Phân tích bản chất và quá trình tiến hóa khái niệm quyền sở hữu” - Pdf 35

MỞ ĐẦU
Cùng với sự ra đời của Nhà nước La Mã cổ đại, hệ thống pháp luật La Mã cũng
được hình thành và phát triển. Đây là hệ thống pháp luật hoàn chỉnh nhất của Nhà
nước chiếm hữu nô lệ. Góp phần làm cho bộ luật La Mã hoàn chỉnh, phát triển như
vậy phải kể tới phần luật dân sự. Trong bộ luật, phần luật dân sự có những bước
tiến đáng kể so với tổng thể chung. Phát triển nhất là chế định về sở hữu và chế
định hợp đồng. Chế định quyền sở hữu là chế định duy nhất mà các luật gia La Mã
chưa đưa ra được khái niệm chính xác về quyền sở hữu cũng như nội dung quyền
sở hữu, nhưng họ đã chỉ ra được những quyền năng cơ bản của chủ sở hữu tài
sản.Như vậy, em xin chọn đề tài: “Phân tích bản chất và quá trình tiến hóa khái
niệm quyền sở hữu”.
NỘI DUNG
1. Bản chất của khái niệm quyền sở hữu.
Luật La Mã ra đời rất sớm vào khoảng thế kỉ VI – IV TCN khi Nhà nước La Mã
hình thành. Tuy nhiên, thời kì cộng hòa trở đi là giai đoạn phát triển hưng thịnh
nhất của luật La Mã. Vào thời kì này, lãnh thổ đế quóc La Mã được mở rộng nhất
và nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh. Luật La Mã lúc này có những phát triển
vượt bậc như: đưa ra nhiều khái niệm chuẩn xác, có tính giá trị pháp lí cao, kĩ thuật
lập pháp chuẩn xác, từ ngữ rõ ràng, trong sáng. Thêm đó, bộ luật điều chỉnh hầu
hết các quan hệ xã hội quan trọng, phổ biến, đặc biệt là quan hệ trọng lĩnh vực dân
sự về quyền sở hữu và hợp đồng.
Khái niệm quyền sở hữu là một khái niệm cốt lõi, cơ bản nhất của luật dân sự.
Nếu ta hình dung luật dân sự như một ngôi nhà thì chế định tài sản và quyền sở


hữu được coi là những viên gạch xây nên ngôi nhà đó. Trong các tài liệu pháp lý
hiện nay, khái niệm quyền sở hữu được đề cập đến theo ba góc độ khác nhau.
Thứ nhất, quyền sở hữu được tiếp cận dưới góc độ là một quan hệ pháp luật –
quan hệ pháp luật dân sự về sở hữu. Nếu xuất phất từ góc độ này thì quyền sở hữu
được phân tích với đầy đủ các bộ phận cấu thành của bất cứ một quan hệ pháp luật
nói chung như chủ thể, khách thể, đối tượng, nội dung, căn cứ xác lập, căn cứ

hình thái của thượng tầng kiến trúc, pháp luật về sở hữu ghi nhận và củng cố địa vị,
ghi nhận lợi ích của giai cấp thống trị đối với việc đoạt giữ các của cải vật chất
trước các giai cấp khác trong quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông. Do đó, trong
bất kỳ nhà nước nào, luật pháp về sở hữu cũng được sử dụng với ý nghĩa là một
công cụ có hiệu quả của giai cấp nắm chính quyền để bảo vệ cơ sở kinh tế của giai
cấp đó.
Trong khoa học pháp lý, quyền sở hữu được hiểu là một phạm trù pháp lý phản
ánh các quan hệ sở hữu trong một chế độ sở hữu nhất định, bao gồm tổng hợp các
quy phạm pháp luật về sở hữu nhằm điều chỉnh các quan hệ sở hữu trong đời sống
xã hội. Các quy phạm pháp luật về sở hữu là cơ sở để xác nhận, quy định và bảo vệ
các quyền lợi của chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản.
Quyền sở hữu với tư cách là một chế định của pháp luật dân sự, một bộ phận
thuộc thượng tầng kiến trúc, quyền sở hữu chỉ xuất hiện khi xã hội đã có sự phân
chia giai cấp và có Nhà nước. Pháp luật về sở hữu chính là sản phẩm của xã hội có
giai cấp nhằm bảo vệ lợi ích trước hết là của giai cấp thống trị, giai cấp nắm quyền
lãnh đạo trong xã hội. Pháp luật về sở hữu dù được ghi nhận và quy định dưới bất
kỳ góc độ nào cũng luôn mang tính giai cấp và phản ánh những phương thức chiếm


giữ của cải vật chất trong xã hội. “Vì vậy, pháp luật về sở hữu bao giờ cũng nhằm
mục đích:
- Xác nhận và bảo vệ bằng pháp luật việc chiếm giữ những tư liệu sản xuất chủ
yếu của giai cấp thống trị.
- Bảo vệ những quan hệ sở hữu phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị.
Tạo Điều kiện pháp lý cần thiết bảo đảm cho giai cấp thống trị khai thác được
nhiều nhất những tư liệu sản xuất đang chiếm hữu để phục vụ cho sự thống trị;
đồng thời xác định mức độ xử sự và các ranh giới hạn chế cho các chủ sở hữu
trong phạm vi các quyền năng: chiếm hữu, sử dụng, định đoạt.
Với cách hiểu này, khái niệm quyền sở hữu có thể hiểu theo hai nghĩa sau:
- Theo nghĩa khách quan (còn được gọi là nghĩa rộng), quyền sở hữu là luật pháp

nước.
Pháp luật về sở hữu luôn luôn mang tính chất giai cấp rõ rệt. Trong tuyên ngôn
của Đảng cộng sản, C. Mác đã chỉ ra rằng: "Nhưng thử hỏi lao động làm thuê, lao
động của người ụậ mn ọó tạo ra sở hữu cho người vô sản không? Tuyệt đối không?
Nó tạo ra tư bản, tức là cái sở hữu bóc lột lao động”.
2. Sự tiến hóa hay sự phát triển của khái niệm quyền sở hữu.
Có thể khái quát hoá quá trình phát triển của khái niệm quyền sở hữu thông qua
bốn thế hệ cơ bản, thể hiện bốn cách hiểu khác nhau về quyền sở hữu.
Thế hệ thứ nhất – Tài sản thể hiện tư cách nhân thân của chủ sở hữu. Đây là
giai đoạn sơ khai trong lịch sử phát triển chế định sở hữu. Khái niệm quyền sở hữu
ban đầu được hiểu khác xa rất nhiều so với cách hiểu của chúng ta ngày nay. Trong


giai đoạn sơ khai này mới chỉ có khái niệm chủ sở hữu chứ chưa có khái niệm
quyền sở hữu. Tài sản khi đó được hiểu như là sự tiếp nối tư cách cá nhân của chủ
sở hữu. Ai xâm phạm đến tài sản của một người (lấy mất con thú săn được, hoa trái
thu lượm được) là xúc phạm tới cá nhân người đó. Thời La mã cổ đại có quan niệm
rằng: Một người kiện kẻ trộm không phải vì mình có quyền sở hữu, mà vì người ăn
trộm đã xúc phạm đến danh dự của mình thông qua hành vi ăn trộm đó. Kẻ trộm
khi đó bị coi là kẻ xúc phạm (bị kiện theo phương thức kiện hành vi trộm cắp –
actio furti), chứ chưa được coi là người chiếm hữu bất hợp pháp tài sản của người
khác (chưa áp dụng các phương thức kiện bảo vệ quyền sở hữu như kiện đòi lại tài
sản thuộc sở hữu của mình – actio rei vindicatio, hay phương thức kiện đòi lại tài
sản bị trộm – condictio furtiva). Quan niệm đó dẫn đến một loạt các hệ quả pháp lý
quan trọng sau đây:
– Theo quan niệm đó mà pháp luật La mã giai đoạn cổ đại đã quy định cho phép
chủ sở hữu không những được lấy lại tài sản bị trộm mà còn được trả thù lại sự xúc
phạm đó đối với kẻ trộm: chặt tay, giam giữ, giết, bán làm nô lệ, phạt gấp nhiều lần
tài sản trộm, …(1). Cần lưu ý rằng trộm cắp thời đó được coi là vi phạm tư pháp và
được điều chỉnh bởi hệ thống luật tư, chứ không phải bởi luật công như ngày nay.

vào ý chí của chính chủ sở hữu đó. Các đặc điểm cơ bản của quyền sở hữu được
khái quát hoá là: 1) Tính chất tuyệt đối, 2) Tính độc nhất, 3) Mọi xử sự, 4) Theo ý
chí của chủ sở hữu, 5) Vô thời hạn, 6) Việc thực hiện quyền sở hữu không dẫn tới
chấm dứt quyền sở hữu đó. Cũng từ khi có cách hiểu này mà chủ sở hữu mới được
bảo vệ bằng những phương thực kiện vật quyền. Ví dụ như kiện đòi lại tài sản
thuộc sở hữu của mình (rei vindicatio).
Cũng trong giai đoạn này mới hình thành nên nguyên tắc: “Một người không
thểchuyển giao cho người khác nhiều hơn những gì mình có” (Tiếng La-tinh:
“Nemo ad alium plus juris transferre potest, quam ipse habet”). Và hệ quả trực tiếp


của nguyên tắc này là: nếu như tài sản đã được chuyển giao từ người chiếm hữu
bất hợp pháp sang cho người thứ ba thông qua giao dịch dân sự thì chủ sở hữu vẫn
được đòi lại tài sản từ người thứ ba đó. Ví dụ như một người mua phải tài sản do
trộm cắp có được thì phải trả lại cho chủ sở hữu khi chủ sở hữu đòi lại. Bởi lẽ bản
thân kẻ trộm không có quyền sở hữu đối với vật trộm được, do đó không thể
chuyển giao quyền sở hữu sang cho người mua (không thể chuyển giao cái mà
chình mình không có), khi đó người mua phải tài sản trộm cắp sẽ không thể trở
thành chủ sở hữu tài sản mua được.
Tại đây phát sinh một vấn đề: Khi đó một người khi mua tài sản nào đó thường
sẽ rất băn khoăn rằng: Không biết người bán cho mình có đích thực là chủ sở hữu
tài sản không. Nếu người bán mà không phải chủ sở hữu tài sản thì đến một lúc
nào đó sau khi mua chủ sở hữu sẽ đến đòi lại, bên mua khi đó bị buộc phải trả lại
cho chủ sở hữu tài sản mình đã mua. Nhằm khắc phục tận gốc vấn đề đó mà pháp
luật các nước mới bắt đầu hình thành cơ chế đăng ký tài sản. Phương thức đăng ký
tài sản đó ban đầu được áp dụng đối với bất động sản, sau đó áp dụng dần cho các
loại tài sản khác là động sản.
Cách hiểu này đã cho phép chủ sở hữu có mọi quyền năng đối với tài sản, do đó
ở thế hệ thứ hai này ta không thấy có sự liệt kê các quyền năng cơ bản của chủ sở
hữu.

nhiều các quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề liệt kê các quyền năng của chủ
sở hữu vật. Luật gia Italia Pugliatti cho rằng quyền sở hữu bao gồm hai quyền năng
cơ bản là quyền sử dụng và quyền định đoạt. Luật gia người Đức Haas T. bên cạnh


ba quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt lại muốn bổ sung thêm quyền năng
thứ tư là quyền quản lý
Một số luật gia muốn đưa ra hàng loạt các quyền năng cụ thể mà chủ sở hữu có thể
có được để ghép chúng vào với nhau theo từng ngữ cảnh cụ thể. Ví dụ như: luật gia
Honore A. nêu ra danh mục mười một các quyền năng và yếu tố khác nhau của
quyền sở hữu:
“1) Quyền chiếm hữu (hiểu theo nghĩa hẹp như nắm giữ cơ học)
2) Quyền sử dụng (trực tiếp tác động để khai thác công dụng hữu ích của vật)
3) Quyền quản lý (Quyết định việc cho ai sử dụng và sử dụng như thế nào)
4) Quyền thu lợi tức (thu nhận các lợi ích vật chất từ hai quyền trên)
5) Quyền tiêu huỷ, tiêu dùng, thay đổi vật theo ý muốn của mình.
6) Quyền bảo quản giữ gìn, không cho người khác tước đoạt.
7) Quyền chuyển giao vật;
8 ) Tính chất vô thời hạn;
9) Không được sử dụng vật với mục đích gây hại cho người khác;
10) Có thể mang đi bảo đảm trả nợ, bị xử lý cho việc trả nợ
11) Quyền khôi phục lại các quyền năng nêu trên khi chúng bị xâm phạm”
Một số luật gia khác (như luật gia Mỹ Becker) hưởng ứng theo quan điểm này và
còn bổ sung thêm rằng trong mỗi ngữ cảnh khác nhau thì nội dung quyền sở hữu
có thể khác nhau, chỉ cần trong đó có ít nhất một trong 5 quyền năng đầu tiên là
được. Hệ quả từ đó, quan điểm này cho phép tồn tại nhiều loại quyền sở hữu cùng
tồn tại song song đối với một vật.


Thế hệ thứ tư – Mở rộng hơn khái niệm quyền sở hữu vật (thuộc

được coi là tài sản vô hình, không nắm giữ được. Vậy chủ sở hữu sẽ thực hiện
quyền chiếm hữu như thế nào đối với loại tài sản vô hình đó. Việc chiếm hữu tài
sản vô hình là không thể thực hiện được. Chủ sở hữu chỉ có thể chiếm hữu được
một số giấy tờ minh chứng cho quyền tài sản của mình mà thôi.
Vấn đề tiếp theo cũng rất quan trọng được đặt ra khi nghiên cứu quyền sở hữu tài
sản thông qua ba quyền năng là: Trong nhiều trường hợp một người không phải là
chủ sở hữu nhưng lại có cả ba quyền năng đó. Điều 180 BLDS quy định rằng:
“Người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài
sản không thuộc quyền sở hữu của mình theo thoả thuận với chủ sở hữu tài sản đó
hoặc theo quy định của pháp luật”. Ví dụ như: Pháp luật quy định hầu như cho
phép các doanh nghiệp nhà nước có cả ba quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định
đoạt tài sản thuộc sở hữu toàn dân được giao cho doanh nghiệp đó quản lý. Ngược
lại, có những trường hợp một người là chủ sở hữu tài sản nhưng lại không được
thực hiện cả ba quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình. Ví dụ
như trường hợp tài sản đang trong thời gian cầm cố được giao cho bên nhận cầm
cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Các vấn đề bất cập nêu trên nói lên thực trạng rằng cơ chế ba quyền năng (chiếm
hữu, sử dụng, định đoạt) không thể thể hiện hết được bản chất pháp lý của quyền
sở hữu tài sản. Câu hỏi được đặt ra cho các nhà nghiên cứu luật là: Ngoài ba quyền
năng đó ra thì còn phải bổ sung thêm nội dung gì nữa thì mới thể hiện hết được bản
chất của quyền sở hữu?
Điều dễ nhận thấy rằng nếu bổ sung thêm một vài quyền năng nữa cho khái niệm
quyền sở hữu tài sản thì cũng không thể giải quyết được triệt để các vấn đề nêu


trên. Khái niệm tài sản thế hệ thứ năm (thuộc về tương lai) đòi hỏi không chỉ bổ
sung thêm một vài quyền năng nữa, mà cần thiết phải có một bước thay đổi cơ bản
về cách hiểu khái niệm quyền sở hữu. Vậy đâu là phương hướng mà pháp luật
trong tương lai sẽ lựa chọn? Khái niệm quyền sở hữu thế hệ thứ năm sẽ như thế
nào? Câu hỏi đó chắc chắn sẽ trở thành mối quan tâm của các nhà nghiên cứu luật

5. />6. />7. />



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status