Tiểu luận: PHÂN TÍCH BẢN CHẤT VÀ CÁC HÌNH THỨC TIỀN LƯƠNG CƠ BẢN TRONG CNTB - Pdf 10


1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG……………

Tiểu luận

PHÂN TÍCH BẢN CHẤT VÀ CÁC HÌNH THỨC
TIỀN LƯƠNG CƠ BẢN TRONG CNTB 2

chất của tiền lương dưới chủ nghĩa tư bản là biểu hiện ra bề ngoài như là giá
trị hay giá cả của lao động. Khi sức lao động trở thành hàng hóa thì giá trị
của nó dược đo bằng lao động cụ thể hiện và nó như là một sản phẩm xã hội
cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động. Chúng ta cần phải phân
biệt tiền công danh nghĩa và tiền công đích thực.
Tiền lương danh nghĩa là tổng số tiền mà người công nhân nhận được
do bán sức lao động của mình cho nhà tư bản. Nó là giá cả sức lao động. Nó
tăng giảm theo sự biến động trong quan hệ cung – cầu về hàng hoá sức lao
động trên thị trường. Đối với người công nhân, điều quan trọng không chỉ ở
tổng số tiền nhận được dưới hình thức tiền lương mà còn ở chỗ có thể mua
được gì bằng tiền lương đó, điều đó phụ thuộc vào giá cả vật phẩm tiêu dùng
và dịch vụ.
Tiền lương thực tế là số lượng hàng hoá và dịch vụ mà công nhân có
thể thu được bằng tiền lương danh nghĩa. Rõ ràng, nếu điều kiện khác không
thay đổi, tiền lương thực tế phụ thuộc theo tỷ lệ thuận vào đại lượng tiền
lương danh nghĩa và phụ thuộc theo tỷ lệ nghịch với mức giá cả vật phẩm
tiêu dùng và dịch vụ.
Như ta đã biết trong các xã hội có giai cấp bóc lột, phần thời gian lao
động thặng dư là thuộc về giai cấp bóc lột. Nhưng nhìn bề ngoài ,thì ở mỗi
xã hội lại một khác. Dưới chế độ nô lệ, hầu như tất cả lao động của người
nô lệ, kể cả lao động cần thiết và lao động thặng dư đều không được trả
công. Dưới chế độ phong kiến, lao động cần thiết mà người nông nô bỏ ra
trên mảnh đất của mình và lao động thặng dư mà người ấy bỏ ra trên ruộng
đất của địa chủ, có ranh giới rõ rệt về thời gian và không gian. Còn dưới chế

4
độ tư bản chủ nghĩa, thì toàn bộ lao động của công nhân tưởng như được trả
công tất cả. Quan hệ hàng hóa trong xã hội tư bản đã che đậy quan hệ bóc
lột tư bản chủ nghĩa.
Sở dĩ biểu hiện bề ngoài của tiền lương đã che dấu bản chất của nó là

tư bản bắt làm 10 giờ và trả 90 đồng, thì như vậy là giá cả một giờ lao động
đã giảm từ 10 đồng xuống 9 đồng.
Giá cả của một giờ lao động là thước đo chính xác mức tiền lương
tính theo thời gian. Tiền lương ngày và lương tuần chưa nói rõ được mức
tiền công đó thấp hay cao, vì còn tuỳ thuộc theo ngày lao động dài hay ngắn.
Do đó, muốn đánh giá đúng mức tiền lương không chỉ căn cứ vào lượng
tiền, mà còn căn cứ vào độ dài của ngày lao động và cường độ lao động.
Thực hiện chế độ tiền lương theo thời gian, nhà tư bản có thể không
thay đổi lương ngày, lương tuần, mà vẫn hạ thấp được giá cả lao dộng do
kéo dài ngày lao động hoặc tăng cường độ lao động. Cũng ngày lao động 8
giờ, nhưng nếu nhà tư bản cho tăng tốc độ hoạt động của máy móc lên gấp
rưỡi, thì 8 giờ lao động của công nhân thực tế bằng 12 giờ, nhưng tiền lương
thì vẫn là lương ngày như cũ hoặc có tăng, nhưng tăng chậm hơn mức tăng
của cường độ lao động.
Hình thức trả lương theo thời gian có lợi cho nhà tư bản ở chỗ: khi
hàng hóa tiêu thụ dễ dàng, thì nhà tư bản kéo dài thêm ngày lao động, dù
cho lương ngày của công nhân có được tăng lên, nhưng hàng hóa sản xuất
cũng được nhiều hơn do đó giá trị thặng dư cũng sẽ nhiều hơn. Ngược lại,

6
nếu tình hình thị trường không tốt, thì nhà tư bản rút ngắn ngày lao động, trả
công theo giờ. Như vậy trong các trường hợp này, tiền lương giảm xuống rất
nhiều. Như vậy, công nhân không những bị thiệt thòi khi ngày lao động bị
kéo dài quá độ, mà còn bị thiệt thòi cả những khi phải làm việc ít giờ hơn.
Ở Mỹ trong những năm gần đây, 5-6% tổng số công nhân làm việc
mỗi tuần từ 1 đến 14 giờ, 3-4% từ 22-29 giờ, 3-4% từ 30-34 giờ, 1/5 làm
việc không đủ ngày.
b. Tiền lương tính theo sản phẩm
Tiền lương tính theo sản phẩm là hình thức tiền lương mà số lượng
của nó phụ thuộc vào số lượng sản phẩm mà công nhân đã sản xuất ra hoặc

Vì vậy, chế độ tiền lương dưới chủ nghĩa tư bản thường dẫn đến tình
trạng lao động khẩn trương quá mức, làm kiệt sức người lao động.
Về mặt lịch sử, tiền lương tình theo thời gian được áp dụng rộng rãi
trong giai đoạn đầu phát triển của chủ nghĩa tư bản, còn ở giai đoạn sau thì
tiền lương tính theo sản phẩm được áp dụng rộng rãi hơn.
Hiện nay cùng với sự phát triển của cơ khí hoá và tự động hoá, tiền
lương theo thời gian lại thành phổ biến. Ở Mỹ, tỷ lệ công nhân được trả
lương theo sản phẩm giảm xuống: trong ngành chế tạo máy móc từ 32%
năm 1926 xuống 25% năm 1952, trong ngành hoá chất và dược phẩm từ
35% năm 1926 xuống 3-16% năm 1957, trong ngành nướng bánh mỳ từ
37% năm 1926 xuống 0,5% năm 1958.Trong những ngành còn nhiều lao
động thủ công, thì tỷ lệ công nhân được trả lương theo sản phẩm cao hơn
nhiều: trong ngành làm đường và may mặc có tới gần 2/3 công nhân được
trả lương theo sản phẩm.

8

II. Ý NGHĨA THỰC TIỄN
Từ 1993 đến nay, Nhà nước đã đẩy mạnh cải cách chính sách tiền
lương, nhờ đó mức lương tối thiểu được pháp luật hóa và nâng cao theo thị
trường. Thu nhập của người lao động trong các loại hình doanh nghiệp được
cải thiện. Tuy nhiên, vấn đề giá cả hàng hóa sức lao động ở Việt Nam vẫn
còn nhiều hạn chế, bất cập, tác động trực tiếp đến đời sống của người lao
động và ảnh hưởng lan toả đến mọi mặt của đời sống xã hội. Do vậy, chúng
ta hãy cùng nhau nhìn lại thực trạng giá cả hàng hóa sức lao động thời gian
qua để từ đó có giải pháp hữu hiệu cho thời gian tiếp theo, tạo động lực để
thị trường này phát triển vững mạnh.
1.Thực trạng chính sách tiền lương, tiền công thời gian qua
a. Về chính sách tiền lương tối thiểu:
Tiền lương tối thiểu được xác định theo nhu cầu tối thiểu, khả năng

thang, bảng lương riêng cho 4 khu vực là:
 Tiền lương của khu vực sản xuất kinh doanh của Nhà nước căn cứ trên
năng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh để định ra mức tiền
lương, tiền thưởng tương đối hợp lý, đồng thời cho phép các doanh
nghiệp tuỳ theo kết quả sản xuất kinh doanh có thể giải quyết tiền lương
tối thiểu gấp 1,5 lần mức quy định chung.
 Tiền lương của lực lượng vũ trang được tiền tệ hóa.
 Tiền lương của khu vực hành chính, sự nghiệp được thiết kế theo ngạch
công chức phù hợp với chức danh và tiêu chuẩn chuyên môn, mỗi ngạch
lại có nhiều bậc để khuyến khích công chức phấn đấu vươn lên.
10

 Tiền lương của khu vực dân cư và bầu cử đều thống nhất, mỗi chức vụ
chỉ có một mức lương, nếu được tái cử thì có phụ cấp thâm niên tái cử.
Mức lương tối thiểu luôn được điều chỉnh theo sự biến động của giá trên
thị trường, cụ thể: mức tiền lương tối thiểu áp dụng chung từ 01/01/1993 là
120.000 đồng/tháng/người; từ 01/07/1997 là 144.000 đồng/tháng; từ
01/01/2000 là 180.000 đồng/tháng; từ 01/01/2001 là 210.000 đồng/tháng; từ
01/01/2002 là 290.000 đồng/tháng. Theo Nghị định số 118/2005/NĐ-CP
ngày 15/09/2005 của Chính phủ là 350.000 đồng/tháng (từ ngày
01/10/2005) và từ 01/10/2006 theo Nghị định 94/2006/NĐ-CP là 450.000
đồng/tháng. Từ ngày 01/01/2008 đã điều chỉnh từ 450.000 đồng lên 540.000
đồng/tháng theo Nghị định 166/2007/NĐ-CP ngày 16/11/2007 quy định
mức lương tối thiểu chung. Từ ngày 01/05/2010 theo Nghị định
28/2010/NĐ-CP là 730.000 đồng/tháng. Từ ngày 01/05/2011 theo Nghị định
22/2011/NĐ-CP là 830.000 đồng/tháng.
b) Về tiền lương tối thiểu trong doanh nghiệp:
Đối với các loại hình doanh nghiệp, tiền lương tối thiểu hiện nay được
quy định là khác nhau. Chính sách tiền lương đối với các doanh nghiệp được
quy định tại Bộ luật Lao động và các văn bản dưới luật như: Nghị định số

107/2010/NĐ-CP, lương tối thiểu tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài theo vùng như sau: vùng 1: 1,55 triệu đồng/tháng; vùng 2:
1,35 triệu đồng/tháng ; vùng 3: 1,17 triệu đồng/tháng; vùng 4: 1,1 triệu
đồng/tháng.
Như vậy, chính sách tiền lương trong doanh nghiệp đã có sự điều chỉnh
để đáp ứng với những biến động trên thị trường, nhằm đảm bảo cuộc sống
12

tối thiểu cho người lao động dưới tác động của các yếu tố chỉ số giá sinh
hoạt, điều kiện lao động…
2. Những hạn chế, bất cập trong chính sách tiền lương, tiền công thời
gian qua
 Tiền lương chưa phản ánh đúng giá cả sức lao động, chưa thực sự gắn
với mối quan hệ cung cầu lao động trên thị trường, tốc độ tăng tiền lương
nhỏ hơn tốc độ tăng của năng suất lao động. Mức lương tối thiểu còn
thấp chưa theo kịp với yêu cầu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao
động và sự phát triển kinh tế – xã hội.
 Chính sách tiền lương chưa được đảm bảo cho người lao động, đặc biệt
là cán bộ, công chức, viên chức sống được bằng tiền lương ở mức trung
bình khá trong xã hội; chưa khuyến khích và thu hút được người tài,
người làm việc giỏi. Mức lương trung bình của công chức còn thấp so
với mức thu nhập trung bình của lao động xã hội. Do vậy đã gây nên sự
biến động, dịch chuyển lao động lớn và tỉ lệ lao động bỏ việc, nghỉ việc
ngày một tăng.
 Hệ thống tiền lương còn quá nhiều thang, bảng lương và khoảng cách
giữa các bậc lương nhỏ, tiền lương danh nghĩa tăng nhưng tiền lương
thực tế lại giảm sút. Đối với mức lương, bậc lương giữa các loại cán bộ,
công chức một số chức danh trong hệ thống chính trị ( Đảng, Nhà nước,
Mặt trận và các đoàn thể ) đã bộc lộ những bất hợp lý.
 Chế độ tiền lương chủ yếu vẫn dựa trên hệ thống phân phối theo việc,

rút ngắn lộ trình điều chỉnh tiền lương và trợ cấp xã hội đi đôi với kiểm soát
lạm phát để đảm bảo thu nhập thực tế ngày càng tăng cho người hưởng
lương.
14

Hai là, cần có chế độ, chính sách về tiền lương và phụ cấp đối với cán
bộ, công chức cơ sở cho phù hợp sự phát triển kinh tế thị trường. Các khoản
lương, thưởng, phụ cấp của người lao động phải được đảm bảo trở thành
những công cụ hữu hiệu để điều tiết quan hệ lao động, phản ánh đúng giá trị
sức lao động. Đó là những nguồn thu nhập để nuôi sống người lao động và
gia đình họ, từ đó mới tạo động lực khuyến khích họ làm việc có hiệu quả.
Mức lương tối thiểu phải đảm bảo nhu cầu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất
sức lao động và sự vận động của thị trường sức lao động.
Ba là, tăng cường phối hợp cơ chế 3 bên trong ban hành chính sách
tiền lương, hình thành cơ chế thỏa thuận tiền lương. Tăng cường sự tham gia
của đại diện người lao động và người sử dụng lao động vào hoạch định
chính sách, kế hoạch phát triển thị trường sức lao động. Cải thiện các điều
kiện liên quan đến sự phát triển của thị trường sức lao động như các thông lệ
và luật pháp quốc tế, môi trường hợp tác giữa đại diện của người lao động
(tổ chức công đoàn) và đại diện người sử dụng lao động (Phòng Thương mại
và công nghiệp Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam) trong cơ chế 3
bên. Sự tham gia của các đối tác xã hội khác như các hiệp hội nghề nghiệp,
các tổ chức chính trị – xã hội…
Bốn là, cần quy định các nguyên tắc xây dựng thang lương, bảng
lương để người lao động và người sử dụng lao động có cơ sở xác định tiền
lương, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra để đảm bảo quyền
lợi của người lao động.
Năm là, hoàn thiện môi trường pháp lý, gắn cải cách tiền lương với
cải cách kinh tế, tạo sự gắn kết đồng bộ giữa các loại thị trường để thúc đẩy
nhau phát triển lành mạnh. Đẩy mạnh hoạt động tư pháp, củng cố cơ quan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status