: Phân tích nội dung chế độ bảo hiểm thất nghiệp - Pdf 35

ĐỀ BÀI:
Câu 1: Phân tích nội dung chế độ bảo hiểm thất nghiệp?
Câu 2: Ông D sinh năm 1950, là thương binh suy giảm 45% khả năng lao động
đang nghỉ hưu ở quận D, thành phố H. Từ khi nghỉ hưu, ông D kí hợp đồng
lao động trông xe với một doanh nghiệp ở gần nhà.
Tháng 5/2014, do sức khỏe yếu lại có tiền sử bệnh huyết áp cao nên ông
D đã bị đột quỵ và qua đời.
1. Bằng các quy định của pháp luật an sinh xã hội hiện hành, anh/chị hãy
giải quyết các quyền lợi cho ông D và gia đình ông. Biết rằng, ông D còn
mẹ già hơn 80 tuổi và vợ hiện 60 tuổi sống phụ thuộc vào ông.
2. Giả sử ông D có con 25 tuổi, bị nhiễm HIV không còn khả năng lao động
thì có được hưởng chế độ an sinh xã hội nào không?

MỤC LỤC
1


A. PHÂN TÍCH NỘI DUNG CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
I. Khái quát chung về bảo hiêm thất nghiệp
II. Nội dung chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo pháp luật Việt Nam
B. GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
1. Bằng các quy định của pháp luật an sinh xã hội hiện hành,

Trang
2
2
5
11
11

anh/chị hãy giải quyết các quyền lợi cho ông D và gia đình ông. Biết

pháp hỗ trợ người lao động bị thất nghiệp như học nghề, môi giới việc làm, tư vấn
nghề nghiệp. Bảo hiểm thất nghiệp góp phần ổn định cuộc và hỗ trợ người lao động
được học nghề, có cơ hội tìm kiếm việc làm; giảm gánh năng cho ngân sách nhà
nước và doanh nghiệp. Khi xem xét khái niệm “bảo hiểm thất nghiệp”, ta có thể
xem xét dưới hai góc độ:
- Dưới góc độ kinh tế - xã hội: Bảo hiểm thất nghiệp là một biện pháp nhằm
hỗ trợ người lao động bị mất việc làm, giúp ổn định tạm thời cuộc sống, học nghề
và tìm kiếm việc làm mới thông qua việc tạo lập một quỹ tiền tệ tập trung do người
lao động, người sử dụng lao động đóng góp và hỗ trợ từ phía Nhà nước.
- Dưới góc độ pháp lí: Bảo hiểm thất nghiệp là tổng thể các quy phạm pháp
luật quy định việc đóng góp và sử dụng quỹ bảo hiểm thất nghiệp, chi trả trợ cấp

3


thất nghiệp để bù đắp thu nhập cho người lao động bị mất việc làm và thực hiện
các biện pháp đưa người thất nghiệp trở lại làm việc.
Khác với chế độ bảo hiểm xã hội khác, bảo hiểm thất nghiệp không chỉ có
mục đích bảo vệ thu nhập cho người lao động khi bị mất việc làm mà còn có các
biện pháp hỗ trợ nhằm giúp người lao động trở lại thị trường lao động.Trên thế giới
hiện nay đã có gần 70 quốc gia tham gia thực hiện bảo hiểm thất nghiệp. Đây được
đánh giá là một chế độ rất khó thực hiện trong hệ thống các chế độ bảo hiểm vì vậy
cần có những bước đi thận trọng trong việc thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp.
2. Nội dung cơ bản của bảo hiểm thất nghiệp
2.1. Đối tượng hưởng bảo hiểm thất nghiệp:
Là một bộ phận của bảo hiểm xã hội, mục đích của bảo hiểm thất nghiệp là
nhằm bảo vệ người lao động, đặc biệt là vấn đề thu nhập khi gặp rủi ro trong quan
hệ lao động. Vì vậy, đối tượng của bảo hiểm thất nghiệp cũng là thu nhập của
người lao động còn đối tượng tham gia bảo hiểm là người lao động và người sử
dụng lao động. Về nguyên tắc, bảo hiểm thất nghiệp được áp dụng đối với mọi

- Thời gian hưởng trợ cấp: Theo khuyến cáo của ILO thì thời gian trợ cấp dài
hay ngắn tùy thuộc vào khả năng tài chính của quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
- Mức hưởng trợ cấp: Theo quy định tại Công ước quốc tế về bảo hiểm xã hội
của ILO số 102 yêu cầu mức hưởng trợ cấp thất nghiệp không thấp hơn 45% mức
thu nhập trước khi mất việc làm. Tuy nhiên kinh nghiệm của một số quốc gia trên
thế giới chỉ ra rằng việc chi trả trợ cấp thất nghiệp khó có thể đáp ứng đầy đủ và
giải quyết được tình trạng khó khăn của người lao động bị thất nghiệp. Bởi vì mức
trợ cấp thường rất thấp chỉ có thể đảm bảo mức sống tối thiểu cho người lao động.
- Một số chế độ hỗ trợ trong bảo hiểm thất nghiệp: Nội dung của các biện
pháp hỗ trợ bao gồm vấn đề đào tạo nghề và việc làm. Cụ thể như biện pháp môi
giới việc làm, tư vấn nghề nghiệp, hỗ trợ kinh phí cho người thất nghiệp, biện pháp
hỗ trợ người lao động tự tạo việc làm, bảo hiểm y tế cho người thất nghiệp...
II. Nội dung chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo pháp luật Việt Nam
5


1. Đối tượng tham gia
Theo quy định tại Điều 80 Luật bảo hiểm xã hội năm 2008 thì: “Bảo hiểm
thất nghiệp áp dụng bắt buộc đối người lao động quy định tại khoản 3 và người sử
dụng lao động quy định tại khoản 4 Điều 2 của Luật này.” Như vậy, đối tượng tham
gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: người lao động và người sử dụng lao động.
- Người lao động: Theo quy định tại khoản 3 Điều 2 Luật bảo hiểm xã hội
năm 2008 thì người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là công dân Việt Nam
làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc mà các hợp đồng này
không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ đủ mười hai tháng đến ba mươi
sáu tháng với người sử dụng lao động. Dựa vào quy định trên có thể thấy chỉ
những người lao động có việc làm ổn định theo hình thức hợp đồng lao động hoặc
hợp đồng làm việc không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ đủ 12 tháng
đến 36 tháng mới thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Người lao động
thuộc khoản 3 điều 2 tuy chiếm một tỉ lệ nhỏ trong số những người thất nghiệp

- Người sử dụng lao động: Theo quy định tại khoản 4 điều 2 Luật bảo hiểm xã
hội thì là người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là người sử dụng
lao động quy định tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc có sử dụng từ mười lao động
trở lên. Như vậy, không phải mọi người sử dụng lao động đều thuộc đối tượng
tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Theo quy định trên, số lượng các doanh nghiệp, đơn
vị được tham gia bảo hiểm thất nghiệp còn khá hạn chế, ở mức chỉ với doanh
nghiệp, đơn vị nào sử dụng từ 10 lao động trở lên. Cách quy định như vậy nhìn
chung không đảm bảo được số lượng doanh nghiệp tham gia đóng bảo hiểm thất
nghiệp. Có những đơn vị không sử dụng lao động thuộc đối tượng tham gia bảo
hiểm thất nghiệp thì cũng không phải đóng quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Quy định này
đã tạo kẽ hở cho nhiều doanh nghiệp trốn đóng bảo hiểm thất nghiệp. Mặt khác quy
định này chưa bảo vệ quyền lợi của người lao động, nhất là khi họ đủ điều kiện
đóng bảo hiểm thất nghiệp nhưng làm việc trong doanh nghiệp, đơn vị sử dụng
dưới 10 lao động, không thuộc diện đóng bảo hiểm thất nghiệp. Xét trong mối
tương quan với bảo hiểm xã hội, quy định về phạm vi các doanh nghiệp tham gia
đóng bảo hiểm thất nghiệp cần được mở rộng.
7


2. Điều kiện hưởng
Điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp phức tạp hơn so với chế độ
bảo hiểm xã hội khác. Cụ thể điều kiện hưởng được quy định tại điều 81 Luật bảo
hiểm xã hội năm 2006 và được hướng dẫn tại Điều 15 Nghị đinh số 127/2008/NĐ –
CP, điều 2 Thông tư số 32/2010/TT – BLĐTBXH và điều 2 Thông tư số
44/2013/TT – BLĐTBXH. Theo đó, điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp được
xác đinh:
- Thứ nhất: Người lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ mười hai
tháng trở lên trong vòng hai mươi bốn tháng trước khi bị mất việc làm hoặc chấm
dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật. Như
vậy người lao động phải tham gia đóng góp vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp một

3. Chế độ hưởng
- Mức hưởng trợ cấp: Theo quy định tại khoản 1 điều 82 Luật bảo hiểm xã hội
2006, khoản 2 điều 16 Nghị định số 127/2008/NĐ – CP, khoản 1 Điều 3 Thông tư
số 32/2010/TT – BLĐTBXH thì: “Mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60%
mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của sáu
tháng liền kề trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp
đồng làm việc theo quy định của pháp luật. Trường hợp những tháng cuối cùng
trước khi thất nghiệp, người lao động có thời gian gián đoạn đóng bảo hiểm thất
nghiệp thì sáu tháng liền kề để tính mức trợ cấp thất nghiệp là bình quân của sáu
tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi người lao động mất việc làm hoặc
chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật.”
Việc xác định mức hưởng như trên là tương đối phù hợp với điều kiện kinh tế - xã
hội hiện nay. Đồng thời quy định này cũng phù hợp với khuyến nghị của ILO theo
Công ước số 168.
- Thời gian hướng trợ cấp: Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng
phụ thuộc vào thời gian làm việc có đóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động
và tổng thời gian được hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng được thực hiện theo
quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật Bảo hiểm xã hội. Cụ thể theo quy định tại
khoản 2 điều 3 Thông tư số 32/2010/TT – BLĐTBXH thì thời gian hưởng trợ cấp
9


thất nghiệp là: Ba tháng, nếu có từ đủ mười hai tháng đến dưới ba mươi sáu tháng
đóng bảo hiểm thất nghiệp; Sáu tháng, nếu có từ đủ ba mươi sáu tháng đến dưới
bảy mươi hai tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp; Chín tháng, nếu có từ đủ bảy mươi
hai tháng đến dưới một trăm bốn mươi bốn tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp;
Mười hai tháng, nếu có từ đủ một trăm bốn mươi bốn tháng đóng bảo hiểm thất
nghiệp trở lên. Việc quy định thời gian hưởng bảo hiểm thất nghiệp phải đạt 2 mục
tiêu là đảm bảo trợ cấp thất nghiệp trong thời gian người lao động thất nghiệp và
đảm bảo kích thích người lao động tích cực tìm kiếm việc làm mới. Với quy định

+ Hỗ trợ học nghề: theo quy định của pháp luật thì: “Người đang hưởng trợ
cấp thất nghiệp được hỗ trợ học nghề với thời gian không quá sáu tháng. Mức hỗ
trợ bằng mức chi phí học nghề ngắn hạn theo quy định của pháp luật về dạy
nghề.” Đây là một quy định hợp lý, tích cực trong nền kinh tế thị trường với sự
cạnh tranh gay gắt về việc làm, tạo cơ hội cho người lao động được đào tạo để tìm
kiếm công việc tốt hơn. Tuy nhiên, trên thực tế tỉ lệ người lao động bị thất nghiệp
học nghề rất thấp. Điều này cũng xuất phát một phần từ quy định về mức hỗ trợ học
nghề vẫn còn thấp, thời gian học nghề ngắn. Với mức hỗ trợ này, người lao động
rất khó tìm được công việc tốt với nghề mà họ được đào tạo. Tại khoản 2 Điều 4
Thông tư 32/2010/TT – BLĐTBXH đã quy định: “Trường hợp người lao động
đang hưởng trợ cấp thất nghiệp có nhu cầu học nghề với mức chi phí cao hơn mức
chi phí học nghề trình độ sơ cấp theo quy định của pháp luật thì phần vượt quá mức
chi phí học nghề trình độ sơ cấp do người lao động chi trả.” Điều này là khó khăn
đối với người lao động khi đang trong tình trạng thất nghiệp mà vẫn phải trả chi phí
học nghề.
+ Hỗ trợ tìm việc làm: Người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được
Trung tâm Giới thiệu việc làm tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí. Thời gian
người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được Trung tâm Giới thiệu việc làm
hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm tính từ ngày người lao động được hưởng trợ cấp
thất nghiệp hằng tháng và không quá tổng thời gian mà người lao động đó được
hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quyết định của Giám đốc Sở Lao động – Thương
binh và Xã hội.
11


+ Quyền hưởng bảo hiểm y tế: Người lao động đang hưởng trợ cấp thất
nghiệp hằng tháng được hưởng chế độ bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về
bảo hiểm y tế. Trường hợp chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp thì người lao động
không được hưởng bảo hiểm y tế và phải trả lại thẻ bảo hiểm y tế cho tổ chức bảo
hiểm xã hội theo hướng dẫn của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

dưỡng là 800.000 đồng/người/lần.
- Ngoài ra, ông D còn được ưu tiên trong tuyển sinh, tạo việc làm; được hỗ trợ
để theo học tại cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân đến trình độ đại
học căn cứ vào thương tật và trình độ nghề nghiệp được tạo điều kiện làm việc
trong cơ quan nhà nước, doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về lao động; ưu
tiên giao hoặc thuê đất, mặt nước, mặt nước biển, vay vốn ưu đãi để sản xuất, được
miễn hoặc giảm thuế theo quy định của pháp luật; được hỗ trợ về nhà ở quy định tại
khoản 4 Điều 4 của Pháp lệnh này.
- Khi ông D chết, người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí; đại diện
thân nhân được hưởng trợ cấp một lần bằng ba tháng trợ cấp ưu đãi (tương đương
là 5.280.000 đồng). Do ông D chỉ bị suy giảm 45% khả năng lao động nên thân
nhân của ông sẽ không được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng theo quy định tại
khoản 2 Điều 32 Nghị định số 31/2013/NĐ – CP.
Thứ hai: Giai đoạn từ khi ông D nghỉ hưu đến khi ông D qua đời vào tháng
5/2014
Theo dữ kiện đề bài đưa ra thì ông D là thương binh đang nghỉ hưu tại quận
D, thành phố H. Do đó nếu tính từ năm 1950, ta xác định ông D là đối
tượng đang hưởng lương hưu hàng tháng theo quy định tại điểm a khoản 2
điều 50 Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 và khoản 1 điều 29 Nghị định
68/2007/NĐ – CP của Chính phủ.
Do đó, khi chết ông D sẽ được hưởng chế độ tử tuất theo quy định tại Nghị
định 68/2007/NĐ – CP của Chính phủ. Cụ thể:
13


- Trợ cấp mai táng: Theo quy định tại Điều 36 của Nghị định này thì: “Người
lao động quy định tại các khoản 1 và 2 Điều 2 Nghị định này thuộc một trong các
trường hợp sau đây khi chết thì người lo mai táng được nhận trợ cấp mai táng:
a) Đang đóng bảo hiểm xã hội;
b) Đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội;

công nhận, con đẻ mà khi người chồng chết người vợ đang mang thai) chưa đủ 15
tuổi hoặc chưa đủ 18 tuổi nếu còn đi học hoặc đã đủ 15 tuổi trở lên nhưng bị suy
giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;
b) Vợ từ đủ 55 tuổi trở lên hoặc chồng từ đủ 60 tuổi trở lên; vợ dưới 55 tuổi hoặc
chồng dưới 60 tuổi nhưng bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;
c) Cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ hoặc cha chồng, mẹ vợ hoặc mẹ chồng, người khác mà
đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này khi còn sống có trách nhiệm nuôi dưỡng
nếu từ đủ 60 tuổi trở lên đối với nam, từ đủ 55 tuổi trở lên đối với nữ;
d) Cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ hoặc cha chồng, mẹ vợ hoặc mẹ chồng, người khác mà
đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này khi còn sống có trách nhiệm nuôi dưỡng,
dưới 60 tuổi đối với nam, dưới 55 tuổi đối với nữ mà bị suy giảm khả năng lao
động từ 81% trở lên.
Thân nhân được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng quy định tại các điểm b, c và d
khoản này phải không có thu nhập hàng tháng hoặc có thu nhập hàng tháng nhưng
mức thu nhập đó thấp hơn mức lương tối thiểu chung.”
Trong trường hợp của ông D thì ông D còn mẹ già hơn 80 tuổi và vợ hiện 60
tuổi sống phụ thuộc vào ông. Do đó, mẹ và vợ ông D sẽ thuộc trường hợp được
hưởng tuất hàng tháng theo quy định tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 37. Mức trợ
cấp tuất hàng tháng được quy định tại điều 38 Nghị định 67/2008/NĐ – CP. Theo
đó: “Mức trợ cấp tuất hàng tháng đối với mỗi thân nhân quy định tại

khoản 2

Điều 37 Nghị định này bằng 50% mức lương tối thiểu chung”. Như vậy, mẹ và vợ
ông D mỗi người sẽ được hưởng mức trợ cấp tuất hàng tháng là 50% x 1.050.000
đồng = 525.000 đồng. Thời điểm mẹ và vợ ông D nhận trợ cấp tuất hàng tháng
được tính từ tháng liền kề sau tháng ông D chết.
15




- Được cấp thẻ bảo hiểm y tế.
- Được Quỹ bảo hiểm y tế chi trả các chi phí khám bệnh, chữa bệnh...
- Khi đi khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại các điều 26, 27 và 28 của
Luật bảo hiểm y tế thì được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 80% chi phí khám bệnh,
chữa bệnh.
- Được bảo hiểm y tế chi trả đối với việc tiếp cận thuốc kháng HIV theo danh
mục thuốc kháng HIV do Bộ trưởng Bộ y tế quy định.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luận văn thạc sĩ luật học: Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp sau 4 năm thực hiện
– những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện/ Trần Văn Khánh / Hà Nội – 2012;
2. Khóa luận tốt nghiệp: Chế độ bảo hiểm thất nghiệp và việc thực hiện trên địa bàn
thành phố Hà Nội/ Đỗ Thu Hồng/ Hà Nội – 2010;
3. Các văn bản pháp luật:
- Luật bảo hiểm xã hội năm 2006;
- Luật bảo hiểm y tế năm 2008;
- Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 quy định sửa đổi, bổ sung một số điều
của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng;
- Nghị định số 152/2006/NĐ – CP của Chính phủ hướng dẫn một số điều của
Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc;
- Thông tư số 03/2007/TT – BLĐTBXH Hướng dẫn thực hiện một số điều của
Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ
hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt
buộc;
- Nghị định số 31/2013/NĐ – CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng;
- Nghị định 62/2009/NĐ – CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành Luật bảo hiểm y tế;
17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status