6 bài tập cá nhân tố tụng dân sự - Pdf 35

Đề 4: Anh A và chị B kết hôn năm 1996 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng kí kết
hôn và sinh sống tại phường T quận Y thành phố Hà Nội. Sau một thời gian chung sống
anh chị phát sinh mâu thuẫn. Tháng 4/2005, anh A khởi kiện ra Tòa án yêu cầu xin ly hôn
và giải quyết tranh chấp về tài sản chung giữa vợ chồng. Về tài sản chung, vợ chồng anh
A và chị B có một mảnh đất diện tích 100m2 tại quận N thành phố Hà Nội và vợ chồng
có vay của chị D 150 triệu.
1.

Xác định tư cách của các đương sự trong vụ án trên.

2.

Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc trên và giải thích rõ tại sao?
Bài làm

1.

Xác định tư cách của các đương sự trong vụ án trên

Theo khoản 1 Điều 56 thì “ Đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức
bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.”. |Trong trường
hợp này có 3 chủ thể là cá nhân liên quan bao gồm anh A, chị B và chị D. Để xác định tư
cách của các đương sự thì cần xác định họ là nguyên đơn, bị đơn hay người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan.
Theo khoản 2 Điều 56 BLTTDS thì: “Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi
kiện,... yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp
của người đó bị xâm phạm.” Trong tình huống trên, Anh A là người khởi kiện ra Tòa án
yêu cầu xin ly hôn và giải quyết tranh chấp về tài sản chung giữa vợ chồng nên trong vụ
án dân sự này thì anh A chính là nguyên đơn trong vụ án dân sự căn cứ theo khoản 2
Điều 56 BLTTDS.
Bị đơn trong vụ án dân sự được quy định tại khoản 3 Điều 56 BLTTDS thì:” Bị đơn trong

chấp về tài sản chung vợ chồng. Vì thế, trong tình huông này, để giải quyết cho những
tranh chấp của anh A sẽ căn cứ vào khoản 1 Điều 27 BLTTDS quy định về Những tranh
chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án: “1. Ly hôn, tranh
chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”.
Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 33 BLTTDS thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện,
quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền giải quyết thủ tục sơ thẩm những tranh
chấp sau đây “a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 25 và
Điều 27 của Bộ luật này”. Vậy vụ án của anh A sẽ thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân
dân quận, huyện, thị xã. Thêm vào đó, theo quy định về thẩm quyền Tòa án theo lãnh
thổ quy định tại Điều 35 BLTTDS, vụ án trên sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án
nhân dân theo lãnh thổ, trong trường hợp trên vẫn sẽ thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân
dân quận H vì anh A và chị B “sinh sống tại phường T quận Y thành phố Hà Nội ” và
mặc dù mảnh đất của anh chị nằm tại quận N, nhưng trong vụ án Ly hôn nó được coi là


tài sản của hai vợ chồng vì vậy yếu tố gắn với lãnh thổ của mảnh đất sẽ không đươc đưa
ra trong nọi bộ bản án ly hôn, một phần để tránh những yếu tố phát sinh làm chậm quá
trình tiến hành ly hôn.
Bên cạnh đó, theo khoản 2 Điều 34 quy định về thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương thì “Toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết
theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân
dân cấp huyện quy định tại Điều 33 của Bộ luật này mà Toà án nhân dân cấp tỉnh lấy lên
để giải quyết” thì khi ấy, vụ việc của anh A sẽ lại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân thành phố Hà Nội nếu như Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định lấy vụ
việc của anh A lên để giải quyết.
Trong trường hợp trên, anh A và chị B có tài sản chung là một mảnh đất diện tích 100m2
tại quận N thành phố Hà Nội và vợ chồng có vay của chị D 150 triệu thì việc giải quyết
tranh chấp giữa hai anh chị vẫn sẽ thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Y
hoặc Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Khẳng định như vậy vì như đã nói ở trên,
mặc dù có quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp về bất động sản phải là tòa án



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status