Về bản chất, nền văn hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam “phải xã hội chủ nghĩa về nội
dung”, phát huy truyền thống văn hóa quý báu của dân tộc, đồng thời học tập văn hóa tiên tiến
của thế giới. Phương châm xây dựng văn hóa mới là phải dân tộc, khoa học, đại chúng. Phong
trào văn hóa phải có cả bề rộng lẫn bề sâu. Văn hóa phải gắn liền với lao động sản xuất . . .
c. Động lực.
Động lực hiểu khái quát là tất cả những nhân tố góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế
– xã hội thông qua hoạt động của con người.
Theo Hồ Chí Minh động lực biểu hiện ở các phương diện: vật chất và tinh thần; nội sinh
và ngoại sinh. Người khẳng định động lực quan trọng và quyết định nhất là con người, là nhân
dân lao động, nòng cốt là công – nông – trí thức. Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm đến lợi
ích chính đáng, thân thiết của họ; đồng thời chăm lo bồi dưỡng sức dân. Đó là lợi ích của nhân
dân và từng cá nhân.
Động lực: Nhà nước; kinh tế; văn hóa, khoa học, giáo dục; sự lãnh đạo đúng đắn của
Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ngoài các động lực bên trong, theo Hồ Chí Minh phải kết hợp được với sức mạnh thời

Trong lĩnh vực văn hóa – xã hội: xây dựng con người mới, coi trọng việc nâng cao dân
trí, đào tạo và sử dụng nhân tài.
2. Biện pháp.
a. Phương châm.
Một là, xây dựng chủ nghĩa xã hội là một hiện tượng phổ biến mang tính quốc tế, cần
quán triệt các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về xây dựng chế độ mới, có thể tham
khảo, học tập kinh nghiệm của các nước anh em, các nước tiên tiến, nhưng không máy móc
giáo điều, dập khuôn.
Hai là, xác định bước đi và biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội chủ yếu xuất phát từ
điều kiện thực tế, đặc điểm dân tộc, nhu cầu và khả năng thực tế của nhân dân.
b. Biện pháp.
Thực hiện cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, kết hợp cải tạo với xây dựng, lấy xây
dựng làm chính.
Kết hợp xây dựng và bảo vệ, đồng thời tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược ở hai miền
Nam – khác nhau trong phạm vi một quốc gia.
Xây dựng CNXH phải có kế hoạch, biện pháp, quyết tâm để thực hiện thắng lợi kế
hoạch.
Trong điều kiện nước ta, biện pháp cơ bản, quyết định lâu dài thàng công xã hội chủ
nghĩa là đem của dân, tài dân, sức dân làm lợi cho dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.
III/ Kết luận.
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng (12-1986) là kết quả của sự tổng kết những
vấn đề lý luận và thực tiễn sinh động tron g phong trào cách mạng của cả nước từ sau năm
1975. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa
xã hội, chúng ta cần tập trung giải quyết những vấn đề quan trọng sau.
Kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, khơi dậy mạnh mẽ tất cả các nguồn lực, trước
hết là nội lực, để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh
tế tri thức.
Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh, làm trong sạch bộ máy nhà nước, đẩy mạnh đấu

vai trò lãnh đạo của ĐCSVN, đều xuyên tạc lịch sử thực tế cách mạng dân tộc ta, trái với lý luận
lẫn thực tiễn, đi ngược lại xu thế phát triển của xã hội Việt Nam.
3/Bản chất của Đảng cộng sản Việt Nam.
Hồ Chí Minh khẳng định Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân, đội
tiên phong của giai cấp công nhân, mang bản chất giai cấp công nhân.
Đảng Cộng sản Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân. Điều này thể hiện ở những
nội dung sau:
Nền tảng tư tưởng và lý luận của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin.
Mục tiêu của Đảng cần đạt tới là chủ nghĩa cộng sản.
Đảng nghiêm túc tuân thủ những nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp vô
sản.
Bản chất giai cấp công nhân thống nhất với tính nhân dân và tính dân tộc. Đảng đại diện
cho lợi ích của toàn dân tộc. Đảng chỉ trở thành vững mạnh khi có khối liên minh công – nông
và có sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân ủng hộ. Sức mạnh của Đảng không chỉ bắt
nguồn từ giai cấp công nhân, mà còn bắt nguồn từ các tầng lớp nhân dân lao động khác. Cho
nên, trong Đảng không chỉ kết nạp những công nhân ưu tú, mà còn cả những người con ưu tú
của dân tộc thuộc những giai tầng khác nhau.
4/ Quan niệm về Đảng Cộng Sản Việt Nam cầm quyền.
a. Đảng lãnh đạo nhân dân giành chính quyền trở thành Đảng cầm quyền.
Hồ Chí Minh sớm nhận thức cần có một đảng cộng sản để lãnh đạo phong trào cách
mạng. Cho nên từ những năm 20 trở đi, Người tích cực chuẩn bị cả ba mặt: chính trị, tư tưởng
và tổ chức để tiến tới thành lập Đảng. Tới năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu
một trang mới trong lịch sử dân tộc ta.
Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cách mạng chân chính, không bao giờ hy sinh quyền
lợi của công – nông. Đảng dìu dắt, lãnh đạo giai cấp vô sản, lãnh đạo cách mạng Việt Nam là để
đem lại cuộc sống tự do, hạnh phúc cho toàn thể dân tộc. Chỉ có một Đảng như thế mới có thể
đem lại độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, phồn vinh cho đất nước và đưa cả
nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Với đường lối chính trị đúng đắn, tổ chức chặt chẽ, Đảng lãnh đạo toàn thể dân tộc giành
chính quyền, thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đó cũng là thời điểm Đảng Cộng sản

c. Xây dựng Đảng về tổ chức, bộ máy, công tác cán bộ.
Hệ thống tổ chức của Đảng.
Hồ Chí Minh khẳng định sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ tổ chức. Hệ thống tổ chức của
Đảng từ trung ương đến cơ sở phải thật chặt chẽ, có tính kỷ luật cao. Sức mạnh của các tổ chức
liên quan chặt chẽ với nhau; mỗi cấp độ tổ chức có chức năng, nhiệm vụ riêng.
Trong hệ thống tổ chức Đảng, Hồ Chí Minh rất coi trọng vai trò của chi bộ. Bởi lẽ đối
với bản thân Đảng, chi bộ là tổ chức hạt nhân, quyết định chất lượng lãnh đạo của Đảng; là môi
trường tu dưỡng rèn luyện và cũng là nơi giám sát đảng viên; chi bộ có vai trò quan trọng trong
việc gắn kết giữa Đảng với quần chúng nhân dân.
Các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng.
+ Tập trung dân chủ.
+ Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.
+ Tự phê bình và phê bình.
+ Kỷ luật nghiêm minh và tự giác.
+ Đoàn kết thống nhất trong Đảng.
Cán bộ, công tác cán bộ của Đảng.
Hồ Chí Minh nhận thức rõ vị trí, vai trò của cán bộ trong sự nghiệp cách mạng. Cán bộ là
cái dây chuyền của bộ máy, là mắt khâu trung gian nối liền giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.
Muôn việc thành công hay thất bại do cán bộ tốt hay kém. Người cán bộ phải có đủ đức và tài,
phẩm chất và năng lực, trong đó đức, phẩm chất là gốc.
Hồ Chí Minh cho rằng, công tác cán bộ là công tác gốc của Đảng. Nội dung của nó bao
hàm các mắt khâu liên hoàn, có quan hệ chặt chẽ với nhau: tuyển chọn cán bộ; đào tạo, huấn
luyện, bồi dưỡng cán bộ; đánh giá đúng cán bộ; tuyển dụng, sắp xếp, bố trí cán bộ; thực hiện
các chính sách đối với cán bộ.
d. Xây dựng Đảng về đạo đức.
Xét về bản chất, đạo đức của Đảng ta là đạo đức mới, đạo đức cách mạng. Đạo đức đó
mang bản chất của giai cấp công nhân, cũng là đạo đức cách mạng, đạo đức cộng sản chủ nghĩa
mà nội dung cốt lõi là chủ nghĩa nhân đạo chiến đấu. Vì thế, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Đảng ta là
một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng,
thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Có đạo đức cách mạng trong sáng, Đảng ta mới

a/ Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quyết định thành công của
cách mạng Việt Nam.
Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, trong thời đại mới để đánh bại các thế lực đế quốc thực dân
nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người, nếu chỉ có tinh thần yêu
nước chưa đủ; cách mạng muốn thành công và thành công đến nơi phải tập hợp được tất cả mọi
lực lượng có thể tập hợp, xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc bền vững. Chính vì vậy,
trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, cơ bản, nhất
quán, lâu dài và xuyên suốt tiến trình cách mạng.
Để quy tụ được lực lượng vào khối đại đoàn kết toàn dân, cần phải có chính sách và
phương pháp phù hợp với từng đối tượng. Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, trước
những yêu cầu và nhiệm vụ khác nhau, chính sách và phương pháp tập hợp có thể và cần thiết
phải điều chỉnh cho phù hợp với từng đối tượng khác nhau, song đại đoàn kết dân tộc phải luôn
được nhận thức là vấn đề sống còn, quyết định thành bại của cách mạng.
Chính sách Mặt trận đặt ra là để thực hiện đoàn kết dân tộc. Nhờ tư tưởng nhất quán và
chính sách Mặt trận đúng đắn, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng thành công khối
đại đoàn kết dân tộc, đưa cách mạng Việt Nam giành được nhiều thắng lợi to lớn.
“Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết chặt chẽ thì chúng ta nhất định có thể
khắc phục mọi khó khăn, phát triển mọi thuận lợi và làm tròn nhiệm vụ nhân dân giao phó”;
“Đoàn kết là một lực lượng vô địch của chúng ta để khắc phục khó khăn, giành lấy thắng lợi”
“Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi”; “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành
công”; “Bây giờ còn một điểm rất quan trọng, cũng là điểm mẹ. Điểm này mà thực hiện tốt thì
đẻ ra con cháu đều tốt: Đó là đoàn kết”.
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết.
Thành công, thành công, đại thành công”.
b/ Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của dân tộc.
13

13



a/ Hình thức tổ chức khối đại đoàn kết dân tộc là Mặt trận dân tộc thống nhất.
Điểm quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh là đại đoàn kết dân tộc phải biến thành sức
mạnh vật chất, phải trở thành lực lượng vật chất có tổ chức – tổ chức đó là Mặt trận dân tộc
thống nhất.
Mặt trận dân tộc thống nhất là nơi quy tụ mọi tổ chức và cá nhân yêu nước, nơi tập hợp
mọi con dân nước Việt, không chỉ ở trong nước mà còn bao gồm cả những người Việt Nam
định cư ở nước ngoài, dù ở bất cứ phương trời nào, nếu tấm lòng vẫn hướng về quê hương đất
nước, về Tổ quốc Việt Nam, đều được coi là thành viên của Mặt trận.
Tùy theo từng thời kỳ, căn cứ vào yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng, Cương lĩnh và điều lệ
của Mặt trận dân tộc thống nhất có thể có những nét khác nhau, tên gọi của Mặt trận dân tộc
thống nhất theo đó, cũng có thể khác nhau: Hội phản đế đồng minh 1930;Mặt trận dân chủ
1936; Mặt trận phản đế 1939; Mặt trận Việt Minh 1941; Mặt trận Liên – Việt 1946; Mặt trận
dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam 1960; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 1955, 1976. Song
thực chất chỉ là một, đó là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của nhân dân Việt Nam, nơi quy
tụ, tập hợp đông đảo các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, đảng phái, các tổ chức và cá nhân
yêu nước ở trong và ngoài nước, phấn đấu vì mục tiêu chung là độc lập cho dân tộc, thống nhất
cho Tổ quốc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân.
b. Một số nguyên tắc cơ bản về xây dựng và hoạt động của Mặt trận dân tộc thống
nhất.
- Mặt trận dân tộc thống nhất phải được xây dựng trên nền tảng khối liên minh côngnông – trí thức, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.
14

14


- Mặt trận dân tộc thống nhất phải hoạt động trên cơ sở đảm bảo lợi ích tối cao của dân
tộc, quyền lợi cơ bản của các tầng lớp nhân dân.
- Mặt trận dân tộc thống nhất phải được hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương dân
chủ, bảo đảm đoàn kết ngày càng rộng rãi và bền vững.
- Mặt trận dân tộc thống nhất là khối đoàn kết chặt chẽ, lâu dài, đoàn kết thật sự, chân

Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc.
Phong trào hòa bình, dân chủ thế giới, trước hết là phong trào chống chiến tranh của
nhân dân các nước có lực lượng xâm lược Việt Nam.
b. Hình thức đoàn kết.
Ngay từ năm 1924, Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm về thành lập “Mặt trận thống nhất
của nhân dân chính quốc và các nước thuộc địa” chống chủ nghĩa đế quốc, đồng thời kiến nghị
Quốc tế Cộng sản cần có giải pháp cụ thể để đến Đại hội VI (1928) quan điểm này trở thành sự
thật.
Hồ Chí Minh dành sự quan tâm đặc biệt cho các dân tộc trên bán đảo Đông Dương. Năm
1941, để khơi dậy sức mạnh và quyền tự quyết của mỗi dân tộc, Người quyết định thành lập
riêng biệt Mặt trận dân tộc đồng minh cho từng nước Việt Nam, Lào, Cao Miên, tiến tới thành
lập Đông Dương độc lập đồng minh. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, Hồ Chí
Minh đã chỉ đạo việc hình thành Mặt trận đoàn kết Việt – Miên – Lào phối hợp giúp đỡ lẫn
nhau chùng chiến đấu, cùng thắng lợi.
Mở rộng ra các nước khác, Hồ Chí Minh quan tâm đến Trung Quốc với mối quan hệ
“vừa là đồng chí vừa là anh em”; thực hiện đoàn kết với các dân tộc Á – Phi đang đấu tranh
15

15


giành độc lập; sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa tại Pháp; sáng lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị
áp bức tại Trung Quốc; xây dựng Mặt trận nhân dân Á – Phi đoàn kết với Việt Nam; hình thành
Mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam chống đế quốc xâm lược.
Như vậy, tư tưởng đại đoàn kết vì thắng lợi cách mạng của Hồ Chí Minh đã định hướng
cho việc hình thành bốn tầng Mặt trận: Mặt trận Đại đoàn kết dân tộc; Mặt trận đoàn kết Việt –
Miên – Lào; Mặt trận nhân dân Á – Phi đoàn kết với Việt Nam; Mặt trận nhân dân thế giới
đoàn kết với Việt Nam chống đế quốc xâm lược. Đây thực sự là sự phát triển rực rỡ nhất và
thắng lợi to lớn nhất của tư tưởng Đại đoàn kết Hồ Chí Minh.
3. Nguyên tắc đoàn kết quốc tế.

toàn cầu hóa hiện nay, thực hiện chính sách mở cửa, giao lưu, hợp tác, đa phương hóa, đa dạng
hóa, củng cố khối đoàn kết với mọi lực lượng tiến bộ trên thế giới vì mục tiêu hòa bình, độc lập
dân tộc, dân chủ và phát triển.
Đại đoàn kết dân tộc là yếu tố nội sinh có ý nghĩa quyết định. Đại đoàn kết dân tộc nhằm
tạo lực và thế để vươn ra bên ngoài, còn mở cửa hội nhập quốc tế cũng giúp lực và thế trong
nước ngày càng tăng lên. Thực hiện đại đoàn kết dân tộc gắn liền với đoàn kết quốc tế, kết hợp
sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại sẽ là ngọn nguồn tạo nên sức mạnh vô địch của cách
mạng Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Chương VI: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC CỦA DÂN,
DO DÂN VÀ VÌ DÂN.
16

16


b)




I. QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC CỦA DÂN, DO
DÂN VÀ VÌ DÂN.
1. Xây dựng Nhà nước thể hiện quyền làm chủ của nhân dân.
Nhà nước thể hiện quyền làm chủ của nhân dân chính là nhà nước của dân, do dân và vì
dân.
a. Nhà nước của dân.
Quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh là xác lập tất cả mọi quyền lực trong Nhà nước
và trong xã hội đều thuộc về nhân dân.
Nhân dân lao động làm chủ nhà nước, có quyền kiểm soát nhà nước, cử tri bầu ra các đại
biểu, ủy quyền cho các đại biểu đó bàn và quyết định những vấn đề quốc kế dân sinh.

Tính thống nhất còn biểu hiện ở chỗ Nhà nước ta bảo vệ lợi ích của nhân dân, lấy lợi ích của
dân tộc làm nền tảng.
Trong thực tế, Nhà nước ta đã đứng ra làm nhiệm vụ của cả dân tộc giao phó, đã tổ chức cuộc
các cuộc kháng chiến để bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc, xây dựng một nước Việt Nam
hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần tích cực vào sự phát triển tiến bộ
của thế giới.
3/ Xây dựng một Nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ.
Hồ Chí Minh đã sớm thấy được tầm quan trọng của Hiến pháp và pháp luật trong quản lý
xã hội. “Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”.
Sau này, khi trở thành người đứng đầu Nhà nước Việt Nam mới, Hồ Chí Minh càng quan
tâm sâu sắc hơn việc xây dựng và điều hành Nhà nước một cách có hiệu quả bằng pháp quyền.
17

17


Một Nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ được Hồ Chí Minh chú ý xây dựng thể hiện trên
những điểm sau đây:
a. Xây dựng một NN hợp hiến.
b. Hoạt động quản lý đất nước bằng Hiến pháp, pháp luật và chú trọng đưa pháp luật
vào cuộc sống.
c. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ đức và tài.
4. Xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu quả.
a. Đề phòng và khắc phục những tiêu cực trong hoạt động của nhà nước.
Hồ Chí Minh nêu rõ những tiêu cực cần đề phòng và khắc phục trong quá trình xây dựng
nhà nước:
Đặc quyền, đặc lợi là những thói cậy mình là người trong cơ quan chính quyền để cửa
quyền, hách dịch với dân, lạm quyền, đồng thời vơ vét của tiền, lợi dụng chức quyền để làm lợi
cho cá nhân mình, làm như thế là sa vào chủ nghĩa cá nhân.
Tham ô, lãng phí, quan liêu là “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng”, thứ giặc nguy hiểm

bảo đảm cho mọi người được bình đẳng trước pháp luật, xét phạt nghiêm minh mọi hành động
vi phạm pháp luật, bất kể sự vi phạm đó do tập thể hoặc cá nhân nào đó gây ra. Có như vậy, dân
mới tin và mới bảo đảm được tính chất nhân dân của Nhà nước ta.
Để phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, ngoài vấn đề thực thi nghiêm chỉnh
pháp luật, còn cần chú ý thực hiện những quy tắc dân chủ trong các cộng đồng dân cư, tùy theo
điều kiện của từng vùng, miễn là các quy tắc đó không trái với những quy định của pháp luật.
b) Kiện toàn bộ máy hành chính nhà nước.
18

18


Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực này là phải chú trọng cải cách, xây dựng,
kiện toàn bộ máy hành chính nhà nước, bảo đảm một nền hành chính dân chủ trong sạch, vững
mạnh, phục vụ đắc lực và có hiệu quả đối với nhân dân. Kiên quyết khắc phục thói quan liêu,
hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà, sách nhiễu, tham nhũng, bộ máy cồng kềnh, kém hiệu lực,
sa sút phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực thực hành nhiệm vụ công chức kém cỏi.
Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện hiện nay còn cần chú ý cải cách thủ tục
hành chính; đề cao trách nhiệm cá nhân trong việc giải quyết các khiếu kiện của công dân theo
đúng những quy định của pháp luật; tiêu chuẩn hóa cũng như sắp xếp lại đội ngũ công chức,
xây dựng một đội ngũ cán bộ công chức vừa có đức, vừa có tài, tinh thông chuyên môn, nghiệp
vụ. Đội ngũ công chức yếu thì không thể nói đến một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì
dân thực sự vững mạnh. Do vậy, công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức phải được đặt
lên hàng đầu và phải được tiến hành thường xuyên, bảo đảm chất lượng.
c. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước.
Nhà nước thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng.
Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và phát huy vai trò quản lý của nhà nước.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng với nhà nước: (lãnh đạo bằng đường lối, tổ
chức, bộ máy của Đảng trong các cơ quan nhà nước, bằng vai trò tiên phong gương mẫu của đội
ngũ Đảng viên, bằng công tác kiểm tra, Đảng không làm thay công việc quản lý của nhà nước,

Hai là, văn hóa không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị, phải phục vụ
nhiệm vụ chính trị và thúc đẩy sự phát triển của kinh tế.
b) Quan điểm về tính chất của nền văn hóa.
Nền văn hóa mới mang 3 tính chất cơ bản: dân tộc, khoa học và đại chúng.
19

19


c. Quan điểm về chức năng của văn hóa.
Một là, bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và những tình cảm cao đẹp.
Hai là, mở rộng hiểu biết, nâng cao dân trí.
Ba là, bồi dưỡng những phẩm chất, phong cách và lối sống tốt đẹp lành mạnh; hướng
con người đến chân - thiện - mỹ để hoàn thiện bản thân.
2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về một số lĩnh vực chính của văn hóa.
a. Văn hóa giáo dục:
Sau khi tìm thấy con đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã bỏ nhiều công sức phê phán nền
giáo dục phong kiến (kinh viện xa rời thực tế, bất bình đẳng, trọng nam khinh nữ …) và thực
dân (ngu dân, đồi bại, xảo trá, nguy hiểm hơn cả sự dối nát. . .).
Nền văn hóa giáo dục của nước Việt Nam độc lập được Hồ Chí Minh chuẩn bị từ những
lớp bồi dưỡng cán bộ cách mạng để sau này ra đời sau Cách mạng Tháng Tám và phát triển
cùng với sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Hồ Chí Minh cho rằng, việc xây dựng một nền giáo
dục của nước Việt Nam mới phải được coi là nhiệm vụ cấp bách, có ý nghĩa chiến lược, cơ bản
và lâu dài. Nền giáo dục đó sẽ “làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu
nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”. Trong quá trình xây
dựng nền văn hóa giáo dục ở Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đưa ra một hệ thống quan điểm rất
phong phú và hoàn chỉnh về giáo dục, định hướng cho nền giáo dục phát triển đúng đắn, góp
phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà.
b. Văn hóa văn nghệ.
Văn nghệ bao gồm văn học và nghệ thuật, là biểu hiện tập trung nhất của nền văn hóa là

20

20


Đức và tài quan hệ biện chứng với nhau.
- Kiên trì tu dưỡng theo các phẩm chất đạo đức Hồ Chí Minh.
Yêu Tổ quốc; Yêu nhân dân; Yêu chủ nghĩa xã hội; Yêu lao động; Yêu khoa học và kỷ
luật.
b. Nội dung học tập theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Thực trạng đạo đức lối sống trong sinh viên hiện nay.
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Một là, học trung với nước, hiếu với dân, suốt đời đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng
dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
Hai là, học tập cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, đời riêng trong sáng, nếp sống giản
dị và đức khiêm tốn phi thường.
Ba là, học đức tin tuyệt đối vào sức mạnh của nhân dân, hết lòng hết sức phục vụ nhân
dân; luôn nhân ái, vị tha, khoan dung và nhân hậu với con người.
Bốn là, học tấm gương về ý chí và nghị lực tinh thần to lớn, quyết tâm vượt qua mọi thử
thách gian nguy để đạt được mục đích cuộc sống.
III/ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI.
1/ Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người.
a. Con người được nhìn nhận như một chỉnh thể.
b. Con người lịch sử cụ thể.
c. Bản chất con người mang tính xã hội.
2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của con người và chiến lược “trồng
người”.
a. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của con người.
Con người là vốn quý nhất – nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng.
Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng; phải coi trọng, chăm sóc,


đạo đức con người) . . . hầu hết những luận điểm có tính chân lý này, Hồ Chí Minh đều đưa ra
trong thời kỳ 1945 đến 1946, khi Người bắt tay vào xây dựng một nền văn hóa mới ở Việt Nam.
Thực tiễn chứng minh rằng, những luân điểm đó không chỉ có ý nghĩa với Việt Nam, mà còn có
ý nghĩa quốc tế rất sâu sắc. Đánh giá cao tư tưởng và những đóng góp của Hồ Chí Minh, Nghị
quyết tôn vinh Người là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới của UNESCO
có đoạn: “Những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong
việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”.
Trong lĩnh vực đạo đức, Hồ Chí Minh đã có những đóng góp rất đặc sắc vào tư tưởng
đạo đức học mác xít. Những đóng góp đó đã nâng Người lên vị trí một nhà đạo đức học lỗi lạc
được thế giới thừa nhận.
Do nhiều nguyên nhân, C. Mác, Ph. Ăngghen và V. I. Lênin nói nhiều về đạo đức, song
chưa có điều kiện bàn niều về vai trò của đạo đức trong đời sống xã hội. Hồ Chí Minh đã phát
triển, hoàn thiện tư tưởng đạo đức học mác xít về vai trò và sức mạnh của đạo đức, về những
chuẩn mực đạo đức cơ bản và những nguyên tắc xây dựng một nền đạo đức mới phù hợp với
Việt Nam. Nhờ đó, đã tạo nên một cuộc cách mạng trong lĩnh vực đạo đức ở Việt Nam.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới có giá trị lý luận và thực tiễn rất
quan trọng.
Về mặt lý luận, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới với nội dung sâu sắc
và mới mẻ, có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự nghiệp giáo dục, đào tạo con người Việt Nam.
Trên cơ sở quán triệt quan điểm giáo dục đạo lý để làm người, coi con người là vốn quý nhất,
chăm lo cho hạnh phúc của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta, con người
vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã xác
định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu.
Con người, chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và văn hóa, ngày càng
được quan tâm chăm sóc, phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh
thần, trong sáng về đạo đức, là động lực của chủ nghĩa xã hội.
Chủ nghĩa xã hội là một chế độ ưu việt nhưng phải hiểu sự ưu việt trên hai mặt gắn bó
với nhau: Một là, nó là kết quả của những nỗ lực vượt bậc và bền bỉ của toàn dân ta, với những
con người phát triển cả về trí lực và khả năng lao động, về tính tích cực chính trị - xã hội, về

vì, giáo dục bao gồm gia đình - nhà trường – xã hội – góp phần hình thành, phát triển và hoàn
thiện nhân cách con người. “Trồng người” là nhằm phát triển toàn diện con người, nâng cao
trình độ “người”, hướng con người tới Chân- Thiện – Mỹ.
Tư tưởng về văn hóa, đạo đức và xây dựng con người mới là một bộ phận rất quan trọng
trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ lâu, tư tưởng đó đã trở thành một bộ phận của nền
văn hóa dân tộc và là ngọn đèn pha soi đường cho công cuộc xây dựng một nền văn hóa và đạo
đức mới ở Việt Nam. Nghiên cứu và học tập tư tưởng văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh, cũng như
noi theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ đơn thuần là vấn đề nhận thức, mà còn là
trách nhiệm chính trị của cả dân tộc, nhằm xây dựng Việt Nam thành một quốc gia văn minh
trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

23

23




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status