ĐẶT VẤN ĐỀ
Quá trình phát triển công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ như y tế, du lịch,
thương mại… ở nước ta đã làm cho môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, đặc biệt
sự hiện diện của kim loại nặng trong môi trường đất, nước đã và đang là vấn đề môi
trường được cộng đồng quan tâm. Sự tích tụ kim loại nặng sẽ ảnh hưởng đến đời
sống của các sinh vật thủy sinh, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người thông
qua chuỗi thức ăn; ví dụ nhiều loài động vật không xương sống sử dụng trầm tích
như nguồn thức ăn, vì thế cơ thể chúng là nơi lưu giữ và tích tụ kim loại nặng. Sự
tích tụ kim loại nặng trong sinh vật có thể đe dọa sức khỏe của nhiều loài sinh vật
đặc biệt cá, chim và con người (Wright & Mason, 1999) [50]. Do vậy, xác định hàm
lượng kim loại nặng trong môi trường là rất cần thiết do bởi tính độc, tính bền vững
và sự tích tụ sinh học của chúng (UNEP/FAO/WHO, 1996 trích trong Clark và cộng
sự, 2000) [27]. Trong những năm gần đây, kim loại nặng đã được nghiên cứu nhiều
trong trầm tích cửa sông, vùng ven biển, và rừng ngập mặn tại một số quốc gia trên
thế giới. Ở Việt Nam nghiên cứu về kim loại nặng tập trung ở vùng đô thị, vùng đất
phèn, và vùng nông nghiệp.
Hà Nội là một trong những thành phố lớn ở nước ta có số lượng các hồ dày
đặc, đây là nơi điều hòa khí hậu và là nét đẹp đặc trưng của thành phố này, nhưng
hiện nay chất lượng nước ở hầu hết các hồ nơi đây đang trong tình trạng ô nhiễm
nặng do phải chứa đựng một lượng lớn nước thải từ khu dân cư, từ các nhà máy, xí
nghiệp.
Tài nguyên nước là thành phần chủ yếu của môi trường sống, quyết định sự
thành công trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội,
bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia. Hiện nay nguồn tài nguyên thiên nhiên quý
hiếm và quan trọng này đang phải đối mặt với nguy cơ ô nhiễm và cạn kiệt. Nguy
cơ thiếu nước, đặc biệt là nước ngọt và sạch là một hiểm họa lớn đối với sự tồn
vong của con người cũng như toàn bộ sự sống trên trái đất. Do đó con người cần
phải nhanh chóng có các biện pháp bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên
nước.[1], [2].
1
Hồ Thanh Nhàn và hồ Trúc Bạch là 2 hồ nuôi cá cung cấp thực phẩm hàng
trong cơ thể và thiết yếu cho sức khỏe con người, chẳng hạn như sắt, kẽm,
magnesium, cobalt, manganese, molybdenum và đồng mặc dù với lượng rất ít
nhưng nó hiện diện trong quá trình chuyển hóa. Tuy nhiên, ở mức thừa của các
nguyên tố thiết yếu có thể nguy hại đến đời sống của sinh vật (Foulkes, 2000) [35].
Các nguyên tố kim loại còn lại là các nguyên tố không thiết yếu và có thể gây độc
tính cao khi hiện diện trong cơ thể, tuy nhiên tính độc chỉ thể hiện khi chúng đi vào
chuỗi thức ăn. Các nguyên tố này bao gồm thủy ngân, nickel, chì, arsenic,
cadmium, nhôm, platinum và đồng ở dạng ion kim loại. Chúng đi vào cơ thể qua
các con đường hấp thụ của cơ thể như hô hấp, tiêu hóa và qua da. Nếu kim loại
nặng đi vào cơ thể và tích lũy bên trong tế bào lớn hơn sự phân giải chúng thì chúng
sẽ tăng dần và sự ngộ độc sẽ xuất hiện (Foulkes, 2000) [35]. Do vậy người ta bị ngộ
độc không những với hàm lượng cao của kim loại nặng mà cả khi với hàm lượng
thấp và thời gian kéo dài sẽ đạt đến hàm lượng gây độc. Tính độc hại của các kim
loại nặng được thể hiện qua:
3
- Một số kim loại nặng có thể bị chuyển từ độc thấp sang dạng độc cao hơn trong
một vài điều kiện môi trường, ví dụ thủy ngân.
- Sự tích tụ và khuếch đại sinh học của các kim loại này qua chuỗi thức ăn có thể
làm tổn hại các hoạt động sinh lý bình thường và sau cùng gây nguy hiểm cho sức
khỏe của con người.
- Tính độc của các nguyên tố này có thể ở một nồng độ rất thấp khoảng 0.1-10 mg/l
(Alkorta và cộng sự, 2004) [18].
1.1.1. Asen (As)
Asen phân bố nhiều nơi trong môi trường, chúng được xếp thứ 20 trong
những nguyên tố hiện diện nhiều trong lớp vỏ của trái đất, hiện diện ít hơn Cu, Sn
nhưng nhiều hơn Hg, Cd, Au, Ag, Sb, Se (Bissen & Frimmel, 2003)[23]. Nguồn
asen khổng lồ phóng thích vào khí quyển bởi quá trình tự nhiên là sự hoạt động của
núi lửa. Khi núi lửa hoạt động, một lượng lớn arsenic khoảng 17150 tấn phóng thích
vào khí quyển (Matschullat, 2000) [41]. Trong môi trường tự nhiên, asen chủ yếu
liên kết với các khoáng mỏ sunfide. Hàm lượng arsenic tự nhiên trong đất nói chung
CdO
2
+ H
2
O
(Kali cadmiat)
CdO có thể điều chế bằng cách đốt cháy kim loại trong không khí hoặc nhiệt
phân hiđroxit hay các muối cacbonat, nitrat:
2Cd + O
2
= 2CdO
Cd(OH)
2
= CdO + H
2
O
Cd(OH)
2
là kết tủa nhầy ít tan trong nước và có màu trắng.
Cd(OH)
2
không thể hiện rõ tính lưỡng tính, tan trong dung dịch axit, không tan
trong dung dịch kiềm mà chỉ tan trong kiềm nóng chảy.
Tan trong dung dịch NH
3
tạo thành hợp chất phức
Cd(OH)
2
+ 4NH
3
]
2-
(X = Cl
-
, Br
-
, I
-
và CN
-
),
[Cd(NH
3
)
4
]
2+
,
[Cd(NH
3
)
6
]
2+
,…
Cd
2+
có khả năng tạo phức [CdX
4
itai-itai là bệnh do sự ngộ độc Cd trầm trọng. Tất cả những bệnh nhân với bệnh này
điều bị tổn hại thận, xương đau nhức trở nên giòn và dễ gãy (Nogawa và cộng sự,
1999) [38].
1.1.3. Chì (Pb)
Các Hợp chất của Pb:
Chì tạo thành 2 oxit đơn giản là PbO, PbO
2
và 2 oxit hỗn hợp là chì
metaplombat Pb
2
O
3
(hay PbO.PbO
2
), chì orthoplombat Pb
3
O
4
(hay 2PbO.PbO
2
).
Monooxit PbO là chất rắn, có hai dạng: PbO có màu đỏ và PbO có mqàu
vàng. PbO tan chút ít trong nước nên Pb có thể tương tác với nước khi có mặt oxi.
PbO tan trong axit và tan trong kiềm mạnh.
Đioxit PbO
2
là chất rắn màu nâu đen, có tính lưỡng tính nhưng tan trong
kiềm dễ dàng hơn trong axit. Khi đun nóng PbO
2
mất dần oxi biến thành các oxit,
tinh pha lê, men đồ sứ và đồ sắt, làm chất màu cho sơn (sơn trang trí và sơn bảo vệ
cho kim loại không bị rỉ).
Pb(OH)
2
là chất kết tủa màu trắng. Khi đun nóng, chúng dễ mất nước biến
thành oxit PbO.
Pb(OH)
2
cũng là chất lưỡng tính.
Khi tan trong axit, nó tạo thành muối của cation Pb
2+
:
Pb(OH)
2
+ 2HCl = PbCl
2
+ 2H
2
O
Khi tan trong dung dịch kiềm mạnh, nó tạo thành muối hiđroxoplombit:
Pb(OH)
2
+ 2KOH = K
2
[Pb(OH)
4
]
Muối hiđroxoplombit dễ tan trong nước và bị thuỷ phân mạnh nên chỉ bền
trong dung dịch kiềm dư.
Tác hại của chì đối với sức khỏe con người:
Ngược lại khi nồng độ đồng quá thấp, cơ thể phát triển không bình thường, đặc biệt
là với trẻ em. (Roberts, 1999) [40]
Mọi hợp chất của đồng đều là những chất độc, khoảng 30g CuSO
4
có khả
năng gây chết người. Nồng độ an toàn của đồng trong nước uống đối với con người
dao động theo từng nguồn, khoảng 1,5 → 2mg/l. Lượng đồng đi vào cơ thể người
theo đường thức ăn mỗi ngày khoảng 2 → 4mg/l.
1.1.5. Thủy ngân (Hg)
Các dạng thủy ngân:
+ Thủy ngân nguyên tố: không độc, trơ và được đào thải nhanh.
+ Thủy ngân dạng hơi: rất độc, có thể đi theo đường hô hấp vào phổi rồi vào máu,
vào não rồi gây độc.
+ Thủy ngân dạng muối vô cơ HgCl
2
, Hg
2
Cl
2
ít tan, ít độc vì là ở dạng hợp chất
không tan.
+ Ion thủy ngân (Hg
2+
): độc nhưng khó vận chuyển qua màng sinh học của tế bào.
Tác hại của thủy ngân đối với sức khỏe con người:
8
Khi thủy ngân kết hợp với các hợp chất hữu cơ và bị biến đổi bởi các vi
khuẩn và vi sinh vật trong nước và trầm tích hình thành các hợp chất khác nhất là
metyl thủy ngân rất độc, bền và tích tụ trong chuỗi thức ăn (Peter & Michael, 2003)
[39]. Trong môi trường biển, hệ vi sinh vật có thể chuyển nhiều hợp chất thủy ngân
- Đồng được tìm thấy tự nhiên trong các khoáng như cuprite (Cu
2
O), malachite
(Cu
2
CO
3
.Cu(OH)
2
), azurite (2CuCO
3
.Cu(OH)
2
), chalcopyrite (CuFeS
2
), chalcocite
(Cu
2
S), và bornite (Cu
5
FeS
4
) và trong nhiều hợp chất hữu cơ. Ion đồng (II) gắng kết
qua ôxy đối với các tác nhân vô cơ như H
2
O, OH
-
, CO
3
2-
10
Khoáng Thành phần Nơi xuất hiện
Niccolite NiAs Các lớp trầm tích
Realgar AsS
Các lớp trầm tích, thường đi kèm
với khoáng orpiment, sét, đá vôi,
các lớp trầm tích nơi có suối nước
nóng.
Orpiment As
2
S
3
Các mạch thủy nhiệt, các suối nước
nóng, khu vực có các sản phẩm của
quá trình thăng hoa núi lửa.
Cobaltite CoAsS
Các lớp trầm tích có nhiệt cao, các
lớp đá bị biến dạng
Arsenopyrite FeAsS
Dạng khoáng chứa asen phổ biến
nhất, tồn tại nhiều trong các vùng
trầm tích chứa khoáng
Tennantite (Cu,Fe)
12
As
4
S
13
Các mạch thủy nhiệt
Enargite Cu
)
2
.8H
2
O Khoáng thứ cấp, thải luyện kim
Haematolite (Mn,Mg)
4
Al(AsO
4
)(OH)
8
Conichalcite CaCu(AsO
4
)(OH) Khoáng thứ cấp
Như vậy, asen là nguyên tố hóa học có mặt khá phổ biến trong đất đá, quặng
khoáng, trong các trầm tích sâu dưới lòng đất.
- Thủy ngân hiện diện và tồn tại trong tự nhiên ở nhiều dạng khác nhau: kim loại,
vô cơ và hữu cơ (metyl và etyl thủy ngân). Tất cả những dạng này có tính độc khác
11
nhau và có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ con người. Trong môi trường đất, dạng
cation Hg
2+
hiện diện là phổ biến nhất. Sự tích tụ thủy ngân trong đất có khuynh
hướng tương quan với hàm lượng vật chất hữu cơ. Hàm lượng thủy ngân trong tự
nhiên cao nhất đã được báo cáo trong đất ngập nước và đất than bùn. Hàm lượng
thủy ngân trong đất trên thế giới trung bình 0,02-0,41 ppm (Murray, 1994) [36].
Nồng độ thủy ngân trong nước đại dương trung bình 0,001-0,004 μ/l
(Olafsson,
1983 trích trong Bryan & Langston, 1992) [26] và nồng độ Hg gia tăng gần các cửa
Sechura chứa hàm lượng Cd 0,012 g/kg, trong khi đó phân lân có nguồn gốc từ đá
phosphate Gafsa chứa 0,07 g/kg (Bolan và cộng sự, 2003) [24].
- Chì: Được sử dụng trong pin, trong bình ăcqui, trong một số dụng cụ dẫn điện.
Một số hợp chất chì được thêm vào trong sơn, thủy tinh, đồ gốm như chất tạo màu,
chất ổn định, chất kết gắn.[7] Các sản phẩm thải từ ứng dụng của chì nếu không
được tái chế hợp lý thải vào môi trường làm gia tăng lượng kim loại độc hại này
trong môi trường. Ngoài ra một số hợp chất chì hữu cơ như tetraetyl hoặc tetrametyl
chì được thêm vào trong xăng đặc biệt ở những quốc gia đang phát triển.
- Thủy ngân: Nguồn do hoạt động của con người: đến từ các nhà máy điện đốt than;
các lò đốt rác thải; những nơi khai thác thủy ngân, vàng, đồng, kẽm, bạc; các hoạt
động luyện kim; thải bỏ các nhiệt kế và từ đốt rác thải y tế. Riêng chất thải từ các
thiết bị y tế có thể phóng thích chiếm khoảng 5% thủy ngân trong nước thải (WHO,
1998) [49].
1.2.3. Các sản phẩm nông nghiệp
Các kim loại nặng có trong các sản phẩm phân bón bao gồm cađimi, crom, đồng,
mangan, molipden, niken và kẽm. Các nguồn chính của asen trong môi trường là từ
thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ và các sản phẩm bảo vệ thực vật khác. Chì và asen bên
cạnh việc sử dụng trong công nghiệp nó còn được sử dụng trong thuốc trừ sâu.
Thuốc diệt nấm có chứa thủy ngân cũng góp phần làm ô nhiễm môi trường. Cuối
cùng, rất nhiều các kim loại này tích lũy trong đất nông nghiệp dẫn đến tạo ra sự
nguy hiểm đối với thực vật và động vật. [1],[3].
1.3. Ảnh hưởng của kim loại nặng đến sinh vật
13
Ô nhiễm môi trường do tính độc hại của kim loại nặng gây mất cân bằng sinh
thái làm suy giảm nhiều quần thể sinh vật đã được tìm thấy ở nhiều quốc gia trên
thế giới. The Severn Estuary là một trong những con sông lớn nhất ở Anh là nơi ở
và sinh sản của nhiều loài cá. Nhiều thập kỉ qua, sông này đã phải hứng chịu nhiều
ô nhiễm kim loại nặng như chì, cadmium và nhiều nguyên tố khác từ nhiều nguồn
khác nhau (Owens, 1984 trích trong WHO, 1992)[48]. Những ảnh hưởng của ô
nhiễm này có thể là một trong những nguyên nhân gây suy giảm quần thể cá. Quần
1000μg/g Pb, 2000 μg/g Zn có thể tìm thấy trong các trầm tích bị ô nhiễm (Irvine &
Birch, 1998 trích trong McFarlane & Burchett, 2002) [35]. Bryan và cộng sự (1985)
trích trong Bryan & Langston (1992) [26] đã xác định hàm lượng chì vô cơ trong
trầm tích cửa sông ở Anh biến động từ 25 μg/gtrong khu vực không bị ô nhiễm đến
hơn 2700 μg/gtrong cửa sông Gannel nơi nhận chất thải từ việc khai thác mỏ chì.
Hàm lượng của các hợp chất chì này có lẽ có nguồn gốc do sử dụng xăng dầu pha
chì. Tương tự như Pb, hàm lượng As cũng đã được xác định ở nhiều vùng cửa sông,
vùng ven biển trên thế giới. Hàm lượng As trong trầm tích cửa sông đã được xác
định từ 5 μg/g ở cửa sông Axe đến lớn hơn 1000 μg/g trong các cửa sông
Restronguet Creek, Cornwall nơi nhận nước thải từ các khu vực khai thác quặng mỏ
kim loại (Langstone, 1985 trích trong Bryan & Langston, 1992) [26].
Hàm lượng Cd cũng được xác định ở Anh tại các cửa sông không bị ô nhiễm
với hàm lượng 0,2 μg/kg, tại các cửa sông bị ô nhiễm nặng hàm lượng này có thể
lên đến 10 μg/g (Bryan & Langston, 1992) [26]. Sông Deule ở Pháp là một trong
những con sông bị ô nhiễm rất nặng do hứng chịu chất thải từ nhà máy luyện kim.
Hàm lượng kim loại trong trầm tích sông này rất cao (480 mg/kg) (Neda và cộng
sự, 2006) [37]. Hàm lượng kim loại nặng trong trầm tích tại vùng cửa sông, vùng
ven biển trên thế giới nơi có rừng ngập mặn cũng đã được xác định từ ít bị ô nhiễm
cho đến ô nhiễm nặng. Tam & Wong (1995) [43] đã xác định hàm Pb trong trầm
tích rừng ngập mặn Sai Keng, Hong Kong với hàm lượng 58,2 μg/g Zheng & Lin
(1996) [51] đã xác định hàm lượng Pb và Cd trong trầm tích rừng ngập mặn
Avicennia marina, vịnh Shenzhen với hàm lượng tương ứng 28,7 μg/g và 0,136
15
μg/g tương ứng. Theo Breemen (1993), Astrom & Bjorklund (1995) [20],
Sundstrom và cộng sự (2003) [24], Hoa và cộng sự (2004) [30] đã chỉ ra rằng đất
phèn là nguồn phóng thích kim loại nặng gây ô nhiễm nguồn nước. Khi đất phèn
tiềm tàng tiếp xúc với ôxy do hiện tượng tự nhiên hoặc do thoát nước nhân tạo,
pyrite bị ôxy hóa tạo ra acid sulfuric làm hạ thấp pH. Khi pH <4 các proton được
phóng thích tấn công các khoáng sét, hòa tan một số kim loại mà nồng độ của chúng
có thể vượt xa nồng độ trong các loại đất không phèn (Trần Kim Tính, 2004) [30].
CN nhựa x x
Sx thuốc trừ sâu x x x
Sx hóa chất hữu cơ x x x x
Sx hóa chất vô cơ x x x
Sx phân bón x x x x
Sx chất tẩy rửa x
Sx sơn, bột màu x x x x x x x x x x
Sx thuốc nhuộm x x x x x
Mạ kim loại x x x x x x x
Sx pin, acquy x x x x x
Sx diêm x
Sx vật liệu nổ x x x
(Nguồn trích dẫn: Trịnh Thị Thanh, 1993)[13]
đội ngũ quản lý, công nhân trong nhà máy.
Năm 2009, các tác giả Nguyễn Văn Khánh, Phạm Văn Hiệp khi nghiên cứu sự tích
lũy kim loại nặng Cadmium và chì của loài hến Corbicula sp. tại vùng cửa sông
thành phố Đà Nẵng. Với thực tế phát triển công nghiệp mạnh mẽ trong nhiều năm
trở lại đây tại Đà Nẵng thì nguy cơ ô nhiễm kim loại nặng của thủy vực này là rất
cao. Thực tế là từ phân tích ANOVA cho thấy hàm lương Cd tại khu vực sông Hàn:
2,66 ± 1,55 ppm, cao hơn và khác nhau có ý nghĩa (α = 0,05) so với khu vực cửa sông
Cu Đê: 1,41 ± 0,75 ppm [7]
Do cấu tạo địa chất, nhiều vùng ở nước ta nước ngầm bị nhiễm asen. Khoảng
13,5% dân số Việt Nam (10-15 triệu người) đang sử dụng nước ăn từ nước giếng
khoan, rất dễ bị nhiễm asen. Theo thống kê chưa đầy đủ, cả nước hiện có khoảng
hơn 1 triệu giếng khoan, trong đó nhiều giếng có nồng độ asen cao hơn từ 20-50 lần
nồng độ cho phép (0.01mg/l), ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ, tính mạng của cộng
17
đồng.Tại châu thổ sông Hồng, những vùng bị nhiễm nghiêm trọng nhất là phía Nam
Hà Nội, Hà Nam, Hà Tây, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình và Hải
Dương. Ở Đồng bằng sông Cửu Long, cũng phát hiện nhiều giếng khoan có nồng
lượng protein đo được cũng giảm.
Nghiên cứu sự phân bố và ảnh hưởng của kim loại nặng trong hồ Tây của tác
giả Lưu Lan Hương, Nguyễn Thị Thanh Nga và Bùi Thị Hoa – Trường Đại học
Khoa học Tự nhiên – ĐHQGHN đã cho kết quả như sau :
+ Hàm lượng các kim loại nặng phân bố trong các thành phần khác nhau của hệ
sinh thái hồ là khác nhau cao nhất trong trầm tích tiếp đến là trong các động vật
đáy, thực vật thủy sinh ngập nước, thực vật nổi, các loài cá là thấp nhất ở trong
nước.
+ Kim loại nặng có hàm lượng cao nhất trong các thàn phần của hồ là Fe, tiếp đó là
Mn, Zn, Cu, Pb, Cr, Ni, As và cuối cùng là Cd và Hg.
+ Nhìn chung hàm lượng của các kim loại nặng trong nước hồ Tây chưa cao hơn so
với tiêu chuẩn nước mặt Việt Nam. Nhưng hàm lượng của hầu hết các kim loại
nặng trong trầm tích và trong thực vật thủy sinh đều cao hơn tiêu chuẩn cho phép
của Việt Nam và nước ngoài. Một số kim loại nằng Hg, As trong trầm tích ở một
vài vị trí đã ở mức gây ảnh hưởng xầu.
+ Hàm lượng Pb, As trong động vật đáy (trùng trục, trai, ốc vặn…) là cao so với
tiêu chuẩn của Việt Nam và nước ngoài. Còn hàm lượng của các kim loại khác
trong động vật thủy sinh đều nằm trong phạm vi cho phép.
+ Tuy nhiên hai kim loại có độc tính cao là Pb và Cd đều có hàm lượng khá cao
trong các loài cá của hồ Tây, vì vậy khi người dân nơi đây sử dụng cá làm thức ăn
cần hết sức cẩn trọng.
19
CHƯƠNG 2. ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm nghiên cứu
2.1.1. Hồ Trúc Bạch, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
Hồ Trúc Bạch là một hồ thuộc quận Ba Đình, thủ đô Hà Nội, Việt Nam,
nguyên là một phần hồ Tây. Hồ rộng 242191.278 m
2
(hơn 24,2 ha) và có tọa độ địa
lý là: vĩ tuyến: 21
- Đợt 4: 02- 03/ 03 /2011
2.3. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của để tài là 5 kim loại nặng: Cu, Cd, Pb, Hg, As trong một
số nhóm sinh vật ở 2 hồ Trúc Bạch,Thanh Nhàn.
22
- Các sinh vật nghiên cứu là cá rô phi (Oreochomic mossambicus), cá trôi Cá Trôi
Ấn Độ (Labeo rohita), cá mè trắng (Hypophthalmichthys molitrix), động vật nổi
(zooplankton), thực vật nổi (Phytoplankton),ốc bươu vàng (Pomacea canaliculata),
ốc vặn (họ Thiaridae)
2.4. Phương pháp nghiên cứu.
2.4.1. Phương pháp hồi cứu.
Thu thập, phân tích và xử lý các thông tin có liên quan, như thông tin về các
kim loại nặng trong nước, trầm tích, sinh vật của các công trình đã công bố trong
nước và nước ngoài, các thông tin kinh tế, xã hội, sản xuất của khu vực quanh 2 hồ
nghiên cứu.
2.4.2. Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa
- Mẫu nước được lấy ở 3 tầng: Tầng mặt, tầng giữa, tầng đáy, trộn theo tỉ lệ bằng
nhau, cố định bằng axit HNO
3
đậm đặc, đựng trong chai nhựa PE.
- Mẫu bùn được lấy ở tầng đáy, lấy ở các điểm nghiên cứu sau đó trộn đều, đựng
trong túi nilon chuyên dụng.
- Mẫu sinh vật: Được thu bằng các dụng cụ thu mẫu.
- Các chai lấy mẫu nước hồ được rửa sạch, rửa lại bằng nước của điểm thu mẫu và
được dán nhãn ghi đầy đủ các chi tiết về địa điểm, ngày giờ thu mẫu.
2.4.3. Bảo quản mẫu
- Mẫu nước: Mẫu nước sau khi thu từ hồ vể và bảo quản ở điều kiện như trong
bảng sau:
Bảng 2.3. Phương pháp bảo quản mẫu nước
STT Thông số
Mẫu nước được pha với tỉ lệ thích hợp, cho MnSO
4
, Azide, để lắng kết tủa,
cho tiếp H
2
SO
4
cho tan kết tủa, sau đó cho thêm hồ tinh bột rồi đem chuẩn độ bằng
Na
2
SO
3
0,025N.
* Công thức tính:
BOD5 = (DO
1
– DO
5
)*hệ số pha loãng
Trong đó:
+ DO
1
là DO của mẫu pha loãng đo ngay sau khi thu mẫu (mg/l)
+ DO
5
: DO của mẫu pha loãng sau 5 ngày (mg/l)
b. Xác định hàm lượng COD (nhu cầu oxi hóa hóa học) bằng phương pháp
Kali Pemanganat (KMnO
4
)
o
C.
* Công thức tính:
COD = (V
1
– V
2
) x 8
Trong đó:
+ V
1
: Lượng dung dịch KMnO
4
0,01N tiêu tốn để chuẩn mẫu nước thử (ml)
+ V
2
: Lượng dung dịch KMnO
4
0,01N tiêu tốn để chuẩn mẫu nước cất (ml)
+ 8 : Đương lượng gam của oxi (g)
c. Xác định các chỉ số thủy lý hóa và nồng độ NH
4
+
- Các chỉ số thủy lý hóa pH, nhiệt độ, DO được đo bằng máy TOA.
- Nồng độ NH
4
+
trong nước được xác định bằng bộ Test SERA của Đức.
2.4.3.2. Phân tích hàm lượng kim loại nặng