Tiểu luận giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư vay vốn ngân hàng ngoại thương lào - Pdf 35

1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết thẩm định dự án luận án Ngân hàng thương mại
Hiện nay, NHNT Lào là một Ngân hàng đứng đầu trong số các NHTM
Lào về cho vay nhiều dự án lớn như: Nhà máy điện, khai thác mỏ khoảng sản,
nhà máy xi măng và các dự án sản xuất khác... Tuy nhiên trong quá trình hoạt
động, NHNT Lào còn có một số hạn chế đặc biệt là trong công tác TĐDA. Vì
công tác thẩm định DAĐT có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và
thực hiện DAĐT, là cơ sở để quyết định việc lựa chọn hay bác bỏ dự án.
Cùng với quá trình đổi mới nền kinh tế, công tác thẩm định DAĐT là hết sức
quan trọng giúp nhà tài trợ hoặc người cho vay và chủ dự án đã được sáng lọc
lựa chọn DAĐT tối ưu, Vì vậy NHNT Lào đã quan tâm đến việc thẩm định
DAĐT đặc biệt khi có dự án mới. Vấn đề nâng cao và hoàn thiện công tác
TĐDA đối với NHNT Lào là rất cần thiết trong điều kiện Lào là một trong
những nước đang phát triển theo hướng cơ chế kinh tế thị trường.
Hội đồng Quản trị NHNT Lào đã ban hành Quyết định số: 07/NHNTL,
ngày 19/02/2004 về việc áp dụng chính sách quản lý rủi ro tín dụng bản hoàn
thiện và thông tư số 001/NHNT-2007 hướng dẫn về việc trình xin vay, bước
phê duyệt tín dụng và quyền trong việc phê duyệt tín dụng, nội dung khá rõ
ràng, nhưng khi tiến hành thực tế vẫn gặp nhiều khó khăn đặc biệt là dự án
lớn (trên 5 tỷ kíp) và dự án Nước ngoài, ngoài ra NHNT Lào chưa có phòng
thẩm định riêng.
Vì những lý do nêu trên, tác giả đã lựa chọn vấn đề: “Thẩm định dự án
đầu tư vay vốn tại Ngân hàng ngoại thương Lào” làm đề tài luận án Tiến sỹ
kinh tế. Trong luận án này tác giả sẽ đi sâu vào phân tích thực trạng công tác
thẩm định DAĐT, các kết quả đạt được, các nguyên nhân, các mặt hạn chế
trong quá trình thẩm định DAĐT, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng thẩm định DAĐT vay vốn tại Ngân hàng ngoại thương Lào.





3
Những điểm còn tranh luận, những điểm chưa được nêu ra như: Việc
áp dụng hệ thống thông tin, năng lực đội ngũ cán bộ thẩm định dự án, chủ đầu
tư, kinh phí thẩm định, các văn bản về thẩm định dự án còn ít và quản lý dự
án [60]
* Luận án tiến sỹ liên quan đến đề tài thẩm định DAĐT của Việt
Nam:
+ “Thẩm định dự án đầu tư” của Vũ Công Tuấn (1998). Tác giả đã tập
trung nhiều vào kỹ thuật phân tích, đánh giá DAĐT và các văn bản pháp luật
có liên quan. Theo ông, thẩm định DAĐT là một trong những kỹ thuật để
phân tích, đánh giá dự án. Quan niệm về thẩm định dự án của ông cũng đồng
nghĩa với quan niệm của các nước trên thế giới khi tiến hành thẩm định.
Thẩm định dự án gắn liền với kỹ thuật phân tích, đánh giá dự án trong đó đặc
biệt là phân tích chi phí và lợi ích của dự án, từ đó tác giả đề xuất các giải
pháp chủ yếu để nâng cao kỹ thuật thẩm định DAĐT về mặt tài chính [38].
+ “Hoàn thiện phương pháp thẩm định tài chính DAĐT trong hoạt
động cho vay của NH TM Việt Nam trong điều kiện hiện nay” Nguyễn Hòa
Nhân (2002). Trong luận án tác giả đề cập đến kỹ thuật phân tích nội dung,
phương pháp thẩm định tài chính dự án đầu tư và phân tích thực hành tài
chính dự án đầu tư để quyết định cho vay, từ đó tác giả để ra các giải pháp để
hoàn thiện công tác thẩm định tài chính chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng
thẩm định DAĐT tại ngân hàng [25].
+ “Phương hướng và những biện pháp chủ yếu nhằm đổi mới công tác
lập và thẩm định DAĐT ngành công nghiệp đồ uống của VN” Nguyễn Hồng
Minh (2003). Trong luận án tác giả tập trung chủ yếu vào các dự án sản xuất
đồ uống từ hoa quả và đề cập đến nội dung, công trình, phương pháp lập và
thẩm định dự án đầu tư ở tầm vĩ mô trong ngành công nghiệp chế biến đồ
uống, từ đó tác giả đã đề ra một số giải pháp chủ yếu nhằm đổi mới công tác

chung, các công trình nước ngoài nghiên cứu về thẩm định DAĐT thường tập
trung vào kỹ thuật phân tích đánh giá lợi ích và chi phí phục vụ mục đích tối
đa hoá lợi nhuận (tối đa hoá lãi cổ tức cho các cổ động) hoặc tiến hành phân
tích đánh giá lợi ích và chi phí đối với dự án, chương trình thuộc lĩnh vực


5
công cộng, từ đó tác giả đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng
thẩm định DAĐT về mặt tài chính thuộc lĩnh vực công cộng [87].
Tóm lại, có thể nói, cho đến nay đề tài nghiên cứu về thẩm định DAĐT
ở Việt Nam và quốc tế được rất nhiều người quan tâm. Trong các nghiên cứu
đó họ đưa ra các giải pháp để hoàn thiện nâng cao chất lượng công tác thẩm
định DAĐT. Tuy nhiên, dù được tiếp cận dưới nhiều góc độ, các giải pháp để
nâng cao chất lượng thẩm định DAĐT của Việt Nam và quốc tế thường chỉ
được trình bày như là một phần nội dung trong các công trình nghiên cứu về
thẩm định DAĐT, chứ chưa trở thành nội dung duy nhất, một cách có hệ
thống và cập nhật của một công trình riêng biệt. Như vậy, chưa có Luận án
nào có nội dung trùng lặp với đề tài “Thẩm định dự án đầu tư vay vốn tại
Ngân hàng ngoại thương Lào” như Luận án này.
3. Mục đích nghiên cứu của luận án
- Nghiên cứu và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn
về thẩm định DAĐT vay vốn tại NHNT Lào.
- Đánh giá thực trạng thẩm định DAĐT vay vốn tại NHNT Lào thời
gian qua và đưa ra các vấn đề tồn tại cần phải tiếp tục hoàn thiện.
- Đề xuất hệ thống những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác
thẩm định DAĐT vay vốn của NHNT Lào đến năm 2020.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
- Đối tượng nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu công tác thẩm
định DAĐT vay vốn tại NHNT Lào.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án đi sâu nghiên cứu tình hình thẩm định


các văn bản pháp quy, các hướng dẫn công việc tại

ngân hàng thương

NHNN Lào, NHNT Lào và các NHTM của Lào, thực

mại

hiện hoạt động thẩm định tại Việt Nam

Đánh giá thực

- Phỏng vấn, điều tra, khảo sát thực tế tại NHNT Lào,

trạng thẩm định

so sánh, đối chiếu với các quy định của NHNN Lào,

dự án tại Ngân

các NHTM khác tại Lào

hàng ngoại thương - Áp dụng các phương pháp thống kê để tổng kết,
đánh giá thực trạng

Lào

Để xuất giải pháp - Áp dụng phương pháp phân tích SWOT và dự báo để
hoàn thiện



8

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẨM ĐỊNH DỰ
ÁN ĐẦU TƯ VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1. Khái niệm thẩm định dự án đầu tư
Thẩm định DAĐT tại NHTM là quá trình thẩm định DAĐT do khách
hàng lập và nộp cho ngân hàng khi làm thủ tục vay vốn, dựa trên quản điểm
của ngân hàng. Nhiệm vụ của nhân viên tín dụng khi TĐDA là phát hiện
những điểm sai sót, những điểm đáng nghi ngờ hay những điểm chưa rõ ràng
của dự án và cùng với khách hàng thảo luận, làm sáng tỏ thêm nhằm đánh giá
chính xác và trung thực được thực chất của dự án. Để có sự phối hợp tốt với
khách hàng, nhân viên tín dụng cần nắm vững quy trình lập và thẩm định
DAĐT của khách hàng. Thẩm định dự án tạo cơ sở vững chắc cho hoạt động
đầu tư có hiệu quả. Nếu xem xét DAĐT theo quá trình từ chuẩn bị đầu tư,
thực hiện đầu tư, vận hành khai thác dự án khi đó công tác thẩm định DAĐT
sẽ được tiến hành với nhiều công việc từ thẩm định DAĐT để ra các quyết
định đầu tư, theo nội dung chi tiết xem xét một cách toàn diện trên các nội
dung của dự án từ pháp lý; thị trường, kỹ thuật công nghệ; tổ chức quản lý;
thẩm định tài chính dự án: thẩm định tổng mức vốn đầu tư, khả năng huy
động vốn, tỷ suất “r” thẩm định dòng tiền, thẩm định chỉ tiêu hiệu quả tài
chính, thẩm định rủi ro.
Theo luật Đầu tư và văn bản hướng dẫn thi hành của Việt Nam (2005):
là có rất nhiều quan điểm khác nhau về thẩm định tùy theo mục tiêu đầu tư
tính chất của dự án, chủ thể có quyền thẩm định, tùy theo luật đầu tư và chính
sách đầu tư của nước đó [27].

- Giúp đánh giá được mức độ tin cậy của phương án sản xuất hoặc
DAĐT mà khách hàng đã lập và nộp cho ngân hàng khi làm thủ tục vay vốn
- Thẩm định và đánh giá được mức độ rủi ro của dự án khi quyết định
cho vay
- Giúp cho cán bộ tín dụng và lãnh đạo ngân hàng có thể mạnh dạn
quyết định cho vay và giảm được xác suất hai loại sai lầm trong quyết định
cho vay: (1) cho vay một dự án tồi và (2) từ chối cho vay một dự án tốt


10
1.1.2.2. Bản chất của thẩm định dự án đầu tư vay vốn tại Ngân hàng
thương mại
Hoạt động thẩm định DAĐT (kết quả của nó là báo cáo thẩm định) là
hoạt động rất quan trọng, nó là bộ phận không thể tách rời trong tổng thể hoạt
động tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng. Về mặt nghiệp vụ, hoạt động
này giúp cho Ngân hàng có thể đưa ra những đánh giá về tính hợp lý, tính
hiệu quả và tính khả thi của dự án theo quy định của ngân hàng.
Thực chất, của công tác thẩm định DAĐT là quá trình kiểm tra đánh
giá toàn diện nội dung của dự án trên cơ sở các tiêu chuẩn, quyết định, của
NHNN. Những kết luận về tính khả thi của DAĐT sau khi được thẩm định sẽ
là cơ sở để các nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư. Việc thẩm định các
DAĐT là rất cần thiết, một mặt đối với chủ đầu tư, nó khẳng định lại ý tưởng
đầu tư ban đầu là hiện thực hay không ? Trên cơ sở đó đưa ra quyết định đầu
tư, mặt khác, đây cũng là công cụ để chủ đầu tư tiến hành huy động vốn cũng
như để trình lên các cấp có thẩm quyền để thông qua dự án, cho phép DAĐT
hoạt động. Như vậy, việc thẩm định DAĐT là cần thiết cho chủ đầu tư, cho
Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác...
Công tác thẩm định sẽ đi sâu phân tích, làm rõ các khía cạnh, các chi
tiết của dự án, giúp cho việc lựa chọn, phân tích tốt nhất, mang lại hiệu quả
cao nhất hay thậm chí có thể đưa đến việc loại bỏ tất cả các phương án và đưa

TĐDA được xem xét và đánh giá trên góc độ có khả năng huy động vốn và
hoạt động kinh doanh có lợi nhuận. Vì vậy việc thẩm định DAĐT đứng trên
gọc độ nào cũng không thể thiếu được.
Thực tế người TĐDA sẽ tiến hành kiểm tra phân tích đánh giá từng
phần và toàn bộ các mặt, các vấn đề có trong bản nghiên cứu tiền khả thi và
nghiên cứu khả thi (thường chỉ với bản nghiên cứu khả thi, hay còn gọi là
luận chứng kinh tế kỹ thuật) trong mối quan hệ mật thiết với doanh nghiệp
chủ dự án và các giả thiết về môi trường trong đó dự án sẽ hoạt động.
Để có thể giảm thiểu đến mức thập nhất những khoản nợ tồn đọng và
đưa ra quyết định phù hợp, thẩm định là một trong những khâu quan trọng
trong việc ra quyết định cho vay giúp ngân hàng phòng ngừa được rủi ro đối
với các khoản nợ.
Trong quan hệ tín dụng, vấn đề cơ bản mà Ngân hàng phải quan tâm để


12
đưa ra quyết định cho vay hoặc tài trợ vốn cho DAĐT đều phải tiến hành
thẩm định DAĐT là căn cứ giúp đưa ra các quyết định tín dụng đúng đắn như:
Thứ nhất, thẩm định DAĐT giúp Ngân hàng lượng định chính xác các
tham số cơ bản liên quan đến quá trình vận hành những DAĐT cụ thể: Quy
mô, cơ cấu vốn đầu tư, dòng tiền đầu vào, đầu ra, thời hạn thu hồi vốn, hiệu
quả đầu tư, rủi ro ...
Thứ hai, thẩm định DAĐT giúp Ngân hàng nâng cao chất lượng tín
dụng và hoạt động kinh doanh tốt việc cho vay theo dự án nói chung (lựa
chọn được dự án tốt, từ chối dự án tồi).
Thứ ba, thẩm định DAĐT giúp cho Ngân hàng phân loại được các dự
án do khách hàng mang tới, tìm được các dự án phù hợp với định hướng đầu
tư của Ngân hàng trong tương lai. Vì DAĐT là việc dự kiến về hành động bỏ
vốn trong tương lai, nên nó luôn bao gồm những yếu tố bất trắc, nguy cơ rủi
ro bên cạnh các kết quả có thể thu được. Do đó, mối quan tâm cơ bản trong

1.1.3.1. Yêu cầu đối với công tác thẩm định dự án đầu tư vay vốn tại Ngân
hàng thương mại
Thẩm định DAĐT được tiến hành đối với tất cả các dự án thuộc mọi
nguồn vốn. Tuỳ theo quy mô và hình thức. Khi dự án đó muốn vay vốn tại
ngân hàng. Tuy nhiên yêu cầu của công tác thẩm định đối với các dự án này
cũng khác nhau nhưng phải đảm bảo tính khách quan: Khi xem xét một dự án
phải xuất phát từ nhu cầu của thị trường, làm tốt công tác dự báo, nhìn nhận
nội dung một cách bao quát toàn diện, độc lập. Dự án phải được xem xét trên
phương diện lợi ích, có khả năng trả nợ cho ngân hàng. Đội ngũ tổ chức thực
hiện phải nhận thức rõ được vai trò của công tác TĐDA, phải có trình độ
chuyên môn về ngành nghề lĩnh vực của dự án được thẩm định, bên cạnh đó
cán bộ thẩm định cũng phải cập nhật nắm bắt được các quy định của ngân
hàng; công tác thẩm định phải đảm bảo thời gian và chi phí tối ưu nhất. Để
đảm bảo việc TĐDA có hiệu quả cao và an toàn, người trách nhiệm công tác
thẩm định cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Nắm vững chiến lược phát triển của ngân hàng, của ngành, của địa
phương, và các quy chế, luật pháp về quản lý kinh tế, quản lý đầu tư và xây
dựng hiện hành của nhà nước có liên quan đến dự án.
- Hiểu biết về bối cảnh, điều kiện và đặc điểm cụ thể của dự án, tình


14
hình và trình độ kinh tế chung của địa phương, đất nước và thế giới. Nắm
vững tình hình sản xuất - kinh doanh, các số liệu tài chính của doanh nghiệp,
các quan hệ tài chính - kinh tế tín dụng của doanh nghiệp (hoặc của chủ đầu
tư khác), với ngân hàng và ngân sách nhà nước.
- Biết khai thác số liệu trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp (hoặc
của chủ đầu tư), các thông tin về giá cả, thị trường để phân tích hoạt động
chung của doanh nghiệp (hoặc của chủ đầu tư), từ đó có thêm căn cứ vững
chắc để quyết định đầu tư hoặc cho phép đầu tư.

+ Có cơ sở tương đối vũng chắc để xác định hiệu quả của DAĐT cũng
như khả năng hoàn vốn hoặc khả năng trả nợ của DAĐT.
Bên cạnh đó, thẩm định DAĐT giúp Ngân hàng xác định được sự lợi
hại của DAĐT khi đi vào hoạt động trên các khía cạnh: Công nghệ, vốn, ô
nhiễm môi trường và các lợi ích kinh tế-xã hội khác. Nhưng mục đích của
việc TĐDA đầu tư vay vốn. Bảo đảm thực hiện các quy định của pháp luật về
DAĐT của ngân hàng.
1.1.4. Sự cần thiết phải tiến hành thẩm định dự án đầu tư vay vốn
1.1.4.1. Sự cần thiết phải tiến hành thẩm định dự án đầu tư vay vốn xét về
phía nhà đầu tư (người xin vay vốn)
Thông thường, khi xảy ra quyết định đầu tư một dự án, chủ đầu tư phải
cân nhắc giữa nhiều sự lựa chọn khác nhau, nghĩa là nhiều dự án khác nhau
trong cùng một giai đoạn. Mặt khác, tuy nắm vững những vấn đề, những chi
tiết kỹ thuật... của dự án nhưng đôi khi khả năng thu thập nắm bắt những
thông tin mới của doanh nghiệp bị hạn chế, nhất là đối với xu thế kinh tế,
chính trị, xã hội mới. Điều đó làm giảm tính chính xác trong phán đoán của
họ. Công tác thẩm định DAĐT sẽ đi sâu vào làm rõ các vấn đề này, giúp
doanh nghiệp lựa chọn phương án tốt nhất mang lại hiệu quả cao nhất hoặc
đưa ra những ý kiến xác đáng gợi ý cho chủ đầu tư để dự án có tính khả thi
cao hơn.
Một dự án dù có được chuẩn bị kỹ càng đến mấy cũng vẫn mang tính
chủ quan của người soạn thảo, bời vì người soạn thảo thường đứng trên góc
độ hẹp để nhìn nhận vấn đề. Để đảm bảo tính khách quan cần phải thẩm định,
việc thẩm định thực hiện độc lập với quá trình soạn thảo để cho phép chủ đầu
tư nhìn nhận lại dự án của mình một cách khách quan hơn, từ đó thấy được


16
những thiếu sót trong quá trình soạn thảo để bổ sung kịp thời. Nhờ vậy, chủ
đầu tư có thể khẳng định quyết định đầu tư của mình là đúng đắn. Ngoài hiệu

Bảng 1.1: Tóm tắt quy trình thẩm định dự án
Các giai
đoạn của
quy trình
(1)
Lập hồ sơ
đề nghị cấp
tín dụng
Thẩm định
dự án

Nguồn và nơi cung cấp
thông tin

Nhiệm vụ của ngân hàng
ở mỗi giai đoạn

Kết quả của mỗi giai
đoạn

(2)
- Khách hàng đi vay
cung cấp thông tin

(3)
(4)
- Tiếp xúc, phổ biến và hướng - Hoàn thành bộ hồ sơ để
dẫn khách hàng lập hồ sơ vay chuyển sang giai đoạn
vốn
sau

vay vốn

Tiếp nhận hồ sơ
khách hàng

Thu thập
thông tin
Lấy ý kiến các bộ,
ngành trung ương, sở
chuyên ngành, đại
phương liên quan

Lập báo cáo
thẩm định

Ký hợp đồng

Xuống tại chỗ
khách hàng
Phòng tín dụng tổ
chức thẩm định

Hội đồng tín dụng/Hội
đồng quản trị tổ chức
thẩm định lại

Lập báo cáo
thẩm định

Giám đốc

hợp công ty có sách tổng hợp tình hình tài chính và tổng hợp tài chính); Bảng
báo cáo thu nhập (theo mẫu của ngân hàng); Việc hoạt động tài khoản tiền gửi
(báo cáo lưu chuyể tiền tệ 1-2 năm gần nhất), thuyết minh báo cáo tài chính;
(trường hợp dự án mới hoặc mở rộng kinh doanh), Bản bình luận kinh tế của
dự án, kế hoạch tiến hành kinh doanh);
f/ Tài liệu về kinh doanh: Hợp đồng và quyết định khác từ bên liên
quan: (Giao ước nhận thầu, hợp đồng giao ước mua-bán, dịch vụ; tài liệu liên
quan đến kinh doanh: Giấy tờ khẳng định quyết toán, giấy kiểm tra việc, giao
ước mua-trả và giấy tờ khác có liên quan)
g/ Hồ sơ tài sản đảm bảo tiền vay: Tài sản là bất động sản: Hồ sơ nhà và đất


19
h/ Tài liệu khác theo ngân hàng yêu cầu
Ghi chú: - Các hồ sơ khác có liên quan do chủ đầu tư gởi (nếu có)
- Tùy theo tính chất dự án, phòng tín dụng có thể đề nghị
chủ đầu tư bổ sung các hồ sơ cần thiết để phục vụ công tác thẩm định
1.2.2. Thẩm định dự án đầu tư vay vốn tại Ngân hàng thương mại
Thẩm định dự án vay vốn là thẩm định khả năng hiện tại và tiềm tàng
của khách hàng về sử dụng vốn tín dụng. Mục tiêu của TĐDA vay vốn là tìm
kiếm những tình huống có thể dẫn đến rủi ro cho ngân hàng, tiên lượng khả
năng kiểm soát những loại rủi ro đó và dự kiến các biện pháp phòng ngừa và
hạn chế thiết hại có thể xảy ra. Mặt khác, TĐDA vay vốn còn quan tâm đến
việc kiểm tra tính nhận thức của hồ sơ vay vốn mà khách hàng cung cấp, từ
đó nhận định về thái độ trả nợ của khách hàng làm cơ sở quyết định cho vay.
Thu thập

Thẩm định

Thẩm định

- Kiểm tra trước khi cho vay: Là kiểm tra đánh giá tình hình hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mà cốt lõi vấn đề là đánh giá tình hình
hoạt động tài chính của doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn. Đây là giai đoạn
quan trọng trong quá trình đầu tư của ngân hàng, do đó ngân hàng đã thành
lập tổ chuyên trách để chuyên sâu vào công tác thẩm định, góp phần nâng cao
hiệu quả của dự án vay vốn.
- Kiểm tra trong khi cho vay: Kiểm tra giám sát khách hàng sử dụng


20
vốn vay, kịp thời phát hiện và xử lý. Trong giai đoạn này bao gồm: kiểm soát
tiền vay để chi trả đúng đối tượng, đúng mục đích, thu thập các chứng từ
thanh toán, sử dụng vốn vay lưu trong hồ sơ xin vay.
- Kiểm tra sau khi cho vay: Trong giai đoạn này tiếp tục duy trì kiểm
tra tình hình sử dụng vốn vay, chủ động kịp thời phát hiện các trường hợp sử
dụng vốn sai mục đích hoặc nguy cơ gây mất vốn để có biện pháp xử lý kịp
thời. Xem xét xử lý các khó khăn vướng mắc phát sinh, từ đó tìm ra phương
hướng khắc phục cho phù hợp.
Để làm rõ khái niệm trên chúng ta xem xét quy trình đó. Đó chính là
một quy trình liên tục kể từ khi lập hồ sơ xin vay của khách hàng cho đến khi
kết thúc quan hệ tín dụng, chúng ta thực hiện theo các bước như:
Bước 1: Nhân viên tín dụng tiếp xúc, hướng dẫn, phỏng vấn khách
hàng hoàn chỉnh hồ sơ phải kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ (Giấy đề nghị. Hồ
sơ pháp lý. Phương án/Dự án), có sự phù hợp với các chính sách, quy trình tín
dụng hiện hành. Nếu hồ sơ không đủ điều kiện phải báo cáo khách hàng bổ
sung thêm tài liệu theo yêu cầu cần thiết của ngân hàng. Nếu hồ sơ đủ điều
kiện tín dụng, nhân viên tín dụng ghi nhận hồ sơ vào sổ sách biên bản theo
dõi,
Bước 2: Trưởng phòng tín dụng cùng với cán bộ thực hiện công việc
thẩm định thu thập thông tin qua phỏng vấn, viếng thăm, trao đổi, lấy ý kiến

phải nộp giấy tờ tài sản bản chính (giấy quyền sử dụng đất khung đồng và
giấy khác có liên quan...)).
Đối với hồ sơ vay vốn những làn sau của khách hàng đang có quan hệ
tín dụng với Ngân hàng thì cán bộ trực tiếp cho vay nhận hồ sơ khách hàng, tổ
chức thẩm định làm theo như nói trên.
1.3. NỘI DUNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ VAY VỐN

Thẩm định tín dụng thực chất là thẩm định DAĐT, do khách hàng lập
và nộp cho Ngân hàng khi làm thủ tục vay vốn, dựa trên quản điểm của Ngân
hàng. Nhiệm vụ của nhân viên tín dụng khi TĐDA là phát hiện những điểm
sai sót, những điểm đáng nghi ngờ hay những điểm chưa rõ ràng của dự án và
cùng với khách hàng thảo luận, làm sáng tỏ thêm nhằm đánh giá chính xác và
trung thực được thực chất của dự án.
Thẩm định DAĐT đối với các dự án vay vốn của ngân hàng phải tuân
theo các quy định trong các văn bản quản lý của ngân hàng theo từng dai
đoạn. Song nhìn chung các nội dung thẩm định đều gắn chặt với việc xác định


22
tính khả thi của DAĐT và thường bao gồm những nội dung cơ bản mà cán bộ
thẩm định thường phân tích để đánh giá dự án vay vốn. Tuỳ theo quy mô đầu
tư, hình thức và nguồn vốn đầu tư, yêu cầu về nội dung thẩm định của từng
loại dự án có sự khác biệt nhau, tuy nhiên có thể cần được xem xét, đánh giá
hai nội dung quan trọng như: Thẩm định chung bản thân dự án và thẩm định
khách hàng vay vốn
1.3.1. Thẩm định bản thân dự án vay vốn
Ngân hàng kiểm tra thẩm định lại toàn bộ hồ sơ phần thuyết minh và
thiết kế của dự án thì khách hàng nộp cho ngân hàng có đủ tiểu chuẩn theo
quy định của ngân hàng hay không? Như: Về phương diện pháp lý; về
phương diện thị trường; về phương diện kỹ thuật; về phương diện tổ chức

hợp trong ngành nghề kinh doanh ghi trong đăng ký kinh doanh với ngành
nghề hiện tại của doanh nghiệp và sự phù hợp với dự án dự kiến đầu tư.
Ngành nghề kinh doanh được phép hoạt động và xu hướng phát triển của
ngành.
- Quản lý điều hành của lãnh đạo doanh nghiệp: Trình độ và năng
lực chuyên môn của người lãnh đạo doanh nghiệp. Trình độ, năng lực và kinh
nghiệm quản trị điều hành và quản lý tài chính của người lãnh đạo. Phẩm
chất, tư cách uy tín của người lãnh đạo trong và ngoài doanh nghiệp. Khả
năng nắm bắt thị trường, thích ứng và hội nhập thị trường. Đoàn kết, thống
nhất trong quản trị điều hành của ban lãnh đạo doanh nghiệp.
Nếu xét thấy hợp lý thì mới thực hiện các bước tiếp theo. Kiểm tra hồ
sơ đề nghị vay vốn, hồ sơ DAĐT, hồ sơ tài chính khách hàng, hồ sơ khoản
vay, hồ sơ bảo đảm tiền vay... Cán bộ Ngân hàng tiếp nhận hồ sơ vay vốn,
kiểm tra hồ sơ vay vốn đã đủ về số lượng và đáp ứng về các nội dung theo
yêu cầu hay chưa? Nếu chưa phải hướng dẫn khách hàng bổ sung các nội
dung theo yêu cầu. Những vấn đề có liên quan khi đánh giá năng lực pháp lý
của doanh nghiệp vay vốn: Xem xét sự phù hợp của dự án với các quy hoạch
phát triển kinh tế xã hội của địa phương, quy hoạch phát triển tổng thể ngành,
quy hoạch xây dựng. Thẩm định các giấy tờ cơ sở pháp lý của dự án như:
(Tên, địa chỉ đăng ký, số điện thoại, fax; Giấy phép đăng ký kinh doanh; Vốn
điều lệ và cơ cấu vốn điều lệ; Các thông tin chi tiết về cổ đông, đối tác; Chế
độ kế toán, kiểm toán và cơ quan kiểm toán gần đây nhất đã thực hiện kiểm
toán doanh nghiệp) các quyết định về việc thực hiện dự án, quyết định phê
duyệt địa điểm công trình, bản thiết kế kỹ thuật dự án, các công văn, quyết


24
định về nguồn tài chính thực hiện dự án, tổng dự toán được phê duyệt, biên
bản đấu thầu…)
- Đơn xin thành lập doanh nghiệp hoặc công ty

25
Vì việc nghiên cứu tổng khối lượng cung ứng hiện tại và số lượng sản phẩm
từ các nguồn cung cấp cho chủ đầu tư biết hiện tại cầu đã được đáp ứng như
thế nào, bên cạnh đó tìm ra các khoảng trống thị trường và để làm căn cứ, cơ
sở cho việc nghiên cứu, dự báo tổng khối lượng và nguồn cung ứng các sản
phẩm của dự án trong tương lai.
* Xác định loại thị trường và loại sản phẩm của dự án: Để làm rõ
những đối tượng tiêu thụ sản phẩm của dự án là như thế nào và sản phẩm của
dự án thuộc loại gì? Về phương diện kinh tế có thể phân chia sản phẩm theo 2
tiêu thức:
▪ Theo loại thị trường, bao gồm: (Thị trường nội địa và thị trường quốc
tế)
▪ Theo loại sản phẩm, bao gồm: (Các loại sản phẩm thô như xi măng,
sắt thép, phân bón, lúa gạo, khoáng sản. Các sản phẩm có tính năng tương tự
nhưng khác nhau về mẫu mã, cách trình bày, về thị hiếu như xe hơi, máy móc,
các sản phẩm công nghệ tiêu dùng... Các loại sản phẩm không luân chuyển
được như: nhà đất các công trình kiến trúc...)
Đối với mỗi loại sản phẩm và mỗi loại thị trường đòi hỏi phải có một
phương pháp nghiên cứu và tiếp thị riêng biệt tuy rằng về đại thể chúng tương
tư nhau.
* Phân đoạn thị trường và xác định thị trường mục tiêu
* Xác định sản phẩm của dự án
* Dự báo cung cầu thị trường về sản phẩm của dự án đầu tư trong
tương lai: (Thẩm định cung cầu thị trường về sản phẩm của dự án ở hiện tại
và trong quá khứ. Dự báo cầu sản phẩm của dự án trong tương lai. Dự báo
cung sản phẩm của dự án trong tương lai)
* Nghiên cứu vấn đề tiếp thị sản phẩm của dự án: (Nhiệm vụ của công
tác tiếp thị của dự án. Nội dung cần xem xét khi nghiên cứu công tác tiếp thị
của dự án: (Xác định đối tượng tiêu thu sản phẩm của dự án. Lựa chọn các
phương pháp giới thiệu sản phẩm. Lựa chọn các phương thức linh hoạt để đẩy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status