ĐÁnh giá hàm lượng kim loại nặng trong trầm tích sông NHuệ năm 2015 - Pdf 35

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

ĐÁNH GIÁ HÀM LƯỢNG KIM LOẠI NẶNG
(CHÌ, ĐỒNG, KẼM) TRONG TRẦM TÍCH SÔNG NHUỆ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Họ và tên sinh viên

: HOÀNG THỊ PHƯỢNG

Lớp

: ĐH2KM2

Giảng viên hướng dẫn :TS. LÊ THỊ HẢI LÊ
Cơ quan công tác

:Trường DH Tài Nguyên Môi Trường HN

Giảng viên hướng dẫn : ThS. NGUYỄN THANH THẢO
Cơ quan công tác

: Phòng Độc chất môi trường - Viện Công nghệ môi
trường.

Hà Nôi, tháng 06 năm 2016



trường, viện Hàn lâm khoa học công nghệ Việt Nam đã luôn tạo mọi điều kiện thuận
lợi về thời gian và hỗ trợ về chuyên môn cho em trong suốt quá trình nghiên cứu và
thực hiện đồ án này.
Đồng thời, em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Môi trường
nói riêng và các thầy cô trường Đại học Tài nguyên & Môi trường Hà Nội nói chung,
đã dùng tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt những kiến thức quý báu cho em
trong suốt thời gian học tập rèn luyện tại trường.
Đồ án của em được hoàn thành nhờ một phần động viên, giúp đỡ không nhỏ
của gia đình và bạn bè, em xin gửi lời cảm ơn tới tất cả mọi người.
Do thời gian và kinh nghiệm chuyên môn của em còn hạn chế nên khó tránh
khỏi thiếu sót, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý Thầy
cô để đồ án của em được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Sinh viên
Hoàng Thị Phượng

MỞ ĐẦU
Môi trường sống của con người chúng ta trong khoảng 30 năm trở lại đây
đang ngày càng biến đổi mạnh mẽ. Khi thế giới đang đang trên con đường phát triển ở
mức toàn cầu hóa thì vấn đề ô nhiễm môi trường được đặt ra hết sức cấp thiết, sự gia
tăng dân số và việc phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp, dịch vụ... đã làm
3


cho tốc độ ô nhiễm ngày càng nhanh chóng, mức độ ô nhiễm ngày càng trầm trọng,
ảnh hưởng lớn đến môi trường sống của con người,hệ sinh thái toàn cầu, và đặc biệt là
vấn đề ô nhiễm ở các con sông càng trở nên nghiêm trọng. Bởi vậy, các con sông chảy
qua khu vực Hà Nội đã và đang được đặc biệt quan tâm, nghiên cứu để đưa ra những
giải pháp hữu hiệu nhằm ngăn chặn và xử lý kịp thời sự gia tăng ô nhiễm này. Tiêu

sản xuất và chế biến kim loại. Những kim loại này thường theo dòng chảy xuống nước
và lắng đọng xuống bùn đáy sông tạo thành trầm tích.
Xuất phát từ thực tế đó mà đã có nhiều những nghiên cứu đánh giá hàm lượng
kim loại nặng trong nước sông Nhuệ. Tuy nhiên việc nghiên cứu đánh giá hàm lượng
kim loại nặng trong trầm tích sông Nhuệ vẫn còn rất hạn chế. Nên em đã mạnh dạn
chọn đề tài “Đánh giá hàm lượng kim loại nặng (Chì, Đồng, Kẽm) trong trầm tích
sông Nhuệ, thành phố Hà Nội” làm cơ sở khoa học cho việc đưa ra các giải pháp
giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ môi trường sông Nhuệ.


Mục tiêu của đề tài
Đánh giá hàm lượng kim loại nặng trong môi trường trầm tích sông Nhuệ ,

đoạn chảy qua thành phố Hà Nội. Từ đó khuyến nghị một số biện pháp giảm thiểu ô
nhiễm kim loại nặng trong trầm tích và bảo vệ môi trường sông Nhuệ.


Tóm tắt các nội dung thực hiện, nghiên cứu
+ Thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội của

sông Nhuệ chảy qua khu vực thành phố Hà Nội.
+ Khảo sát, lựa chọn vị trí quan trắc tại 5 điểm của sông Nhuệ là Đông Ngạc,
Cầu Diễn, Phú Đô, Hà Đông, Thanh Liệt.
+ Tiến hành lấy mẫu, phân tích mẫu 02 đợt tại các vị trí đã chọn lựa, rồi đem
về phòng thí nghiệm phân tích.
+ Nghiên cứu và tiến hành phân hủy các mẫu trầm tích để xác định hàm lượng
tổng của Pb, Cu, Zn bằng phương pháp quang phổ khối plasm cảm ứng ICP- MS
(phương pháp EPA200.8).
+ Dựa vào kết quả phân tích, đánh giá hàm lượng kim loại nặng Cu,Pb, Zn
+ Đề xuất một số giải pháp góp phần bảo vệ môi trường sông Nhuệ.

hậu miền Bắc Việt Nam đó là nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mùa đông khá lạnh và ít
mưa, mùa hè nắng nóng nhiều mưa tạo nên bởi tác động qua lại của các yếu tố: bức xạ
mặt trời, địa hình, các khối không khí luân phiên khống chế.
 Chế độ nhiệt
Phân hoá khá rõ rệt theo đai cao trong khu vực. Nhiệt độ trung bình năm ở
vùng thấp đạt từ 25 - 27oC. Mùa đông nhiệt độ trung bình ở vùng cao giảm xuống còn
16 - 19oC, mùa hè trung bình khoảng 22 oC; còn ở vùng thấp mùa đông nhiệt độ trung
bình 18-20oC, mùa hè từ 27-30oC. Trong trường hợp cực đoan, nhiệt độ tối cao có thể
lên tới 40oC, và nhiệt độ tối thấp có thể xuống tới dưới 0oC.
Chế độ nhiệt của nước phụ thuộc vào chế độ nhiệt của không khí đã ảnh
hưởng đến các quá trình hoá lý xảy ra trong nước, nó ảnh hưởng đến đời sống các vi
sinh vật và vi khuẩn sống trong nước.

Chế độ nắng:
Khu vực nghiên cứu nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa, với lượng bức
xạ tổng cộng trung bình năm khoảng 105 - 120 Kcal/cm 2 và có số giờ nắng thuộc loại
trung bình, đạt khoảng 1600 - 1750 giờ/năm, trong đó tháng VII có số giờ nắng nhiều
nhất đạt 200 - 230 giờ/tháng và tháng II, III có số giờ nắng ít nhất khoảng 25 - 45 giờ/
tháng.
Chế độ nắng cũng giống như chế độ nhiệt, nó ảnh hưởng đến tốc độ và dạng
phân huỷ các hợp chất hữu cơ và nồng độ ôxy hoà tan trong nước.
 Chế độ mưa ẩm:
Mùa mưa trùng với thời kỳ mùa hè, từ tháng V - X, lượng mưa chiếm 80 85% tổng lượng mưa năm, đạt từ 1200 - 1800 mm với số ngày mưa vào khoảng 60 70 ngày. Lượng mưa các tháng mùa khô đều dưới 100 mm/tháng, trong đó tháng XII,
I, II, III dưới 50 mm/tháng. Trong thời kỳ này dòng chảy nhỏ, chủ yếu phụ thuộc vào
thời gian mở cống Liên Mạc.

7


Chế độ mưa ảnh hưởng trực tiếp đến lượng dòng chảy bề mặt trên các sông

phẩm, sắt thép, thủ công mỹ nghệ, chế biến gỗ,...Trong đó Hà Tây cũ có 219 làng nghề.
8


Trước đây, nước dưới đất là nguồn cung cấp chủ yếu cho sinh hoạt ở nông
thôn bằng các hệ thống giếng gia đình. Nhưng hiện nay, hệ thống công trình đã xuống
cấp nặng nề do bồi lắng, hư hỏng. Nước trong hệ thống đã bị ô nhiễm nghiêm trọng do
hệ thống kênh kết hợp giữa tưới tiêu. Tiêu với lượng nước thải khá lớn, riêng nội thành
Hà Nội đã hơn 5 m3/s về mùa khô. Cùng với các thị xã, thị trấn khu công nghiệp, khu
dân cư dọc theo sông thuộc tỉnh Hà Tây, Hà Nam thì lượng nước thải trong mùa khô
sẽ hơn 15 m3/s. Đó là chưa kể 16 m3/s nước thải nông nghiệp có chứa nhiều độc tố do
dư thừa phân bón hóa học, hoá chất bảo vệ thực vật không kiểm soát được.
1.2 Tổng quan về tình hình ô nhiễm ở sông Nhuệ
1.2.1 Tình hình ô nhiễm ở các sông trên địa bàn Hà Nội
Trên địa phận thành phố Hà Nội có hệ thống kênh mương dày đặc, các con
sông chảy qua như sông Hồng, sông Đuống, sông Cầu, sông Cà Lồ, sông Nhuệ...
Nhiều sông hồ, kênh mương bị ô nhiễm ở mức độ cao (sông Tô Lịch, sông Kim
Ngưu...) thấp nhất là ở mức trung bình, do trực tiếp nhận nước thải sinh hoạt, nước
thải công nghiệp chưa qua xử lý, chất thải rắn và chất thải lỏng cùng với chất thải đô
thị, hoá chất trong nông nghiệp. Phần lớn các nhà máy xây dựng từ những năm 1950
-1960 và 1970 – 1980, hệ thống xử lý chất thải của các nhà máy này đã xuống cấp
nghiêm trọng .
Theo kết quả khảo sát mới đây của VESDEC, hệ thống sông, hồ trên địa bàn TP
Hà Nội tiếp nhận mỗi ngày hàng triệu m 3 nước thải công nghiệp, nước thải đô thị,
nước thải từ đồng ruộng và các khu vực nuôi trồng thủy sản. Hiện nay, các sông nội
thành đã bị ô nhiễm, đặc biệt các sông Kim Ngưu, Tô Lịch không còn khả năng tự làm
sạch, không đạt tiêu chuẩn cho phép, nước bẩn, màu sẫm, mùi thối tanh do bị ô nhiễm
hữu cơ, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và các hệ sinh thái nước ngọt.
Dự báo, lượng nước thải sinh hoạt trên địa bàn TP Hà Nội sẽ lên đến 440.934
m3/ngày đêm vào năm 2020.

màu và vi khuẩn, đặc biệt vào mùa khô.
Chính bởi việc nguồn nước bị ô nhiễm nghiêm trọng như vậy, đã ảnh hưởng
lớn tới việc lắng đọng và tích tụ các chất ô nhiễm trong trầm tích sông Nhuệ cũng như
các thực vật và sinh vật sống trong sông Nhuệ.

10


Mới đây, theo khảo sát của nhóm nghiên cứu đến từ Trường Đại học Y tế
công cộng, Cục An toàn thực phẩm và Viện Chăn nuôi quốc tế cho biết 100% mẫu rau
muống và cá rô phi được khai thác từ sông Nhuệ bị ô nhiễm chì. Cá rô phi còn nhiễm
chất Cadimi.
Nhóm này đã xét nghiệm 27 mẫu nước, 27 mẫu rau muống và 27 mẫu cá. Các
mẫu trên được lấy từ sông Nhuệ từ trong khoảng thời gian từ 11/2013 - 6/2014. Mặc
dù hàm lượng chì và cadimi trong mẫu rau muống và cá rô phi vẫn nằm trong mức cho
phép của Bộ Y tế, nhưng qua khảo sát cho thấy, có gần 15% người dân đã nhiễm chì
do ăn rau muống trồng dọc sông Nhuệ vượt ngưỡng khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế
giới.
1.2.3. Các nguồn gây ô nhiêm sông Nhuệ.
Lưu vực sông Nhuệ khu vực thành phố Hà Nội đang chịu nhiều áp lực môi
trường do hoạt động phát triển kinh tế – xã hội gây nên. Qua các tài liệu đã được công
bố, có thể nêu các nguồn gây ô nhiễm chính cũng như các tác động của chúng đối với
môi trường
Bảng 1.1 : Các nguồn chính tác động đến môi trường nước sông Nhuệ
Các nguồn ô nhiễm chính
Nước thải công nghiệp

Tác động chính đến môi trường
- Ô nhiễm do chất hữu cơ, gây đục, chất



đặc biệt. Ô nhiễm môi trường không khí

Nông nghiệp:
- Sử dụng phân bón

- Phú dưỡng

- Thuốc trừ sâu, cỏ

- Ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật

- Khai hoang

- Chua hoá (axit hoá)

(Nguồn: Cục bảo vệ môi trường - Bộ tài nguyên và môi trường)
Trong số các nguồn thải có lưu lượng thải lớn tại lưu vực sông Nhuệ, nước
thải sinh hoạt đóng góp tỉ lệ lớn nhất (56%). Đây là một đặc trưng nổi bật của lưu vực
sông.
Nước thải sinh hoạt với tỉ lệ đóng góp to lớn, tải lượng các chất ô nhiễm hữu
cơ cao, đã làm cho chất lượng nước sông Nhuệ và một số đoạn sông Đáy bị ô nhiễm
hữu cơ nghiêm trọng.
Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh, trong khi hạ tầng kĩ thuật đô thị không
phát triển tương xứng, đã làm gia tăng vấn đề ô nhiễm do nước thải sinh hoạt. Hầu hết
lượng nước thải sinh hoạt đều không được xử lí mà đổ thẳng vào các sông, hồ trong
lưu vực.
Hiện nay, trong toàn lưu vực (cả sông Nhuệ và sông Đáy) có hơn 1400 cơ sở
y tế với lượng nước thải ước tính khoảng hơn 10000 m 3/ngày. Mặc dù, nước thải y tế
là loại nguy hại cần được xử lí triệt để trước khi thải vào nguồn tiếp nhận, nhưng hiện

Đặc điểm hóa lý :
Kẽm là kim loại màu trắng bạc, mềm và dễ nóng chảy
Bảng1.2: Một số hằng số vật lí quan trọng của kẽm

Nhiệt độ nóng
chảy, oC

Nhiệt độ sôi,
o
C

Nhiệt thăng
hoa, kJ/mol

Tỉ khối

Độ dẫn điện
(Hg = 1)

419,5

906

140

7,13

16

Kẽm là kim loại tương đối hoạt động. Trong không khí ẩm, bền với nước ở

thay cho đồng thanh và babit. Kẽm là cấu tử của hợp kim cơ sở đồng: đồng thau, babit
và đồng thanh. Riêng để sản xuất đồng thau cần tới 15% tổng lượng kẽm. Trong luyện
kẽm được dùng để làm sạch dung dịch và dùng trong quá trình thu vàng, bạc từ dung
dịch xianua. Oxit kẽm là nguyên liệu chính để sản xuất bột màu, sơn, men và dùng
trong sản xuất cao su, vải sơn v.v. Bởi vậy nguồn ô nhiễm kẽm chính là công nghiệp
luyện kim, công nghiệp pin, các nhà máy rác, các sản phẩm chống ăn mòn, sơn, nhựa,
cao su.
Kẽm còn có một lượng đáng kể trong thực vật và động vật. Kẽm có trong enzim
cacbahiđrazơ là chất xúc tác quá trình phân hủy của hiđroocacbonat ở trong máu và do
đó đảm bảo tốc độ cần thiết của quá trình hô hấp và trao đổi khí. Kẽm còn có trong
insulin là hocmon có vai trò điều chỉnh độ đường ở trong máu.
- Độc tính :
Kẽm là nguyên tố vi lượng được tìm thấy trong nhiều loại thực phẩm và nước
uống dưới hình thức các phức chất hữu cơ. Các muối kẽm hòa tan đều độc. Khi ngộ
độc kẽm sẽ cảm thấy miệng có vị kim loại, đau bụng, mạch chậm, co giật... Chế độ ăn
thường là nguồn cung cấp kẽm chính cho cơ thể.
Mặc dù lượng kẽm trong nước ngầm thường không vượt quá 0,01 - 0,05 mg/l,
nhưng riêng nước máy có nồng độ kẽm cao hơn nhiều đo sự hoà tan kẽm từ ống dẫn
nước. Độc tính của chúng phụ thuộc vào pH, nhiệt độ và độ cứng của nước.
Về cơ bản, các muối kẽm hòa tan đều độc.
- Đối với cây trồng: Sự dư thừa Zn gây độc đối với cây trồng khi Zn tích tụ
trong đất quá cao. Dư thừa Zn cũng gây ra bệnh mất diệp lục. Sự tích tụ Zn trong cây
quá nhiều gây một số mối liên hệ đến mức dư lượng Zn trong cơ thể người và góp
phần phát triển thêm sự tích tụ Zn trong môi trường mà đặc biệt là môi trường đất.
- Đối với con người: Zn là dinh dưỡng thiết yếu và nó sẽ gây ra các chứng
bệnh nếu thiếu hụt cũng như dư thừa. Trong cơ thể con người, Zn thường tích tụ chủ
yếu ở trong gan, là bộ phận tích tụ chính của các nguyên tố vi lượng trong cơ thể,
khoảng 2 g Zn được thận lọc mỗi ngày. Zn còn có khả năng gây ung thư đột biến, gây
14



8,94

3

Độ dẫn
điện
(Hg = 1)
57

Về mặt hóa học đồng là kim loại kém hoạt động. Ở nhiệt độ thường và trong
không khí, đồng bị bao phủ một màng màu đỏ bao gồm đồng kim loại và đồng (I) oxit.
Oxit này được tạo nên bởi những phản ứng:
2Cu + O2 + 2H2O→ 2Cu(OH)2
Cu(OH)2 + Cu → Cu2O + H2O
Nếu trong không khí có mặt CO 2, đồng bị bao phủ dần một lớp màu lục gồm
cacbonat bazơ có công thức là Cu(OH)2CO3. Khi đun nóng trong không khí ở nhiệt độ
130oC, đồng tạo nên ở trên bề mặt một màng Cu 2O, ở 200oC tạo nên lớp gồm hỗn hợp
oxit Cu2O và CuO, ở nhiệt độ nóng đỏ đồng cháy tạo nên CuO và cho ngọn lửa màu
lục.
-

Trạng thái tồn tại
Đồng là nguyên tố tương đối phổ biến, trữ lượng trong vỏ trái đất là 0,003%.

Có thể tồn tại ở hai dạng là: dạng hòa tan và các hạt nhỏ.
Những khoáng vật chính của đồng là: cancosin (Cu 2S), cuprit (Cu2O), covelin
(CuS), cacopirit (CuFeS2) và malachite (CuCO3.Cu(OH)2).
Đồng có một lượng nhỏ trong cơ thể thực vật và động vật, cần thiết cho sự
sống của sinh vật và con người.

và niêm mạc. Độc nhất là muối đồng xuanua.
Khi hàm lượng đồng trong cơ thể người là 10g/kg thể trọng gây tử vong, liều
lượng 60 – 100 mg/kg gây nôn mửa. Đồng ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ do
thiếu hụt cũng như dư thừa. Đồng thiết yếu cho việc sử dụng sắt (Fe), bệnh thiếu máu
do thiếu hụt sắt ở trẻ em đôi khi cũng được kết hợp với sự thiếu hụt đồng.
Với cá, khi hàm lượng đồng là 0,002 mg/l đã có 50% cá thí nghiệm bị chết.
Với khuẩn lam khi hàm lượng đồng là 0,01 mg/l làm chúng chết.
Với thực vật khi hàm lượng đồng là 0,1 mg/l đã gây độc, khi hàm lượng đồng
là 0,17 – 0,20 mg/l gây độc cho củ cải đường, cà chua, đại mạch. Việc thừa đồng cũng
16


gây ra những biểu hiện ngộ độc mà chúng có thể dẫn tới tình trạng cây chết. Lý do của
việc này là do dùng thuốc diệt nấm, thuốc trừ sâu, đã khiến cho chất liệu đồng bị cặn
lại trong đất từ năm này qua năm khác, ngay cả bón phân Sulfat Cu cũng gây tác hại
tương tự.
Nồng độ giới hạn cho phép:
+ Với nước uống và nước mặt: 0,02 – 1,5 mg/l tuỳ theo tiêu chuẩn từng nước.
+ Nước tới cây nông nghiệp: 0,2 mg/l riêng với đất rất thiếu đồng có thể dùng
nước chứa tới 5 mg/l để tới trong thời gian ngắn.
1.3.3 Đặc điểm hóa lý, trạng thái tồn tại, ứng dụng và độc tính của Chì (Pb)
- Đặc điểm hóa lý
Bảng1.4 : Một số hằng số vật lí quan trọng của chì
Nhiệt độ nóng
chảy, oC

Nhiệt độ
sôi, oC

Nhiệt thăng hoa,


ở dạng quặng cùng với kẽm, bạc, và (phổ biến nhất) đồng, và được thu hồi cùng với
các kim loại này. Khoáng chì chủ yếu là galena (PbS), trong đó chì chiếm 86,6% khối
lượng. Các dạng khoáng chứa chì khác như cerussite (PbCO3) và anglesite (PbSO4).
Chì là kim loại nằm sâu trong lòng đất, tồn tại ở dạng Cd 2+. Trong các điều
kiện ôxy hoá chì thường ở các dạng hợp chất rắn như CdO, CdCO 3, Cd3(PO4)2. Trong
17


điều kiện khử (Eh ≤ - 0,2V) thì Cd thường tồn tại ở dạng CdS, ngoài ra Cd có thể tồn
tại dạng phức như CdCl+, CdHNO3+; CdHCl-; CdCl4; Cd(OH)4-. Trong đất chua, Cd tồn
tại ở dạng linh động hơn (Cd2+), tuy nhiên nếu đất chứa nhiều Fe, Al, Mn, chất hữu cơ
thì Cd lại bị chúng liên kết làm giảm khả năng linh động của Cd. Trong đất trung tính
hoặc kiềm do bón vôi, Cd bị kết tủa dưới dạng CdCO 3. Thông thường Cd tồn tại trong
đất ở dạng hấp phụ trao đổi chiếm 20 - 40%, dạng các hợp chất cacbonat là 20%,
hyđrôxyt và ôxyt là 20%, phần liên kết các hợp chất hữu cơ chiếm tỷ lệ nhỏ.
Trong nước Cd tồn tại chủ yếu ở dạng hoá trị 2 và rất dễ bị thuỷ phân trong
môi trường kiềm. Ngoài dạng hợp chất vô cơ, Cd liên kết với các hợp chất hữu cơ đặc
biệt là axit humic tạo thành phức chất và phức chất này có khả năng hấp phụ tốt trên
các hạt sa lắng, chiếm 60 - 75% nồng độ tổng số trong các dòng nước.
- Ứng dụng
Pb có trong vũ khí đạn dược, gốm sứ, xăng dầu, thủy tinh chì. Chì cũng được
dùng nhiều trong vật liệu xây dựng, công nghiệp cơ khí, pin.
Từ lâu, người ta đã biết dùng chì để bọc tàu thuyền, nó bảo vệ rất tốt đáy
thuyền và các đinh thuyền bằng sắt khỏi bị han gỉ. Ngay từ năm 1859, người Pháp đã
phát minh ra một nguồn điện hóa học - đó là ăcquy chì.
Trong công nghiệp kỹ thuật điện, kim loại này được dùng làm vỏ bọc dây cáp
rất bền chắc và khá dẻo dai. Một lượng chì khá lớn được dùng để làm que hàn.
Để bảo vệ thiết bị khỏi sự ăn mòn, các nhà máy hóa chất và các xí nghiệp
luyện kim màu, người ta mạ chì (phủ một lớp chì rất mỏng) lên bề mặt bên trong các

Sự thâm nhập chì qua nhau thai người xảy ra rất sớm từ tuần thứ 20 của thai
nhi và tiếp diễn sau đó. Trẻ em có mức hấp thụ chì gấp 4 - 5 lần so với người lớn. Mặt
khác, thời gian bán phân huỷ sinh học chì ở trẻ em cũng lâu hơn nhiều. Chì tích đọng ở
xương. Trẻ em từ 6 tuổi trở xuống và phụ nữ có thai là những đối tượng mẫn cảm với
những ảnh hưởng nguy hại cho sức khoẻ do chì gây ra.
Chì cũng kìm hãm chuyển hoá Canxi bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông
qua kìm hãm sự chuyển hoá vitamin D. Chì gây độc cả hệ thống thần kinh trung ương
lẫn thần kinh ngoại biên. Nhiễm độc chì thường làm rối loạn trí óc, nhẹ thì nhức đầu;
nặng thì co giật có thể dẫn đến động kinh, hôn mê và tử vong [1].
Trong cơ thể, chì tác dụng lên hệ thống enzyme nhất là enzyme vận chuyển
hyđro. Khi bị nhiễm độc, người bệnh có một số rối loạn cơ thể, chủ yếu là rối loạn bộ
phận tạo huyết (tuỷ xương). Tuỳ theo mức độ nhiễm độc có thể gây ra những tai biến
như đau bụng, đường viền đen Burton ở lợi, đau khớp, viêm thận, cao huyết áp vĩnh
viễn, liệt, tai biến não; nếu bị nặng có thể dẫn đến tử vong [23].
Uỷ ban chuyên viên FAO/WHO về phụ gia thực phẩm (JECFA) đã thiết lập
giá trị tạm thời cho lượng chì đưa vào cơ thể hàng tuần có thể chịu được đối với cơ thể
trẻ sơ sinh và thiếu nhi là 25 µ g/kg thể trọng (tương đương 3,5 µ g/kg thể trọng/ngày)

19


CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là trầm tích trên sông Nhuệ chảy qua thành phố Hà

Nội,. Tập trung phân tích 3 kim loại là Đồng, Kẽm, Chì.
Mẫu trầm tích được lấy tại 5 vị trí Đông Ngạc, Cầu Diễn, Phú Đô, Hà Đông
và Thanh Liệt tiếp nhận các nguồn thải khác nhau.

đó kí hiệu mẫu (địa điểm, ngày lấy mẫu) và vận chuyển về phòng thí nghiệm
Bảng 2.1. Địa điểm lấy mẫu
STT Kí hiệu
mẫu

Địa điểm

Tọa độ

1

R1

Đông Ngạc

21°04’59”B
105°46’15”Đ

2

R2

Cầu Diễn

21°04’17”B
105°76’14”Đ

3

R3

nghiệp, doanh nghiệp sản xuất
hàng công nghiệp, dân dụng,
quốc phòng…
Giao của song Nhuệ và cống
thoát nước làng bún Phú Đô,
nguồn nước mặt đã bị ô nhiễm
nghiêm trọng.
Đoạn chảy qua làng nghề Vạn
Phúc, ở gần đó còn có làng rèn
Đa Sỹ, the lụa La Khê, mộc
Thượng Mạo… với việc đô thị
hóa mạnh mẽ.
Là nơi giao nhau của Sông Nhuệ
và Sông Tô Lịch. Có mật độ dân
cư đông đúc.

• Thời gian lấy mẫu:
+ Đợt một: Ngày 29 đến ngày 31 tháng 3 năm 2016
+ Đợt hai: Ngày 27 đến ngày 29 tháng 4 năm 2016
• Gia công mẫu:
Mẫu trầm tích sau khi lấy về được xử lý bằng cách phơi khô ở nơi không có
nắng, thoáng gió trong khay nhựa sạch trong 72 giờ. Mẫu được nhặt sạch rễ, lá,
gạch..rồi nghiền trong cối sứ, rây qua lỗ cỡ 0,1mm. Mẫu sau khi nghiền được đựng
trong túi nilong có nhãn ghi rõ kí hiệu mẫu.
2.2.3 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm.

21


Áp dụng các phương pháp phân tích được sử dụng tại phòng Thí nghiệm của

+ Chuyển lượng mẫu vừa cân ở trên vào cốc 250 ml, thêm 10 ml HNO 3 1:1,
đậy nắp kính đồng hồ, đun ở 95±5oC trong 10-15 phút (lưu ý không để sôi mẫu).
+ Để nguội mẫu, thêm 5 ml HNO3 đặc, đậy nắp kính đồng hồ tiếp tục đun
trong 30 phút, nếu vẫn thấy khói nâu bốc lên, lặp lại quá trình thêm axit và đun như
trên cho tới khi không thấy khói nâu bốc lên.
+ Đun cạn mẫu đến còn 5 ml hoặc đun mẫu trong 2 giờ.
22


+ Để nguội mẫu, thêm 2 ml nước khử ion và 3 ml H 2O2, tiếp tục đun đến khi
mẫu giảm lượng bọt khí thoát ra, để nguội mẫu.
+ Lặp lại quá trình thêm 1 ml đến khi quan sát thấy mẫu không đổi hoặc bọt
khí thoát ra rất ít. Chú ý không dùng quá 10 ml H2O2
+ Đậy nắp kính đồng hồ, đun mẫu tới khi còn 5 ml hoặc trong 2 giờ, để nguội,
định mức tới 100 ml.
+ Để lắng mẫu tự nhiên hoặc có thể lọc hay ly tâm mẫu để loại bỏ phần cặn
không tan.

 Kết quả được tính như sau:

C = (mg/Kg)
Trong đó: C – Hàm lượng của nguyên tố trong mẫu (mg/Kg)
c – Hàm lượng đo được trên máy (mg/L)
HSPL – Hệ số pha loãng mẫu (nếu có)
100 – Thể tích cuối của quá trình hòa tan (ml)
a – Lượng cân (g)

-

Phương pháp xác định hàm lượng kim loại:

trầm tích.
2.2.4 Phương pháp xử lý thống kê số liệu.
-

Phân tích, đánh giá các số liệu sẵn có, các số liệu phân tích được. Tổng hợp các số liệu
đó để đưa ra đánh giá chính xác và đầy đủ. Các số liệu thu thập được tập hợp và xử lý

-

trên phần mềm Microsoft office excel.
Kết quả phân tích trầm tích được so sánh với QCVN 43 : 2012/BTNMT, Quy chuẩn
kỹ thuật quốc gia về chất lượng trầm tích.
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ PHÂN TÍCH VÀ THẢO LUẬN.
3.1 Kết quả phân tích hàm lượng kim loại nặng Đồng, Kẽm, Chì trong
trầm tích sông Nhuệ Thành phố Hà Nội.

- Quy trình phân tích:
Cân 1g mẫu khô cho vào cốc thủy tinh 100 ml cho thêm 21 ml axit clohidric,
sau đó cho thêm từ từ 7 ml axit nitric (hỗn hợp cường thủy), giữ ở nhiệt độ phòng và
để ngâm qua đêm, sau đó đun trên bếp cách cát ở 80 0C đến khi mẫu cạn và bốc hết
khói trắng thì dừng lại. Để nguội, định mức bằng 5ml dung dịch HNO 3 1:10 và nước
cất đến 50 ml rồi tiến hành lọc lấy dung dịch chứa kim loại.
Hàm lượng các kim loại được xác định bằng máy ICP – MS 7700 dưới tác
dụng của ngọn lửa plasma, hỗn hợp vệ sinh kép bằng nước cất và dung dịch HNO 3
5%.
Sau khi tính toán với lượng cân, ta thu được kết quả như sau và được so sánh
với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng trầm tích
3.1.1 Kết quả phân tích mẫu đợt 1
Bảng 3.1 . Hàm lượng kim loại đồng, chì, kẽm trong các mẫu trầm tích sông
Nhuệ thành phố Hà Nội lấy mẫu đợt 1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status