TÁC ĐỘNG của NGUYÊN tắc tự DO BIỂN cả đối với VIỆC HÌNH THÀNH QUY CHẾ PHÁP lý các VÙNG BIỂN THEO QUY ĐỊNH của CÔNG ước LUẬT BIỂN 1982 - Pdf 35

Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục

I.Lịch sử hình thành và nội dung của nguyên tắc tự do biển cả.
1. Lịch sử hình thành
Từ thế kỷ XV, khi các quốc gia mở rộng quyền lực của mình ra biển cả, sự đua tranh
trong việc chiếm lĩnh thị phần khai thác, sử dụng biển trở nên ngày càng quyết liệt, lúc
đó, người ta đã nhận ra rằng “biển cả không phải là nguồn tài nguyên vô tận mà biển cả là
của chung, các quốc gia bình đẳng trong việc khai thác, sử dụng biển”.Từ đó đã hình
thành hai quan điểm, hai học thuyết trái ngược nhau đó là: tự do biển cả (resnullius) và
chủ quyền quốc gia (rescommunis)
Học thuyết tự do biển cả lần đầu tiên được đưa ra bởi Hugo Grotius trong cuốn “Mare
Liberum” (tựa tiếng Anh : The Freedom of Sea). Cuốn sách lần đầu tiên được xuất hiện
tại Leiden bởi nhà xuất bản Elzevier vào mùa xuân năm 1609. Luận cứ của học thuyết
này bắt nguồn từ bản chất tự nhiên của biển cả, đó là tính động, tính lỏng, tính thống
nhất, tính không cạn kiệt của tài nguyên (theo quan niệm của thời kỳ đó) và Luật tự
nhiên. Cách tiếp cận của thuyết Biển tự do là để đi đến khẳng định, các quốc gia có
quyền tự do thương mại quốc tế thông qua đường biển. Theo lập luận của thuyết biển tự
do thì biển cả được để mở, không hạn chế về hàng hải.
Sau thế chiến thứ hai, quá trình pháp điển hóa luật quốc tế diễn ra mạnh mẽ, quan điểm
tự do biển cả cũng từ đó mà được các học giả, các tuyên bố đơn phương của các quốc gia
và thực tiễn khẳng định và phát triển:
- Tại phiên họp thứ 22 của Đại hội đồng Liên hợp quốc vào 17/08/1962, Arvid Pardo Đại
sứ Malte đã đưa ra tư tưởng coi vùng đáy đại dương nằm ngoài vùng tài phán quốc gia là
di sản chung của nhân loại.
- Nghị quyết 2479 ( XXV) ngày 17/12/1970 có nội dung tuyên bố về các nguyên tắc quản
lý đáy biển và đại dương cũng như các lòng đất của chúng nằm ngoài ranh giới quyền tài
phán quốc gia.
- Phán quyết của Tòa án pháp lý quốc tế: Nguyên tắc tự do thông thương hàng hải và
nghĩa vụ của mọi quốc gia không được sử dụng lãnh thổ của mình nhằm mục đích chống
lại quyền của các quốc gia khác ( Vụ eo biển Corfou ngày 09/04/1949 giữa Anh –
Albani)

đặt một cách hợp pháp một bộ phận nào đó của biển cả thuộc chủ quyền của mình. Điều
đó có nghĩa là trong biển cả tất cả các quốc gia đều được hưởng các quyền tự do được
quy định trong luật quốc tế. Song, mỗi quốc gia khi thực hiện các quyền tự do của mình
2


Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục

phải tôn trọng quyền lợi của các quốc gia khác.
Theo quy định tại Điều 87- Công ước luật biển 1982, những quyền tự do trên biển xuất
phát từ nguyên tắc tự do biển cả bao gồm:
- Tự do hàng hải : nội dung chủ yếu của quyền này liên quan đến tự do đi lại trên biển cả
và thẩm quyền tài phán đối với tàu thuyền khi hoạt động trên biển cả. Tàu thuyền một
nước nhất định không phải chịu sự tài phán của một quốc gia khác, trừ quốc gia mà tàu
mang quốc tịch, khi hoạt động trong vùng biển cả.
- Tự do đánh bắt hải sản các quốc gia có quyền tự do đánh bắt tài nguyên sinh vật biển là
quyền tự do không có bất kỳ một hạn chế nào. Tàu thuyền và công dân của mỗi quốc gia
có thể sử dụng mọi nguồn tài nguyên thiên nhiên của biển. Trên khu vực biển cả có thể
đánh bắt hải sản tùy theo khả năng của con người, vào bất cứ thời điểm nào mà họ muốn
và với bất kỳ phương tiện đánh bắt nào. Tuy nhiên, trong công ước cũng quy định về một
vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven bờ với chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ
sở, trong vùng này các quốc gia được tự do đánh bắt hải sản. Vùng đặc quyền kinh tế
chiếm khoảng 40% diện tích biển, đây là những vùng giàu hải sản nhất, chiếm 90% tổng
sản lượng đánh bắt trên thế giới.Như vậy, quyền tự do đánh bắt hải sản không được áp
dụng trên một vùng biển rất rộng lớn, nguyên tắc này hiện nay ít có ý nghĩa thực tiễn.

- Tự do đặt các dây cáp và ống dẫn ngầm: quyền tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm được
vận dụng chủ yếu từ sau thế chiến thứ hai. Quyền này được hiểu rộng hơn, là bao gồm cả
việc bảo vệ và nghiêm cấm phá hoại dây cáp và ống dẫn ngầm được đặt dưới biển. Quốc
gia đặt dây cáp và ống dẫn ngầm có nghĩa vụ phải đặc biệt quan tâm đến tình trạng của

biển đặc thù vẫn tồn tại nguyên tắc này, nhưng mức độ ảnh hưởng của nguyên tắc tự do
biển cả đối với việc hình thành quy chế pháp lý các vùng biển tăng dần khi đi từ đất liền
ra biển. Điều này thể hiện sự dung hòa của nguyên tắc tự do biển cả với nguyên tắc đất
thống trị biển. Trong phần này em xin đi vào chia tiết mức độ ảnh hưởng của nguyên tắc
tự do biển cả đối với việc hình thành quy chế pháp lý các vùng biển.

1. Đối với các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia
Càng đi sâu vào đất liền thì ảnh hưởng của nguyên tắc tự do biển cả lại càng giảm đi. Đối
với các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia, ảnh hưởng của nguyên tắc này ít hơn so với
các vùng biển khác.
4


Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục

1.1. Lãnh hải
Chủ quyền của quốc gia ven biển được mở rộng ra ngoài lãnh thổ và nội thuỷ của mình,
và trong mọi trường hợp một quốc gia quần đảo, ra ngoài vùng nước quần đảo đến một
vùng biển tiếp liền gọi là lãnh hải. Chủ quyền này được mở rộng đến vùng trời trên lãnh
hải, cũng như đến đáy và lòng đất dưới đáy của vùng biển này (Điều 2 Công ước);
ảnh hưởng của nguyên tắc tự do biển cả đối với quy chế pháp lý của lãnh hải : Thứ nhất,
trong lãnh hải thì các quốc gia khác có quyền đi qua không gây hại.
Quyền qua lại tức là quyền đi ở trong lãnh hải, nhằm mục đích:
- Đi ngang qua nhưng không đi vào nội thuỷ, không đậu lại trong một vũng tàu hoặc một
công trình cảng ở bên ngoài nội thuỷ; hoặc
- Đi vào hoặc rời khỏi nội thuỷ; hoặc đậu lại hay rời khỏi một vũng tàu hoặc một công
trình cảng ở ngoài nội thuỷ nêu trên.
Việc đi qua phải liên tục và nhanh chóng. Tuy nhiên, việc đi qua bao gồm cả việc dừng
lại và thả neo, nhưng chỉ trong trường hợp gặp phải những sự cố thông thường về hàng
hải hoặc vì một trường hợp bất khả kháng hay mắc nạn hoặc vì mục đích cứu giúp người,

Bên cạnh đó, trong lãnh hải các tàu quân sự nhà nước được hưởng quyền miễn trừ về
thẩm quyền tài phán dân sự và hình sự nhưng không được hưởng quyền miễn trừ pháp lý.
Tàu quân sự nước ngoài như tất cả các tàu thuyền khác phải tôn trọng luật lệ của quốc gia
ven biển liên quan tới quyền qua lại không gây hại.
1.2. Nội thủy
Nội thuỷ là vùng nước nằm phía bên trong của đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh
hải, tại đó các quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ như
trên lãnh thổ đất liền. Điều 8 Công ước quy định: “Trừ trường hợp đã được quy định ở
phần IV, các vùng nước ở phía bên trong đường cơ sở của lãnh hải thuộc nội thuỷ của
quốc gia”. Phần IV - phần được loại trừ ở đây là phần quy định về quốc gia quần đảo,
6


Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục

quy định: “Ở phía trong vùng nước quần đảo, quốc gia quần đảo có thể vạch những
đường khép kín để hoạch định ranh giới nội thuỷ của mình theo đúng các điều 9, Điều 10,
Điều 11” (Điều 50 của Công ước về hoạch định ranh giới nội thủy).
Cấu trúc của nội thủy dưới góc độ luật quốc tế gồm có : Vịnh thiên nhiên, vịnh lịch sử và
vùng nước lịch sử, cảng biển, vũng đậu tàu, cửa sông.
Ảnh hưởng của nguyên tắc tự do biển cả đối với nội thủy rất hạn chế. Trong vùng nước
nội thuỷ, mặc dù quốc gia ven biển có chủ quyền tuyệt đối, hoàn toàn và đầy đủ như trên
đất liền. Tuy nhiên, chủ quyền này chỉ được áp dụng đối với con tàu chứ không phải đối
với cá nhân, pháp nhân, người nước ngoài ở trên tàu đó. Bất kỳ tàu thuyền nào của nước
ngoài muốn vào nội thủy của nước ven biển đều phải xin phép trước và có sự cho phép
của quốc gia ven biển mới được vào. Các tàu thương mại vào cảng biển quốc tế trên cơ
sở nguyên tắc tự do thông thương và có đi có lại, thường phải đến một địa điểm quy định
trước làm các thủ tục an ninh, hải quan, vệ sinh y tế của nước ven biển và sau khi được
phép sẽ vào cảng biển theo sự hướng dẫn của hoa tiêu hàng hải nước này.
Trên tàu thuyền cũng tồn tại chế độ lãnh thổ nổi. Các tàu thuyền nước ngoài đặt dưới

tắc tự do biển cả chỉ có một phần ảnh hưởng, thể hiện ở việc các quốc gia khác trên thềm
lục địa có các quyền về tự do hàng hải; tự do bay; tự do đặt dây cáp, ống dẫn ngầm song
phải có sự thông báo trước với quốc gia ven biển.
2.2. Đặc quyền kinh tế
Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải,
đặt dưới chế độ pháp lý riêng quy định trong phần này, theo đó quyền và quyền tài phán
của quốc gia ven biển và các quyền tự do của các quốc gia khác đều do các quy định
thích hợp của Công ước điều hành (Điều 55 Công ước).
Dưới sự ảnh hưởng của nguyên tắc tự do biển cả thì trong vùng đặc quyền kinh tế của
một quốc gia ven biển, tất cả các quốc gia khác, dù có biển hay không có biển đều được
hưởng các quyền :
- Tự do hàng hải,
- Tự do hàng không,
- Tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm.
8


Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục

Quốc gia ven biển không được phép viện dẫn bất kỳ lý do gì để cản trở việc thực hiện
những quyền này, đồng thời có nghĩa vụ tôn trọng và đảm bảo cho tàu thuyền nước ngoài
thực hiện những quyền tự do trên.
Ngoài ra, trong vùng đặc quyền kinh tế cũng tồn tại quyền khai thác tà nguyên sinh vật
của các quốc gia khác, nhưng quyền này chỉ mang tính hạn chế vì nó phụ thuộc vào việc
nước ven biển có công bố tồn tại một dư lượng tài nguyên sinh vật hay không, và phụ
thuộc vào việc giữa nước ven biển với nước hữu quan có sự thỏa thuận về chia sẻ nguồn
tài nguyên hay không.
Thẩm quyền tài phán của quốc gia đối với tàu thuyền mang quốc tịch nước mình khi hoạt
động trong vùng đặc quyền kinh tế của nước ven biển tuân theo nguyên tắc “ Luật nước
treo quốc kỳ”, loại trừ quyền tài phán của quốc gia ven biển.

Trước hết, đó là việc cho phép xác định quyền tự do đi lại của tất cả các loại tàu thuyền
của quốc gia trên khu vực biển cả ở bất kỳ khu vực nào mà họ muốn. Các tàu thuyền khi
hoạt động trên biển cả có địa vị pháp lý ngang bằng nhau và chỉ chịu thẩm quyền tài phán
của quốc gia mà tàu mang cờ. Như vậy, khi hoạt động trên biển cả, tàu thuyền chỉ tuân
theo “ luật của nước mà tàu treo cờ”, theo đó, các quyền kiểm soát tàu thuộc về tàu chiến
và tàu cảnh sát của quốc gia mà tàu thuyền mang cờ. Trong trường hợp xảy ra tai nạn
đâm hay bất kỳ sự cố hàng hải nào trên biển cả, mà trách nhiệm hành chính hay hình sự
rơi vào bất kỳ thành viên nào thuộc thủy thủ đoàn, thì chỉ có thể yêu cầu truy cứu trách
nhiệm pháp lý các đương sự trước cơ quan có thẩm quyền của quốc gia mà tàu mang cờ
hoặc cơ quan của quốc gia mà đương sự có hành vi vi phạm là công dân.
Tương xứng với thẩm quyền nên trên thì tất cả các quốc gia đều phải có trách nhiệm thực
hiện chế độ bảo hiểm đối với tàu thuyền của nước mình khi hoạt động trên biển cả, đồng
thời phải gánh chịu mọi trách nhiệm do tàu thuyền của nước mình gây ra cho tàu thuyền
của nước khác.
Riêng đối với tàu quân sự và tàu Nhà nước dùng cho hoạt động phi thương mại khi hoạt
động trên biển cả được hưởng quyền bất khả xâm phạm và quyền miễn trừ tài phán của
bất kỳ quốc gia nào khác, ngoài quốc gia mà tàu mang quốc kỳ.
Đồng thời, trong vùng biển cả, bất kỳ quốc gia nào cũng phải có nghĩa vụ : ngăn ngừa và
trừng trị tội cướp biển; ngăn ngừa và trừng trị tội buôn bán và vận chuyển nô lệ; đấu
10


Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục

tranh chống các hành vi phát sóng bất hợp pháp; ngăn ngừa và trừng trị tội buôn bán ma
túy và các chất kích thích; và có quyền truy đuổi. Đây chính là các ngoại lệ của nội dung
tự do hàng hải. Ngoại lệ về quyền trấn áp phổ cập đối với tội cướp biển và ngoại lệ về
quyền truy đuổi phát sinh từ hiệu lực của các quy phạm được công nhận chung của luật
quốc tế. Đây là loại quy phạm có hiệu lực đối với tất cả các quốc gia. Ngược lại, các
ngoại lệ còn lại được quy định trong các điều ước quốc tế, chỉ có hiệu lực với các quốc

Theo quy định của nguyên tắc luật biển 1982, các quốc gia có biển cũng như không có
biển đều có quyền tự do nghiên cứu khoa học, tự do xây dựng các đảo nhân tạo và các
thiết bị khác được luật quốc tế cho phép. Tuy nhiên, do việc vùng đặc quyền kinh tế được
thành lập nên tồn tại chế độ cho phép quốc gia ven biển có quyền chủ quyền trong việc
xây dựng thiết bị, đảo nhân tạo và nghiên cứu khoa học nên đã hạn chế phần lớn phạm vi
không gian của hai quyền tự do bổ sung này.
3.2. Vùng
Vùng được hiểu là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm ngoài giới hạn thẩm quyền tài
phán quốc gia. Vùng và tài nguyên của nó là di sản chung của nhân loại.
Nguyên tắc tự do biển cả một mặt đặt cơ sở để thiết lập trên Vùng quyền sở hữu quốc tế
và loại bỏ sự chiếm hữu bất hợp pháp của một quốc gia đối với biển cả, mặt khác, xác
định cơ chế kiểm soát quốc tế đối với việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên
nhiên trên biển cả và vùng, nhằm hạn chế tình trạng sử dụng bừa bãi nguồn tài nguyên,
ảnh hưởng tới môi trường biển.
Vùng không thuộc sự chiếm hữu của bất kỳ quốc gia nào; tất cả các quốc gia được phép
sử dụng Vùng vì mục đích hoà bình; tất cả các quốc gia được quyền sử dụng, quản lý,
khai thác một cách công bằng trên vùng. Quản lý vùng có Cơ quan quyền lực đáy đại
dương có trụ sở tại Jamaica, tổ chức điều hành của cơ quan gồm Hội nghị các nước thành
viên và Hội đồng gồm 36 thành viên, trong đó 18 thành viên được phân bổ theo tiêu
chuẩn địa lý (như hội đồng bảo an) và 18 thành viên được phân chia gồm 4 nước xuất
khẩu nhiều nhất về quặng được khai thác; 4 nước sản xuất nhiều nhất; 4 nước nhập khẩu
nhiều nhất; 6 nước còn lại đại diện cho các quyền lợi khác (Điều 161 Công ước). Dưới cơ
quan quyền lực đáy đại dương có các xí nghiệp.

4. Đối với các vùng biển đặc thù.
4.1. Vùng nước quần đảo.
Vùng nước quần đảo là khái niệm gắn liền với quốc gia quần đảo. Quốc gia quẩn đảo là
12



Eo biển theo nghĩa thông thường là đường nối các vùng biển rộng lớn với nhau và có tính
13


Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục

chất tự nhiên, không do con người tạo ra và có đặc điểm chung là tương đối hẹp. Eo biển
dùng cho hàng hải quốc tế được hiểu là eo biển nằm giữa một bộ phận của biển cả hoặc
một vùng đặc quyền kinh tế và một bộ phận khác của biển cả hoặc một vùng đặc quyền
kinh tế ( điều 37 – Công ước).
Nguyên tắc tự do biển cả có tác động và ảnh hưởng đến quy chế pháp lý của các eo biển,
đặc biệt là các eo biển nối liền biển cả hoặc vùng đặc quyền kinh tế với nhau và được sử
dụng cho hàng hải quốc tế, ví dụ như eo biển Gibralta, các eo biển Đan Mạch, eo biển
Thổ Nhĩ Kỳ,..
Tại các eo biển này áp dụng nguyên tắc quyền quá cảnh. Tàu thuyền và phương tiện bay
của các quốc gia được hưởng quyền tự do hàng hải và tự do hàng không với điều kiện đi
qua phải liên tục, nhanh chóng qua eo biển. Yêu cầu quá cảnh liên tục và nhanh chóng
không ngăn cản việc đi qua eo biển để đến lãnh thổ của một quốc gia ven biển hoặc để
rời khỏi lãnh thổ đó, theo các điều kiện cho phép của quốc gia này.
Quyền quá cảnh này được áp dụng cho cả tàu thuyền và phương tiện bay.
Các phương tiện bay được hưởng quyền tự do bay cao hơn so với quyền tự do hàng hải
của tàu thuyền, cụ thể các phương tiện bay thực hiện quyền tự do bay không phải theo
các hành lang bay quy định như trong trường hợp của tàu thuyền phải tôn trọng các tuyến
đường hàng hải và hệ thống phân chia luồng giao thông do các quốc gia ven eo biển xác
lập phù hợp với các quy định quốc tế đã đươc công nhận chung.
4.3. Kênh đào quốc tế.
Kênh đào quốc tế được hiểu là con đừơng hàng hải do con người tạo ra nối liền các vùng
biển được dùng cho hàng hải quốc tế. Các kênh đào quốc tế được dùng cho tàu thuyền
của tất cả các quốc gia qua lại, nếu điều ước quốc tế hay luật quốc gia của nước hữu quan
quy định như vậy.

15




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status