đánh giá hàm lượng kim loại nặng trong rau xà lách tại vùng trồng rau xã điện minh và điện nam trung huyện điện bàn – tỉnh quảng nam - Pdf 28



ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
PHẠM THỊ THÚY NGÀ

ĐÁNH GIÁ HÀM LƯỢNG KIM LOẠI NẶNG
TRONG RAU XÀ LÁCH TẠI VÙNG TRỒNG RAU
XÃ ĐIỆN MINH VÀ ĐIỆN NAM TRUNG
HUYỆN ĐIỆN BÀN – TỈNH QUẢNG NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đà Nẵng – Năm 2015ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi nhận được sự giúp đỡ tận tình
của thầy Đoạn Chí Cường thuộc khoa Sinh – Môi trường, trường Đại học Sư
phạm, Đại học Đà Nẵng. Cảm ơn thầy đã hướng dẫn và sửa chữa để tôi hoàn
thiện bài báo cáo khóa luận.
Ngoài ra, tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô trong khoa Sinh –
Môi trường trong quá trình nghiên cứu và của người dân hai thôn Điện Minh và
Điện Nam Trung trong quá trình khảo sát, lấy mẫu. Tôi cũng cảm ơn gia đình và
các bạn lớp 11CTM và 12CTM đã ủng hộ, giúp đỡ tôi trong những lúc khó khăn
để hoàn thành đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ đó!

Đà Nẵng, ngày 5 tháng 5 năm 2015

1.3.5. Cơ chế hấp thụ KLN của thực vật 16
1.4. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 18
1.4.1. Một số nghiên cứu về đánh giá hàm lượng KLN trong đất và trong rau
xà lách 18
1.4.2. Một số nghiên cứu về đánh giá rủi ro sức khỏe 22
1.5. CÁC LOẠI HÓA CHẤT BVTV THƯỜNG SỬ DỤNG TRONG SẢN
XUẤT RAU 24
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 25
2.1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 25
2.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 25
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.3.1. Phương pháp hồi cứu số liệu 26
2.3.2. Phương pháp thu mẫu, xử lý và bảo quản mẫu đất 26
2.3.3. Phương pháp thu mẫu, xử lý và bảo quản mẫu rau 28
2.3.4. Phương pháp vô cơ hóa mẫu và phân tích mẫu 28
2.3.5. Phương pháp xác định pH của đất 29
2.3.6. Phương pháp xác định độ dẫn điện (EC) 30
2.3.7. Phương pháp xác định chất hữu cơ (OM) 30
2.3.8. Phương pháp xử lý số liệu 31
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 34
3.1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÝ HÓA CỦA MÔI TRƯỜNG ĐẤT KHU
VỰC NGHIÊN CỨU 34
3.2. ĐÁNH GIÁ Ô NHIỄM KLN TRONG ĐẤT BẰNG CHỈ SỐ PLI 42
3.3. HÀM LƯỢNG KLN TRONG RAU XÀ LÁCH 45
3.3.1. Hàm lượng KLN trong phần ăn được (lá) 45


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Giá trị dinh dưỡng trong 100g rau xà lách 6
Bảng 1.2. Danh mục hóa chất bảo vệ thực vật sử dụng trong sản xuất rau 24
Bảng 2.1. Tọa độ khu vực lấy mẫu 27
Bảng 2.2. Phân loại đất ô nhiễm dựa vào CF 32
Bảng 3.1. Giá trị pH, EC, chất hữu cơ của đất và hàm lượng các KLN trong đất
35
Bảng 3.2. Một số nghiên cứu về hàm lượng KLN trong đất 38
Bảng 3.3. Hệ số CF và chỉ số PLI của các KLN vùng trồng rau xã Điện Minh 42
Bảng 3.4. Hệ số CF và chỉ số PLI của các KLN vùng trồng rau xã Điện Nam
Trung 43
Bảng 3.5. Một số nghiên cứu về sử dụng chỉ số PLI để đánh giá chất lượng đất 44
Bảng 3.6. Hàm lượng KLN trong phần ăn được (lá) (mg/kg) 46
Bảng 3.7. Một số nghiên cứu về hàm lượng KLN trong lá rau xà lách 47
Bảng 3.8. Hàm lượng KLN trong phần không ăn được (mg/kg) 52
Bảng 3.9. Hệ số vận chuyển KLN của rau xà lách 55
Bảng 3.10. Giá trị DIM và chỉ số HRI của các KLN đối với nam và nữ tại xã
Điện Minh và xã Điện Nam Trung 57
nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc và khu thị xã Vĩnh Điện sầm uất. Trong những
năm trở lại đây, kinh tế - xã hội Điện Bàn đã có những bước phát triển mạnh và
vững chắc. Cùng với sự phát triển của công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp địa
phương cũng có những thay đổi đáng kể, người dân chuyển đổi từ sản xuất cây
lúa kém hiệu quả sang trồng các loại rau xanh mang lại giá trị thu nhập ổn định,
trong đó phải kể đến hai vùng chuyên canh rau lớn nhất huyện là cánh đồng rau
tại xã Điện Minh và xã Điện Nam Trung. Rau xà lách là loại rau được người dân
tại hai vùng này trồng quanh năm, phục vụ nhu cầu tiêu thụ của địa phương và
cung cấp cho các khu vực lân cận.
Tuy nhiên, để đáp ứng năng suất và chất lượng sản phẩm cao của phương
thức nông nghiệp thâm canh này, cần phải sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ
thực vật thường xuyên với số lượng nhiều. KLN (Zn, Cu, Mn, Cd…) trong các
loại hóa chất này dễ dàng xâm nhập vào đất, được thực vật hấp thụ và thông qua
chuỗi thức ăn tích lũy trong cơ thể người gây nên nhiều tác hại nghiêm trọng.
Những năm gần đây, đánh giá hàm lượng KLN trong đất và rau tại Việt
Nam được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu nhưng còn rải rác và tập trung
chủ yếu tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, trong khi đó
chưa có nghiên cứu nào được thực hiện tại các vùng trồng rau của huyện Điện
Bàn. Đặc biệt đánh giá rủi ro sức khỏe do sử dụng rau bị nhiễm chất độc trong
nước hầu như chưa có nghiên cứu sâu rộng và cụ thể.
Vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá hiện trạng ô nhiễm
KLN trong đất cũng như trong rau xà lách được trồng tại vùng chuyên canh rau
xã Điện Minh và xã Điện Nam Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
2

2. Mục tiêu đề tài
2.1. Mục tiêu tổng quát

phương vẫn chiếm tỷ lệ cao và có nhiều thay đổi đáng kể, từ nông nghiệp chủ
yếu thâm canh lúa nước, hiện nay người dân đang chuyển sang trồng các loại rau
màu theo hướng chuyên canh mang lại thu nhập ổn định, góp phần vào việc cải
thiện sinh kế và đời sống hằng ngày (với diện tích trồng rau hằng năm năm 2013
là 3,273.47 hecta, chiếm 36.85% đất canh tác của toàn huyện), trong đó phải kể
đến hai cánh đồng rau tại xã Điện Minh và xã Điện Nam Trung.
Điện Minh là 1 trong 20 xã của huyện Điện Bàn, với diện tích tự nhiên là
7.79 km
2
, dân số là 11,140 người. Toàn xã có diện tích đất nông nghiệp là
429.62 ha, trong đó đất trồng lúa chiếm 303.77 ha, đất trồng cây hằng năm
chiếm 46.73 ha. Năm 2013, tổng diện tích đất trồng rau các loại của xã là 174.40
ha, với sản lượng thu được 1,635.85 tấn [2]. Cánh đồng rau của xã nằm ở thôn
Khúc Lũy, đây là thôn có một nhánh của sông Thu Bồn chảy qua, tạo nên bãi bồi
ven sông màu mỡ, thích hợp cho sản xuất nhiều loại rau. Tại đây có khoảng 350
hộ thì có đến 2/3 số hộ trong thôn sản xuất rau theo hướng chuyên canh, gồm các
loại rau như cải xanh, mồng tơi, xà lách, ớt, dền đỏ. 4
Hình 1.1. Bản đồ khu vực nghiên cứu
Điện Nam Trung cũng là 1 xã của Điện Bàn, với diện tích tự nhiên là 8.04
km
2
, dân số là 7,724 người. Toàn xã có diện tích đất nông nghiệp là 360.78 ha,
trong đó đất trồng lúa chiếm 141.98 ha, đất trồng cây hằng năm chiếm 118.52
ha. Tổng diện tích đất trồng rau các loại là 266 ha, với sản lượng thu được

cuống. Khác với các thứ xà lách khác là lá không cuộn bắp và lá mềm nhẵn, màu
xanh thẫm. Cụm hoa gồm nhiều đầu hoa hợp lại thành chuỳ kép, mỗi đầu có 10
– 24 hoa dạng lưỡi nhỏ màu vàng, ra hoa tháng 3 – 4. Quả bế hình trái xoan dẹp,
màu nâu, có mào lông trắng
1
.
Xà lách vốn xuất xứ từ châu Âu, được nhập vào trồng ở nước ta. Hiện ta
có các chủng như xà lách vàng, xà lách xanh, xà lách ngõ và xà lách lưỡi hổ. So
với các thứ rau cùng loài, xà lách có đầu lá cao hơn, xương lá thẳng và cứng hơn,
đồng thời có khả năng chịu nhiệt tốt hơn, có thể trồng sớm muộn được. 1
http://www.thaythuoccuaban.com/vithuoc/xalach.htm 6

Cây xà lách thích hợp trong khoảng nhiệt độ từ 15 – 20
o
C vào ban ngày
và đêm lạnh. Ánh sáng ngày từ 10 – 12 giờ rất thuộc lợi để đạt năng suất cao. Độ
ẩm thích hợp của đất từ 70 – 80%. Bộ rễ của xà lách yếu, lá mỏng do đó ưa trồng
trên đất giàu dinh dưỡng, tơi xốp, khả năng giữ nước tốt [15]. Xà lách không
chịu được hạn và đất chua, yêu cầu pH từ 5.8 – 6.5. Về nhu cầu dinh dưỡng
khoáng, xà lách thuộc loại rau hút ít chất dinh dưỡng. Sau khi trồng 28 – 40 ngày
có thể thu hoạch, do đó cần các loại phân dễ tiêu [16].
Bảng 1.1. Giá trị dinh dưỡng trong 100g rau xà lách
Thành phần
Dinh dưỡng
7

1.3. ĐẶC ĐIỂM TÍNH CHẤT MỘT SỐ KIM LOẠI NẶNG
1.3.1. Đặc điểm chung
KLN là những kim loại có khối lượng riêng lớn hơn 5 g/cm
3
. Chúng có
thể tồn tại trong khí quyển (dạng hơi), thuỷ quyển (các muối hoà tan), địa quyển
(dạng rắn không tan, khoáng, quặng ) và sinh quyển (trong cơ thể con người,
động thực vật). Cũng như nhiều nguyên tố khác, các KLN có thể cần thiết cho
sinh vật cây trồng hoặc động vật, hoặc không cần thiết. Những kim loại cần thiết
cho sinh vật nhưng chỉ có nghĩa “cần thiết ở một hàm lượng nhất định nào đó,
nếu ít hơn hoặc nhiều hơn thì lại gây tác động ngược lại”. Những kim loại không
cần thiết, khi vào cơ thể sinh vật ngay cả ở dạng vết (rất ít) cũng có thể gây tác
động độc hại. Với quá trình trao đổi chất, những kim loại này thường được xếp
loại độc.
KLN trong môi trường thường không bị phân huỷ sinh học mà tích tụ
trong sinh vật, tham gia chuyển hoá sinh học tạo thành các hợp chất độc hại hoặc
ít độc hại hơn. Chúng cũng có thể tích tụ trong hệ thống phi sinh học (không khí,
đất nước, trầm tích) và được chuyển hoá nhờ sự biến đổi của các yếu tố vật lý và
hoá học như nhiệt độ áp suất dòng chảy, oxy, nước
Ảnh hưởng sinh học và hoá học của KLN trong môi trường còn phụ thuộc
vào nhiều yếu tố như độ hoà tan của các muối, tính oxy khử, khả năng tạo phức
và khả năng tích tụ sinh học. Một số hợp chất kim loại có tính oxy hoá mạnh sẵn
sàng tham gia các phản ứng trao đổi tạo nên các chất mới. Các dẫn xuất của N, S
dễ kết hợp với các cacbua KLN (Zn
2+
, Co

ngay cả trong một thành phần môi trường cho nên hàm lượng KLN ở một số khu
vực địa phương thường rất có ý nghĩa trong quá trình tuần hoàn của kim loại.
Một số KLN tồn tại trong nước ở dạng hoà tan nhưng cũng có nhiều KLN lại tạo
thành trong nước ở dạng khó hoà tan và tham gia vào các chuyển hoá sinh học.
Trong đáy biển có nhiều mỏ quặng kim loại (ví dụ Mangan ) [6].
1.3.2. Các dạng của KLN trong đất
Khi nghiên cứu sự tích luỹ của KLN trong đất mà chỉ xem xét hàm lượng
tổng số thì chưa thể đánh giá đúng độ độc của chúng đối với cây trồng cũng như
chiều hướng biến đổi của chúng ở trong đất. Chúng có thể tồn tại ở nhiều dạng
khác nhau nhưng chủ yếu ở các dạng sau đây: dạng linh động, liên kết với hữu
cơ, liên kết với gốc cacbonat, với oxit sắt, với oxit mangan và dạng còn lại [8].
- Dạng linh động: các KLN được hấp phụ trên bề mặt các hạt đất (hạt sét, các
oxit sắt và oxit mangan bị solvat hoá, các axit mùn). Đây là dạng mà cây trồng
dễ hấp thu trong quá trình hút dinh dưỡng và nước vào cơ thể.
- Dạng liên kết cacbonat: các KLN tồn tại dưới dạng các muối cacbonat (CO
3
2-
)
trong đất. Sự tồn tại và liên kết của các dạng này phụ thuộc rất nhiều vào pH của
đất cũng như lượng cacbonat trong đất.
- Dạng liên kết oxit sắt, oxit mangan: dạng này dễ hình thành do các oxit sắt và
oxit mangan tồn tại trong đất như kết von đá ong, vật liệu gắn kết giữa các hạt
đất. Các oxit này là những chất loại bỏ rất tốt các KLN nhờ quá trình nhiệt động
học không ổn định dưới điều kiện khử.
- Dạng liên kết với chất hữu cơ: KLN liên kết với các chất hữu cơ khác nhau
trong đất như: sinh vật đất, sản phẩm phân giải của chất hữu cơ, chất hữu cơ bao
phủ bên ngoài hạt đất… Do đặc tính tạo phức và peptiz hoá của các chất hữu cơ
làm cho các kim loại tích luỹ lại trong đất (các chất hữu cơ bị oxy hoá, phân giải
dẫn đến sự giải phóng các KLN vào đất).
- Dạng còn lại: bao gồm các KLN nằm trong cấu trúc tinh thể của các khoáng vật

+ Vận chuyển trong quá trình tuyển quặng - vận chuyển theo gió lên trên đất
thải ra As, Cd, Hg, Pb. Khai khoáng - nhiễm bẩn do bụi thải ra As, Cd, Hg, Pb,
Sb, Se.
+ Công nghiệp sắt thép: Cu, Ni, Pb 10

- Do trầm tích từ không khí
+ Nguồn từ đô thị và khu công nghiệp, bao gồm chất thải, thiêu huỷ cây
trồng: Cd, Cu, Pb, Sn, Hg, V.
+ Công nghiệp luyện kim: As, Cd, Cr, Cu, Mn, Ni, Pb
+ Khói linh động: Mo, Pb cùng với Br, Cl và V
+ Đốt cháy xăng, dầu (bao gồm các trạm xăng): As, Pb, Sb, Se, U, Zn và Cd
- Kim loại từ rác thải
+ Bùn cặn: Cd, Cr, Cu, Hg, Mn, Mo, Ni, Pb, V, Zn
+ Rửa trôi từ đất: As, Cd, Fe, Pb
+ Phế thải: Cd, Cr, Cu, Pb, Zn
+ Đốt rác, bụi than: Cu và Pb
1.3.4. Đặc trưng và độc tính của một số KLN trong đất
Ngày nay, với tốc độ phát triển mạnh mẽ của công nghiệp và hình thành
nhiều thành phố lớn, vấn đề ô nhiễm ngày càng trở nên nghiêm trọng. Khói từ
nhà máy, từ hoạt động giao thông làm ô nhiễm bầu khí quyển. Nước thải từ các
nhà máy, khu dân cư làm ô nhiễm nguồn nước. Phế thải từ các khu công nghiệp,
các làng nghề và việc sử dụng phân bón hoá học, bùn thải, thuốc BVTV trong
nông nghiệp làm ô nhiễm nghiêm trọng nguồn tài nguyên đất. Tất cả những
nguồn gây ô nhiễm này đều là nguyên nhân của sự tích tụ quá mức hàm lượng
KLN trong đất và nước.
Với sự tích tụ quá mức lượng KLN trong môi trường đất đã làm cho thảm
thực vật trên mặt đất bị mất đi, nhiều loài không thể sống được ở những vùng đất

(PO
4
)
2

ít ảnh hưởng đến cây trồng.
Theo một số tác giả, phản ứng cacbonat hoá hoặc đất trung tính sự ô nhiễm Pb
được hạn chế. Sự tăng độ chua có thể làm tăng độ hoà tan của Pb và sự giảm
độ chua thường tăng sự tích luỹ của Pb do kết tủa. Chì bị hấp phụ trao đổi
chiếm tỷ lệ nhỏ (< 5%) hàm lượng Pb có trong đất. Chì cũng có khả năng kết
hợp với các chất hữu cơ hình thành các chất dễ bay hơi như (CH
3
)
4
Pb. Trong
đất chì có tính độc cao, hạn chế hoạt động của các vi sinh vật và tồn tại khá bền
vững dưới dạng phức hệ với các chất hữu cơ.
Pb trong đất có khả năng thay thế ion K
+
trong các phức hệ hấp phụ có
nguồn gốc hữu cơ hoặc khoáng sét. Khả năng hấp thu chì tăng dần theo thứ
tự sau: montmorillonit < axit humic < kaolinit < allophane < ôxyt Sắt. Khả
năng hấp phụ Pb tăng dần đến pH mà tại đó hình thành kết tủa Pb(OH)
2
, sự
hoà tan của Pb trong đất tăng lên do quá trình axit hoá trong đất chua [18].
Hàm lượng chì trung bình trong đất tự nhiên ở vào khoảng 10 – 40
µg/g, phụ thuộc vào hàm lượng chì trong đá mẹ. Đối với đất bị ô nhiễm, hàm
lượng chì cao hơn và phụ thuộc vào khoảng cách tới nguồn gây ô nhiễm. Chì
được phát thải từ các nguồn gây ô nhiễm có khuynh hướng tích lũy một cách tự

ngoài ra Cd có thể tồn tại dạng phức như CdCl
+
, CdHNO
3
+
, CdHCl
-
, CdCl
4
-
,
Cd(OH)
4
-
. Trong đất chua, Cd tồn tại ở dạng linh động hơn (Cd
2+
), tuy nhiên
nếu đất chứa nhiều Fe, Al, Mn, chất hữu cơ thì Cd lại bị chúng liên kết làm
giảm khả năng linh động của Cd. Trong đất trung tính hoặc kiềm do bón vôi, Cd
bị kết tủa dưới dạng CdCO
3
. Thông thường Cd tồn tại trong đất ở dạng hấp phụ
trao đổi chiếm 20 - 40%, dạng các hợp chất cacbonat là 20%, hyđrôxyt và
ôxyt là 20%, phần liên kết các hợp chất hữu cơ chiếm tỷ lệ nhỏ.
Quá trình hấp phụ Cd trong đất xảy ra khá nhanh, 80% Cd đưa vào đất
bị hấp phụ trong vòng 10 - 15 phút và 100% trong vòng 1 giờ. Khả năng hấp
phụ Cd của các chất trong đất giảm dần theo thứ tự: hyđrôxyt và ôxyt sắt,
nhôm, halloysit > allphane > kaolinit > axit humic > montmorillonit [18].
- Đối với cây trồng: rau diếp, cần tây, củ cải, cải bắp có xu hướng tích luỹ Cd
khá cao, trong khi đó củ khoai tây, bắp, đậu tròn, đậu dài được tích luỹ một số

Cu(OH)
2
) là các nguồn để sản xuất
đồng, cũng như là các sunfua như chalcopyrit (CuFeS
2
), bornit (Cu
5
FeS
4
),
covellit (CuS), chalcocit (Cu
2
S) và các oxit như cuprit (Cu
2
O).
- Đối với thực vật: quá trình hấp thu Cu vào thực vật phụ thuộc vào Ca
2+
. Trong
cây Cu chủ yếu tham gia liên kết với các chất hữu cơ có trong chất nguyên sinh.
Hàm lượng đồng trong cây biến động từ 5 – 20 ppm. Thời kỳ cây con hàm
lượng đồng trong cây là cao nhất, sau đó giảm dần trong suốt quá trình sinh
trưởng và phát triển. Cu có vai trò trong trao đổi nitơ, hơn 70% đồng trong cây
là ở trong các phân tử diệp lục tố, nó có vai trò quan trọng trong quá trình đồng
hóa của cây. Đồng xúc tiến cho quá trình hình thành vitamin A, protein và
trao đổi hydrat cacbon trong cây. Cây trồng thiếu Cu thường có tỷ lệ quang
hợp bất thường, quá trình oxit hoá acid acorbic bị chậm. Triệu chứng thiếu
đồng xuất hiện đầu tiên ở các loại lá non trên ngọn trong thời kỳ đẻ nhánh, nảy
chồi. Ban đầu các lá non trên ngọn chuyển màu vàng trắng, lá non xoắn lại, khô
dần, cây lùn. Ngoài những ảnh hưởng do thiếu Cu, thì việc thừa Cu cũng xảy ra
những biểu hiện ngộ độc mà chúng có thể dẫn tới tình trạng cây chết. Lý do của

biến thứ 23 trong vỏ Trái Đất. Các loại khoáng chất nặng nhất có xu hướng
chứa khoảng 10% sắt và 40 - 50% kẽm [18].
- Đối với cây trồng: hàm lượng Zn trong các loại cây trồng biến động rất rộng
từ 1 - 10000 ppm tính theo hàm lượng chất khô. Trong cây, rễ là bộ phận có
hàm lượng kẽm cao nhất, sau đó là lá và thấp nhất là ở thân và cành. Hàm
lượng kẽm ở phần non của cây thường cao hơn ở những phần già. Kẽm đóng
vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp acid nucleic (ARN) và protein.
Thiếu Zn sự tổng hợp ARN giảm do ức chế sinh tổng hợp protein trong cây.
Triệu chứng thiếu Zn thể hiện rõ nhất trên lá, chủ yếu trên các lá non đã trưởng
thành hoàn toàn. Lá chuyển màu xanh lục nhạt, vàng nhạt hoặc xuất hiện
những đốm bạc trắng ở phần giữa của lá. Thiếu Zn làm sự hồi xanh chậm lại,
cây còi cọc, cây hơi lùn, lá nhỏ bị xù ra và thường có xọc màu trắng ở giữa các 15

lá non. Sự dư thừa Zn gây độc đối với cây trồng khi Zn tích tụ trong đất quá
cao. Dư thừa Zn cũng gây ra bệnh mất diệp lục. Sự tích tụ Zn trong cây quá
nhiều gây một số mối liên hệ đến mức dư lượng Zn trong cơ thể người và góp
phần phát triển thêm sự tích tụ Zn trong môi trường mà đặc biệt là môi trường
đất.
- Đối với con người: Zn là thành phần tự nhiên của thức ăn và cần thiết cho
đời sống con người. Tổng lượng Zn trong cơ thể xấp xỉ là 2 - 4 g. Một khẩu
phần mẫu cung cấp hàng ngày từ 0.17 đến 0.25 mgZn/kg thể trọng. Hàm lượng
Zn được quy định giới hạn trong thức ăn (từ 5 đến 10 ppm) không ảnh hưởng
đến sức khỏe người tiêu dùng. Zn cũng là thành phần của nhiều enzyme như
alcohol dehrydrogenase, lactate dehydrogenase, glutamate dehydrogenase Sự
thiếu hụt Zn trong cơ thể gây ra các triệu chứng như bệnh liệt dương, teo tinh
hoàn, mù màu, viêm da, bệnh về gan và một số triệu chứng khác. Kẽm liên
quan đến sự phát triển của xương, lượng năng lượng và sự phát triển giới tính.

-
. Trong dạng crom (VI) này, crom tương đối hòa tan và di
động. Một nghiên cứu về tính thấm lọc và so sánh tính di động của một số kim
loại, bao gồm crom, cho thấy crom trong đất có tính di động nhỏ nhất trong tất
cả các kim loại nghiên cứu. Nhiều nghiên cứu trước đây thấy rằng crom rất
không di động trong đất, đặc biệt là trong tình trạng oxy hóa hóa trị ba.
Các nghiên cứu về con người và động vật thí nghiệm đã cho thấy vai trò
thiết yếu của Cr hóa trị ba trong việc duy trì sự chuyển hóa glucose diễn ra bình
thường. Thiếu crom đã được chứng minh với trẻ em bị suy dinh dưỡng, các vấn
đề về đường tiêu hóa, và trong các vấn đề ở tuổi trung niên như những xáo trộn
cơ bản là làm giảm hoạt động lưu hành của insulin. Tuy nhiên với hàm luợng cao
Cr có thể làm kết tủa protein, các axit nucleic và ức chế hệ thống enzim cơ bản.
Nguồn phơi nhiễm với crom chủ yếu từ thực phẩm. Tổng mức crom trong hầu
hết các loại thực phẩm thường dao động từ < 10 đến 1.300 𝜇g/kg, với nồng độ
cao nhất được tìm thấy trong thịt, cá, trái cây, và rau quả (WHO 2003). Thông
thường, người dân được tiếp xúc với crom bằng cách hít không khí, nước uống,
hoặc ăn thức ăn hoặc thực phẩm bổ sung có chứa crom [53].
1.3.5. Cơ chế hấp thụ KLN của thực vật
Các nguyên tố trong dung dịch đất được chuyển từ các lỗ khí trong đất tới
bề mặt rễ cây bằng hai con đường chính: sự khuếch tán và dòng chảy khối. Sự
khuếch tán xảy ra nhằm chống lại sự gia tăng gradien nồng độ bình thường đối
với rễ cây bằng cách: hấp thụ các KLN trong dung dịch đất tại bề mặt tiếp giáp
rễ cây – đất. Dòng chảy khối được tạo ra do sự di chuyển của dung dịch đất tới
bề mặt rễ cây như là kết quả của quá trình thở của lá. Hai quá trình này xảy ra
không đồng đều theo các tốc độ khác nhau tùy thuộc vào nồng độ dung dịch đất.

Trích đoạn Hàm lượng KLN trong phần ăn được (lá) Hàm lượng KLN trong phần không ăn được (thâ n+ rễ) KHẢ NĂNG TÍCH LŨY KLN CỦA RAU XÀ LÁCH ĐÁNH GIÁ RỦI RO SỨC KHỎE CỦA CÁC KLN TRONG RAU XÀ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status