1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------------------
HOÀNG THỊ HOA
Ngành
: Khoa học môi trƣờng
Mã số
: 60.44.03.01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC MÔI TRƢỜNG
Thái Nguyên – 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
/>
2
Công trình đƣợc hoàn thành tại: Trƣờng Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Phan Thị Thu Hằng
Phản biện 1: PGS. TS. Đặng Văn Minh
Phản biện 2: PGS. TS. Nguyễn Khắc Thái Sơn
Luận văn đƣợc bảo vệ trƣớc Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại:
Trƣờng Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên
nƣớc, vào đất, vào thực phẩm rồi xâm nhập vào cơ thể con ngƣời qua đƣờng
ăn uống, hít thở dẫn đến sự nhiễm độc.
Kim loại nặng là các kim loại thƣờng có độc tính đối với môi trƣờng và
hệ sinh thái. Những kim loại nặng nguy hiểm về phƣơng diện gây ô nhiễm
môi trƣờng thƣờng đƣợc biết đến nhƣ: Zn, Cu, Pb, Cd, Hg, Ni, As, Cr,… Các
kim loại này có nguồn gốc từ quá trình sản xuất công nghiệp hoá chất, luyện
kim, hoạt động khai thác mỏ, các hoá chất dùng trong nông nghiệp, giao
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
/>
4
thông vận tải, y tế…
Kim loại nặng có thể xâm nhập vào cơ thể con ngƣời chủ yếu thông qua
đƣờng tiêu hóa và hô hấp. Tuy nhiên, cùng với mức độ phát triển của công
nghiệp và sự đô thị hoá, hiện nay môi trƣờng sống của chúng ta bị ô nhiễm
trầm trọng. Các nguồn thải kim loại nặng từ các khu công nghiệp vào không
khí, vào nƣớc, vào đất, vào thực phẩm rồi xâm nhập vào cơ thể con ngƣời qua
đƣờng ăn uống, hít thở dẫn đến sự nhiễm độc. Do đó việc nghiên cứu và phân
tích các kim loại nặng trong môi trƣờng sống, trong thực phẩm và tác động
của chúng tới cơ thể con ngƣời nhằm đề ra các biện pháp tối ƣu bảo vệ và
chăm sóc sức khoẻ cộng đồng là một việc vô cùng cần thiết. Nhu cầu về thực
phẩm sạch, đảm bảo sức khỏe đã trở thành nhu cầu thiết yếu, cấp bách và
đƣợc toàn xã hội quan tâm.
Các loài động vật nhuyễn thể nhƣ: trai, ốc, nghêu, sò…cũng là một trong
những nguồn thực phẩm thiết yếu và đƣợc ƣa chuộng ở nƣớc ta. Loài nhuyễn
thể hai mảnh vỏ có vai trò làm sạch môi trƣờng, có giá trị kinh tế và giá trị dinh
dƣỡng cao song chúng có khả năng đặc biệt trong việc tích tụ những chất gây ô
nhiễm nhất định trong mô của chúng vì những đặc tính vốn có nhƣ: lấy thức ăn
theo kiểu lọc nƣớc; có khả năng tích lũy một hàm lƣợng lớn các kim loại nặng
các nghiên cứu này chƣa nhiều (Hoàng Thu Phƣơng, 2011) [14].
Việc phân tích hàm lƣợng kim loại nặng trong mô của các loài nhuyễn
thể, ta có thể đánh giá đƣợc chất lƣợng môi trƣờng chúng sinh sống. Từ đó,
việc đánh giá các chất ô nhiễm này dễ dàng hơn nhiều so với các phƣơng
pháp phân tích lý hóa. Nhiều kim loại nặng đƣợc đánh giá là độc ở dạng vết
và có thể gây ngộ độc tức thời hoặc ảnh hƣởng lâu dài đến sinh vật nhƣ Pb,
Cd, As,… Một số kim loại khác với hàm lƣợng nhỏ là nguyên tố vi lƣợng có
lợi nhƣng với hàm lƣợng lớn cũng có khả năng gây hại, nhƣ Cu, Zn. Đánh giá
hàm lƣợng kim loại nặng trong thực phẩm nói chung và trong các loài nhuyễn
thể nói riêng là yêu cầu cần thiết cho việc sử dụng thực phẩm an toàn.
Thủ đô Hà Nội là một trong những trung tâm phát triển về kinh tế xã hội
lớn nhất nƣớc ta (cùng với TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng...). Hà nội
là thành phố của ao, hồ, sông ngòi... với khoảng 20 hồ trong khu vực nội
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
/>
6
thành có diện tích mặt nƣớc khoảng 765 ha.
Ao, hồ, sông ngòi là nơi điều hòa khí hậu và là nét đẹp đặc trƣng của
thành phố này, nhƣng hiện nay chất lƣợng nƣớc ở hầu hết các hồ nơi đây đang
trong tình trạng ô nhiễm nặng do phải chứa đựng một lƣợng lớn nƣớc thải từ
khu dân cƣ, từ các nhà máy, xí nghiệp (Bùi Nguyên Phổ, 2012)[16].
Xuất phát từ thực tế đó việc thực hiện đề tài: “Đánh giá hàm lượng kim
loại nặng trong nước, trầm tích và khả năng tích lũy trong động vật nhuyễn
thể hai mảnh vỏ tại một số sông, hồ ở khu vực ở Hà Nội” là hết sức cần thiết.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Cung cấp số liệu đánh giá tác động của nguồn nƣớc và trầm tích tại khu
vực nghiên cứu lên các Nhuyễn thể hai mảnh vỏ. Góp phần tìm hiểu khả năng
một số kim loại nhƣ: As, Hg, Cu, Cr, Cd, Co, Pb, Zn, Sb, Mn…Những kim
loại nặng nguy hiểm nhất về phƣơng diện gây ô nhiễm môi trƣờng nƣớc là
Zn, Cu, Pb, Cd, Hg, Ni, As và Cr. Trong số những kim loại này có Cu, Ni, Cr
và Zn là những nguyên tố vi lƣợng cần thiết cho sinh vật thủy sinh, chúng chỉ
gây độc ở nồng độ cao [11], [12].
Nguồn phát sinh kim loại nặng:
Kim loại nặng hiện diện trong tự nhiên đều có trong đất và nƣớc, hàm
lƣợng của chúng thƣờng tăng cao do tác động của con ngƣời. Các kim loại do
hoạt động của con ngƣời nhƣ As, Cd, Cu, Ni và Zn thải ra ƣớc tính là nhiều
hơn so với nguồn kim loại có trong tự nhiên, đặc biệt đối với chì 17 lần
(Kabata-Pendias & Adriano, 1995) [30]. Nguồn kim loại nặng đi vào đất và
nƣớc do tác động của con ngƣời bằng các con đƣờng chủ yếu nhƣ bón phân,
bã bùn cống và thuốc bảo vệ thực vật và các con đƣờng phụ nhƣ khai khoáng
và kỹ nghệ hay lắng đọng từ không khí (Lê Văn Khoa, 1995) [8].
- Nguồn tự nhiên:
Kim loại nặng phát hiện ở mọi nơi, trong đá, đất và xâm nhập vào thủy
vực qua các quá trình tự nhiên, phong hóa, xói mòn, rửa trôi.
- Nguồn nhân tạo:
Sự gia tăng tích lũy kim loại trong môi trƣờng không chỉ từ các nguồn tự
nhiên, mà còn từ hoạt động công nghiệp của con ngƣời. Việc đốt cháy các
nhiên liệu hóa thạch làm giải phóng khoảng 20 loại kim loại độc hại quan trọng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
/>
8
vào môi trƣờng bao gồm asen, beri, cadimi, chì, và niken (Goyer, 1996) [29].
Các sản phẩm công nghiệp và việc sử dụng các vật liệu công nghiệp có
thể chứa hàm lƣợng cao các nguyên tố kim loại độc hại. Ví dụ, thủy ngân đƣợc
sử dụng để sản xuất clo và soda trong công nghiệp sản xuất giấy và bột giấy,
sẽ tăng dần và sự ngộ độc sẽ xuất hiện (Foulkes, 2000).
Do vậy ngƣời ta bị ngộ độc không những với hàm lƣợng cao của kim loại
nặng mà cả khi với hàm lƣợng thấp và thời gian kéo dài sẽ đạt đến hàm lƣợng
gây độc. Tính độc hại của các kim loại nặng đƣợc thể hiện nhƣ sau [27]:
Một số kim loại nặng có thể bị chuyển từ độc thấp sang dạng độc cao
hơn trong một vài điều kiện môi trƣờng, ví dụ thủy ngân.
Sự tích tụ và khuếch đại sinh học của các kim loại này qua chuổi thức
ăn có thể làm tổn hại các hoạt động sinh lý bình thƣờng và sau cùng gây nguy
hiểm cho sức khỏe của con ngƣời.
Tính độc của các nguyên tố này có thể ở một nồng độ rất thấp khoảng
0.1-10 mg/L
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ trích giới thiệu độc tính của một
số kim loại thuộc chƣơng trình nghiên cứu đánh giá môi trƣờng của EU
(2001) cũng nhƣ của nhiều quốc gia khác trên thế giới.
- Độc tính của Mangan (Mn):
Mn là kim loại có trong tự nhiên, mọi ngƣời đều bị nhiễm hàm lƣợng
nhỏ Mn có trong không khí, thức ăn, nƣớc uống. Mn là kim loại vết cần thiết
cho sức khỏe con ngƣời. Mn có thể tìm thấy trong một số loại thức ăn, ngũ
cốc, trong một số loài thực vật nhƣ cây chè. Ngƣời bị nhiễm Mn trong một
thời gian dài thƣờng mắc các bệnh thần kinh, rối loạn vận động, nhiễm độc
mức hàm lƣợng cao kim loại này sẽ gây các bệnh về hô hấp.
- Độc tính của Đồng (Cu):
Đồng đƣợc dùng nhiều trong sơn chống thấm nƣớc trên tàu thuyền, các
thiết bị điện tử, ống nƣớc. Nƣớc thải sinh hoạt là nguồn chính đƣa Cu vào
nƣớc. Cu tồn tại ở hai dạng là: dạng hòa tan và các hạt nhỏ (Phạm Luận,
2004)[9]. Đồng cần thiết cho chức năng hô hấp của nhiều sinh vật sống và các
chức năng enzym khác. Cu đƣợc lƣu giữ trong gan tủy sống của ngƣời. Cu
với hàm lƣợng quá cao sẽ gây hƣ hại gan, thận, hạ huyết áp, hôn mê, đau dạ
dày, thậm chí tử vong. Trai, ốc thƣờng tích tụ lƣợng lớn Đồng trong cơ thể
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất, thuốc, nƣớc uống có hàm lƣợng As cao…
Đường hô hấp: As lắng đọng trong không khí gây tác hại trực tiếp cho
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
/>
11
con ngƣời qua đƣờng hô hấp.
Ngoài ra, Asen còn xâm nhập vào cơ thể ngƣời qua tiếp xúc với da. Asen
ở các trạng thái tồn tại khác nhau thì cũng khác nhau về độc tính đối với sức
khỏe con ngƣời. Hàm lƣợng Asen 0.01 mg/kg có thể gây chết ngƣời. Các hợp
chất As(III) có độc tính mạnh nhất (thƣờng gọi là thạch tín). Khi xâm nhập
vào cơ thể As(III) sẽ kết hợp với các nhóm - SH của Enzim trong ngƣời làm
mất hoạt tính của chúng (Phạm Kim Phƣơng và cộng sự, 2008) [15].
- Độc tính của Cadimi (Cd)
Nguồn ô nhiễm Cd xuất phát từ ô nhiễm không khí, khai thác mỏ, pin
Ni- Cd, nhà máy luyện kim [15]. Nguồn chính thải Cd vào nƣớc là các điện
cực dùng trên tàu thuyền. Cd tồn tại chủ yếu dƣới dạng hòa tan trong nƣớc.
Cadmi là nguyên tố rất độc. Giới hạn tối đa cho phép của cadmi (Carles
Sanchiz và cs, 2000) [29].
+ Trong nước
: 0,01 mg/l (hay 10ppb),
+ Trong không khí : 0,001 mg/m3,
+ Trong thực phẩm : 0,001- 0,5 mg/kg.
Trong tự nhiên cadmi thƣờng đƣợc tìm thấy trong các khoáng vật có
chứa kẽm. Nhiễm độc cadmi gây nên chứng bệnh giòn xƣơng. Ở nồng độ cao,
cadmi gây đau thận, thiếu máu và phá huỷ tuỷ xƣơng.
Phần lớn cadimi thâm nhập vào cơ thể con ngƣời đƣợc giữ lại ở thận
Khi hàm lƣợng Pb trong máu khoảng 0,3 ppm thì nó ngăn cản quá trình
sử dụng oxi để oxi hóa glucoza tạo ra năng lƣợng cho quá trình sống, do đó
làm cho cơ thể mệt mỏi. Ở nồng độ cao hơn (>0,8 ppm) có thể gây nên thiếu
máu do thiếu hemoglobin. Hàm lƣợng chì trong máu nằm trong khoảng (>0,50,8 ppm) gây ra sự rối loạn chức năng của thận và phá hủy não. Xƣơng là nơi
tàng trữ, tích tụ chì trong cơ thể, ở đó chì tƣơng tác với photphat trong xƣơng
rồi truyền vào các mô mềm của cơ thể và thể hiện độc tính của nó [37].
Vì thế tốt nhất là tránh những nơi có Pb ở bất kì dạng nào, đồng thời
trong dinh dƣỡng chú ý dùng loại thực phẩm có hàm lƣợng Pb dƣới quy định
cho phép và có đủ Ca và Mg để hạn chế tác động của Pb. Vì dù chúng ta
không muốn thì cũng luôn có một lƣợng Pb rất nhỏ nhất định vẫn thâm nhập
vào cơ thể của chúng ta qua đƣờng ăn uống và hít thở. Vì thế nên uống sữa,
ăn nhiều rau xanh, các loại thực phẩm và đồ uống giàu vitamin B1 và vitamin
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
/>
13
C thì có lợi cho việc chống lại và hạn chế ảnh hƣởng của Pb đối với cơ thể.
1.2. Tình hình ô nhiễm kim loại nặng trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Tình hình ô nhiễm kim loại nặng trên thế giới
Các khu vực khai thác mỏ, khoáng sản, các khu công nghiệp và các
thành phố lớn là những nguồn phát thải ra một lƣợng lớn KLN, chúng có khả
năng tồn tại trong môi trƣờng, vấn đề không đáng lo ngại nhiều nếu chúng
không xâm nhập đƣợc vào cơ thể sinh vật và hệ sinh thái. Điều đáng quan tâm
là KLN có tính bền vững khó phân hủy, có khả năng xâm nhập và tích lũy đến
mức độ gây độc cho con ngƣời, sinh vật và hệ sinh thái.
Từ mức độ nhiễm chì trong đất trồng đến các độc tố trong nƣớc và
không khí bị nhiễm phóng xạ, Học viện Blacksmith đã đƣa ra các khu vực
"thảm họa sinh thái học’’ của thế giới.
Năm 2000, vụ tai nạn hầm mỏ xảy ra tai công ty Aurul (Rumani) đã thải
sinh ra tại đây. Đó có thể là nguyên nhân dẫn tới việc các em nhỏ ở Thiên
Anh có chỉ số IQ thấp. Qua kiểm tra, lúa mỳ trồng ở Thiên Anh chứa lƣợng
chì cao gấp 24 lần chuẩn của Trung Quốc.
Kabwe, Zambia khi các mỏ chì lớn đƣợc phát hiện gần Kabwe năm
1902, Zambia là một thuộc địa của Anh, và có rất ít quan tâm tới ảnh hƣởng
của kim loại độc hại với ngƣời dân nơi đây. Đáng buồn thay, tình trạng này tới
nay hầu nhƣ không đƣợc cải thiện. Và cho dù công việc khai thác, chế biến chì
không còn hoạt động nhƣng mức ô nhiễm chì ở Kabwe là rất lớn. Tính trung
bình, mức nhiễm chì ở trẻ em cao hơn chuẩn cho phép của Cơ quan Bảo vệ môi
trƣờng Mỹ từ 5-10 lần, và có thể thậm chí còn cao hơn mức gây tử vong. Song
cũng có một tia hy vọng khi Ngân hàng Thế giới gần đây đã thông báo một dự
án làm sạch môi trƣờng trị giá 40 triệu USD cho thành phố.
Và ở Châu Á là một trong những nơi có tình trạng ô nhiễm KLN cao
trên trên thế giới, trong đó đặt biệt là Trung Quốc với hơn 10% đất bị ô nhiễm
Pb, tại Thái Lan theo Viện Quốc Tế quản lý nƣớc thì 154 ruộng lúa thuộc tỉnh
Tak đã nhiễm Pb cao gấp 94 lần so với tiêu chuẩn cho phép. Tuy vậy tại các
nƣớc phát triển vẩn phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm mà các ngành công
nghiệp khác gây ra (Nguyễn Văn Khánh và cộng sự, 2009)[7], (Munir Ziya
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
/>
15
Lugal Goksu và cộng sự, 2003) [32].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
/>
16
/>
17
Tình trạng ô nhiễm Pb cũng gia tăng nhanh chóng trong môi trƣờng, mức
độ ô nhiễm Pb nghiêm trọng nhất vẫn là các thành phố lớn, các khu dân cƣ, khu
công nghiệp. Kết quả phân tích cho thấy hàm lƣợng Pb ở Sông Thị Vải vƣợt
tiêu chuẩn cho phép (TCCP) tới 4 - 5 lần.
70 - 80%/năm. Lƣợng rác thải còn lại tồn đọng ở
các nƣớc ao hồ, ngõ
(Trần Thị Phƣơng, 2012) [13].
Tại Thành phố Đà Nẵng, với 6 khu công nghiệp và 300 doanh nghiệp
đang hoạt động, có tốc độ phát triển công nghiệp nhanh nhƣng đi kèm với nó
là dấu hiệu ô nhiễm môi trƣờng ngày một gia tăng. Khu vực hạ lƣu sông Cu
Đê nơi nhận nguồn nƣớc thải của khu công nghiệp Hòa Khánh và KCN Liên
Chiểu có hàm lƣợng KLN vƣợt từ 1 - 10 lần Tiêu chuẩn cho phép (Hoàng
Thu Phƣơng, 2011) [6].
Các dẫn liệu trên cho thấy tình hình ô nhiễm kim loại nặng trên thế giới
và Việt Nam đã và đang gây ảnh hƣởng rất lớn đến sức khỏe và chất lƣợng
cuộc sống con ngƣời. Nghiên cứu công cụ nhằm nâng cao hiệu quả đánh giá ô
nhiễm kim loại nặng là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn, nhằm quan trắc và kiểm
soát các ảnh hƣởng của nó đến đời sống con ngƣời và môi trƣờng.
1.3. Tình hình nghiên cứu sự tích lũy kim loại nặng trong động vật hai
mảnh vỏ trên thế giới và Việt Nam
1.3.1. Vài nét về loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ
Bivalvia theo tiếng La-tinh có nghĩa là hai mảnh vỏ, một số tác giả sử
dụng tên Pelecypoda theo tiếng Hy Lạp có nghĩa là chân hình rìu. Đặc điểm
nhận dạng là có hai mảnh vỏ và cơ thể dẹp bên. Bivalvia là lớp lớn thứ hai
trong ngành Mollusca, với hơn 7.000 loài bao gồm Trai(clam), Điệp (scallop),
Theo một số tác giả thì loài nhuyễn thể có hai vỏ cứng nhƣ trai, trùng trục
hay ốc là các loài thích hợp dùng làm chỉ thị sinh học đối với lƣợng vết các kim
loại. Chúng có khả năng tích tụ các kim loại lƣợng vết nhƣ Pb, Cd, Hg… với
hàm lƣợng lớn. Trai, ốc có thể tích tụ Cd trong mô của chúng ở mức hàm
lƣợng cao hơn gấp 100.000 lần mức hàm lƣợng tìm thấy trong môi trƣờng
xung quanh (Trần Thị Phƣơng, 2012) [13].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
/>
19
Việc nghiên cứu sử dụng các sinh vật tích tụ để đánh giá ô nhiễm kim loại
nặng ở trong nƣớc là vấn đề có tính thực tiễn cao nhằm xây dựng chỉ thị sinh
học riêng phù hợp với điều kiện nƣớc ta, hạn chế những tác động xấu của kim
loại nặng tới môi trƣờng và sức khỏe cộng đồng.
Mặt khác, các loài động vật nhuyễn thể hai mảnh vỏ nhƣ trai, hến, trùng
trục .. cũng là một trong những nguồn thực phẩm thiết yếu và đƣợc ƣu chuộng
ở nƣớc ta. Tuy nhiên trong những năm gần đây một số nghiên cứu đã chỉ ra
rằng các loài động vật này có thể tích tụ một số chất ô nhiễm đặc biệt là các
kim loại nặng trong cơ thể chúng với hàm lƣợng cao hơn nhiều lần so với
hàm lƣợng ở bên ngoài (Trần Thị Phƣơng, 2012) [13].
1.3.2. Tình hình nghiên cứu sự tích lũy kim loại nặng trong động vật hai
mảnh vỏ trên thế giới
Loài hai mảnh vỏ là một thành phần quan trọng của hệ sinh vật đáy có
đời sống tĩnh, phân bố rộng, kích thƣớc tƣơng đối lớn, việc lấy mẫu dễ dàng.
Các KLN tích lũy trong bộ phận cơ thể đƣợc hấp thụ từ bùn đáy, nƣớc và thức
ăn, nên chúng có thể phản ánh đƣợc mức độ và sự tác động của ô nhiễm kim
loại nặng đến môi trƣờng và hệ sinh thái.
Từ những năm 40 của thế kỷ XX, đã có những nghiên cứu về sự tích lũy
của KLN trong mô của các loài động vật thân mềm. Sự tập trung cao của hàm
phụ thuộc vào đặc điểm dinh thái riêng của từng loài, cơ chế lấy thức ăn, dạng
tồn tại của kim loại, kích thƣớc của loài nhuyễn thể (Munir Ziya Lugal Goksu
và cộng sự, 2003) [32].
Động vật hai mảnh vỏ thƣờng đƣợc sử dụng để đánh giá ô nhiễm kim loại
nặng vì chúng có nhiều ƣu điểm nhƣ phân bố rộng, số lƣợng nhiều, dễ định
dạng, tích tụ cao các chất ô nhiễm, có đời sống tĩnh tại nên dễ thu mẫu. Những
loài động vật hai mảnh vỏ đã đƣợc sử dụng rộng rãi trong nhiều chƣơng trình
quan trắc ô nhiễm trên thế giới (Nguyễn Văn Khánh và cộng sự, 2009) [7].
1.3.3. Tình hình nghiên cứu sự tích lũy kim loại nặng trong động vật hai
mảnh vỏ ở Việt Nam
Vấn đề nghiên cứu về sinh vật tích tụ còn khá mới mẻ ở Việt Nam. Theo
nghiên cứu của Đào Việt Hà (2002), hàm lƣợng KLN trong Vẹm xanh (Perna
viridis) tại Đầm Nha Phu (Khánh Hòa) là: từ 0,003 - 0,21 ug/g (tính theo khối
lƣợng tƣơi) đối với Cd; từ 0,14 - 1,114 ug/g đối với Pb; và từ 0,54 - 1,81 ug/g
đối với Cu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
/>
21
Nghiên cứu của Đặng Thúy Bình và cộng sự nghiên cứu tại đảo Điệp Sơn
(Khánh Hòa) cho thấy hàm lƣợng As tích lũy trong Vẹm xanh (Perna viridis)
là 1,76 ug/g; so sánh với tiêu chuẩn của Bộ Y tế thì hàm lƣợng As trong Vẹm
xanh đã vƣợt quá 1,76 lần. Theo nghiên cứu của Lê Thị Mùi (2007) về sự tích
tụ chì và đồng của một số loài nhuyễn thể tại một số điểm ven biển Đà Nẵng
cho thấy hàm lƣợng trung bình trong khoảng 1,13 - 2,12 ug/g đối với chì và
7,15 - 16,52 ug/g đối với đồng.
Một nghiên cứu khác của Đoàn Thị Thắm nghiên cứu về sự tích lũy kẽm
trong một số loài vẹm, nghêu, sò tại một số điểm ven biển Đà Nẵng cho thấy ở
loài Vẹm xanh (Perna viridis) có hàm lƣợng kẽm là 12,94 - 14,57 ug/g; ở loài
cơ thể các loài nhuyễn thể, mà chƣa có sự đánh giá sự ảnh hƣởng của thời gian
sống, môi trƣờng đến khả năng tích lũy của các loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ.
Việc phân tích tƣơng quan để đánh giá sự ảnh hƣởng của các yếu tố này đến
khả năng tích lũy kim loại nặng là vấn đề cần thiết vì nó có ý nghĩa lớn đối với
khả năng sử dụng loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ để đánh giá ô nhiễm kim loại
nặng (Lê Thị Mùi, 2008) [10], (Ngô Văn Tứ và cộng sự, 2009) [22], (Đoàn Thị
Thắm, 2008) [19].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
/>
23
CHƢƠNG 2
ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng, phạm vi và nội dung nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu là: nƣớc, trầm tích và các mẫu nhuyễn thể (trai,
hến) đƣợc lấy khu vực nghiên cứu.
- Phạm vi nghiên cứu: tại Hồ Tây, Hồ Linh Đàm và một số sông thoát
nƣớc thuộc lƣu vực sông Nhuệ - Đáy trong nội thành Hà Nội.
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9/2013 đến tháng 9/2014.
2.1.2. Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng khu vực nghiên cứu
+ Tìm hiểu điều kiện tự nhiên và xã hội của khu vực nghiên cứu;
+ Các áp lực tới chất lƣợng nƣớc sông, hồ khu vực nghiên cứu
- Đặc điểm thủy lý hóa các sông, hồ nghiên cứu
Phân tích một số tính chất lý, hóa học trong nƣớc các sông, hồ nghiên
cứu: pH, nhiệt độ, DO, BOD5, COD, NH4+
- Đánh giá mức độ ô nhiễm kim loại nặng trong nước và trầm tích tại
Phƣơng pháp khảo sát thực địa là rất cần thiết giúp ngƣời nghiên cứu có
cái nhìn tổng quát và sơ bộ về khu vực nghiên cứu, đồng thời kiểm tra lại tính
chính xác của những tài liệu, số liệu đã thu thập từ đó đƣa ra nhận xét chung
về hiện trạng môi trƣờng của vùng nghiên cứu.
*/ Phương pháp lấy mẫu
- Mẫu nƣớc mặt và mẫu trầm tích đƣợc lấy tại Hồ Tây, Hồ Linh Đàm, và
các sông thoát nƣớc thuộc lƣu vực sông Nhuệ - Đáy trong nội thành Hà Nội. Tại
mỗi khu vực nghiên cứu lấy 5 mẫu nƣớc, 5 mẫu trầm tích tại 5 vị trí khác nhau.
Mẫu đƣợc lấy vào 2 đợt: 09/2013 và tháng 3/2014, tổng số 15 mẫu nƣớc,
15 mẫu trầm tích/đợt lấy mẫu.
- Lấy mẫu nhuyễn thể hai mảnh vỏ tại Hồ Tây, Hồ Linh Đàm, các sông
thoát nƣớc thuộc lƣu vực sông Nhuệ - Đáy trong nội thành Hà Nội.
- Mẫu nhuyễn thể hai mảnh vỏ đƣợc lấy cùng vị trí với lấy mẫu nƣớc,
trầm tích tại các điểm nghiên cứu; tổng số 15 mẫu/đợt x 2 đợt = 30 mẫu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
/>
25
Bảng 2.1. Danh sách mẫu nƣớc, trầm tích, mẫu nhuyễn thể
Ký hiệu
mẫu
TT
trầm
tích,
nƣớc
1. Hồ Tây
1
Trai
ĐT 1-2
ĐT 2-1
ĐT 3-1
ĐT 3-2
ĐT 4-1
Hến
Hến
Trai
Trai
Trai
ĐT 4-2
ĐT 5-1
ĐT 5-2
Hến
Hến
Trai
Địa điểm
Kinh độ
Vĩ độ
52 Nhật Triều, Nhật
105o49’39.1
20o57’55.2
105o49’55.5
20o57’56.2
105o50’11.8
20o57’56.3
105o50’11.8
20o57’56.5
105o50’02.1
20o57’55.2
1050 48.5'
210 02.5'
105049.3’
210 00.0’
105049.7'
105050.2'
ĐT 8-2
Hến
Đoạn giữa phố Linh
ĐT 9-1
Trai
9
LĐ 4
Đƣờng, Hồ Linh
ĐT 9-2
Hến
Đàm
ĐT 10-1
Hến
Phía công viên cây
10
LĐ 5
xanh, bán đảo Hồ
ĐT 10-2
Trai
Linh Đàm
3. Lƣu vực sông Nhuệ - Đáy
ĐT 11-1
Trai
11
NĐ 1
Nghĩa Đô
ĐT 11-2 Hến, Trai
ĐT 12-1
Trai
12
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
/>