Phân tích hàm lượng kim loại nặng trong một số nhóm sinh vật hồ trúc bạch và hồ thanh nhàn của thành phố hà nội - Pdf 36

ĐẶT VẤN ĐỀ
Quá trình phát triển công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ như y tế, du lịch,
thương mại… ở nước ta đã làm cho môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, đặc biệt
sự hiện diện của kim loại nặng trong môi trường đất, nước đã và đang là vấn đề môi
trường được cộng đồng quan tâm. Sự tích tụ kim loại nặng sẽ ảnh hưởng đến đời
sống của các sinh vật thủy sinh, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người thông
qua chuỗi thức ăn; ví dụ nhiều loài động vật không xương sống sử dụng trầm tích
như nguồn thức ăn, vì thế cơ thể chúng là nơi lưu giữ và tích tụ kim loại nặng. Sự
tích tụ kim loại nặng trong sinh vật có thể đe dọa sức khỏe của nhiều loài sinh vật
đặc biệt cá, chim và con người (Wright & Mason, 1999) [50]. Do vậy, xác định hàm
lượng kim loại nặng trong môi trường là rất cần thiết do bởi tính độc, tính bền vững
và sự tích tụ sinh học của chúng (UNEP/FAO/WHO, 1996 trích trong Clark và cộng
sự, 2000) [27]. Trong những năm gần đây, kim loại nặng đã được nghiên cứu nhiều
trong trầm tích cửa sông, vùng ven biển, và rừng ngập mặn tại một số quốc gia trên
thế giới. Ở Việt Nam nghiên cứu về kim loại nặng tập trung ở vùng đô thị, vùng đất
phèn, và vùng nông nghiệp.
Hà Nội là một trong những thành phố lớn ở nước ta có số lượng các hồ dày
đặc, đây là nơi điều hòa khí hậu và là nét đẹp đặc trưng của thành phố này, nhưng
hiện nay chất lượng nước ở hầu hết các hồ nơi đây đang trong tình trạng ô nhiễm
nặng do phải chứa đựng một lượng lớn nước thải từ khu dân cư, từ các nhà máy, xí
nghiệp.
Tài nguyên nước là thành phần chủ yếu của môi trường sống, quyết định sự
thành công trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội,
bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia. Hiện nay nguồn tài nguyên thiên nhiên quý
hiếm và quan trọng này đang phải đối mặt với nguy cơ ô nhiễm và cạn kiệt. Nguy
cơ thiếu nước, đặc biệt là nước ngọt và sạch là một hiểm họa lớn đối với sự tồn
vong của con người cũng như toàn bộ sự sống trên trái đất. Do đó con người cần

1



riêng của những kim loại này thông thường lớn hơn 5g/cm (Bishop, 2002) [22].
Kim loại nặng không bị phân hủy sinh học (Tam & Wong, 1995) [43], không
độc khi ở dạng nguyên tố tự do nhưng nguy hiểm đối với sinh vật sống khi ở dạng
cation do khả năng gắn kết với các chuỗi cacbon ngắn dẫn đến sự tích tụ trong cơ
thể sinh vật sau nhiều năm (Shahidul & Tanaka, 2004) [42].
Đối với con người, có khoảng 12 nguyên tố kim loại nặng gây độc như chì,
thủy ngân, nhôm, arsenic, cadmium, nickel… Một số kim loại nặng được tìm thấy
trong cơ thể và thiết yếu cho sức khỏe con người, chẳng hạn như sắt, kẽm,
magnesium, cobalt, manganese, molybdenum và đồng mặc dù với lượng rất ít
nhưng nó hiện diện trong quá trình chuyển hóa. Tuy nhiên, ở mức thừa của các
nguyên tố thiết yếu có thể nguy hại đến đời sống của sinh vật (Foulkes, 2000) [35].
Các nguyên tố kim loại còn lại là các nguyên tố không thiết yếu và có thể gây độc
tính cao khi hiện diện trong cơ thể, tuy nhiên tính độc chỉ thể hiện khi chúng đi vào
chuỗi thức ăn. Các nguyên tố này bao gồm thủy ngân, nickel, chì, arsenic,
cadmium, nhôm, platinum và đồng ở dạng ion kim loại. Chúng đi vào cơ thể qua
các con đường hấp thụ của cơ thể như hô hấp, tiêu hóa và qua da. Nếu kim loại
nặng đi vào cơ thể và tích lũy bên trong tế bào lớn hơn sự phân giải chúng thì chúng
sẽ tăng dần và sự ngộ độc sẽ xuất hiện (Foulkes, 2000) [35]. Do vậy người ta bị ngộ
độc không những với hàm lượng cao của kim loại nặng mà cả khi với hàm lượng

3


thấp và thời gian kéo dài sẽ đạt đến hàm lượng gây độc. Tính độc hại của các kim
loại nặng được thể hiện qua:
- Một số kim loại nặng có thể bị chuyển từ độc thấp sang dạng độc cao hơn trong
một vài điều kiện môi trường, ví dụ thủy ngân.
- Sự tích tụ và khuếch đại sinh học của các kim loại này qua chuỗi thức ăn có thể
làm tổn hại các hoạt động sinh lý bình thường và sau cùng gây nguy hiểm cho sức
khỏe của con người.

Các hợp chất của Cd
CdO có màu từ vàng đến nâu gần như đen tuỳ thuộc vào quá trình chế hoá
nhiệt, nóng chảy ở 1813oC, có thể thăng hoa, không phân huỷ khi đun nóng, hơi
độc.
CdO không tan trong nước chỉ tan trong kiềm nóng chảy:
CdO + 2KOH(nóng chảy) = K2CdO2

+ H2O

(Kali cadmiat)

CdO có thể điều chế bằng cách đốt cháy kim loại trong không khí hoặc nhiệt
phân hiđroxit hay các muối cacbonat, nitrat:
2Cd + O2

= 2CdO

Cd(OH)2 = CdO + H2O
Cd(OH)2 là kết tủa nhầy ít tan trong nước và có màu trắng.
Cd(OH)2 không thể hiện rõ tính lưỡng tính, tan trong dung dịch axit, không tan
trong dung dịch kiềm mà chỉ tan trong kiềm nóng chảy.
Tan trong dung dịch NH3 tạo thành hợp chất phức
Cd(OH)2 + 4NH3 = [Cd(NH3)4](OH)2
Điều chế bằng cách cho dung dịch muối của nó tác dụng với kiềm
Các muối halogenua (trừ florua), nitrat, sunfat, peclorat và axetat của Cd(II)
đều dễ tan trong nước còn các muối sunfua, cacbonat, hay ortho photphat và muối
bazơ ít tan.

5



Pb2O3

(nâu đen)

(vàng đỏ)

530 - 550oC

Pb3O4
(đỏ)

6

PbO
(vàng)


Lợi dụng khả năng oxi hoá mạnh của PbO2 người ta chế ra acquy chì.
Chì orthoplombat (Pb3O4) hay còn gọi là minium là hợp chất của Pb có các số oxi
hoá +2, +4. Nó là chất bột màu đỏ da cam, được dùng chủ yếu là để sản xuất thuỷ
tinh pha lê, men đồ sứ và đồ sắt, làm chất màu cho sơn (sơn trang trí và sơn bảo vệ
cho kim loại không bị rỉ).
Pb(OH)2 là chất kết tủa màu trắng. Khi đun nóng, chúng dễ mất nước biến
thành oxit PbO.
Pb(OH)2 cũng là chất lưỡng tính.
Khi tan trong axit, nó tạo thành muối của cation Pb2+:
Pb(OH)2 + 2HCl = PbCl2 + 2H2O
Khi tan trong dung dịch kiềm mạnh, nó tạo thành muối hiđroxoplombit:
Pb(OH)2 + 2KOH = K2[Pb(OH)4]

Cumings (1948) trích trong WHO (1998) phát hiện đồng thực sự là tác nhân độc.
Đồng là nguyên tố vi lượng cần thiết trong cơ thể người, có nhiều vai trò sinh
lí, nó tham gia vào quá trình tạo hồng cầu, bạch cầu và là thành phần của nhiều
enzym. Đồng tham gia tạo sắc tố hô hấp hemoglobin. Các nghiên cứu y học cho
thấy khi nồng độ đồng cao hơn mức cho phép một số người có dấu hiệu mắc bệnh
do đồng lắng đọng trong gan, thận, não như bệnh về thần kinh schizophrenia.
Ngược lại khi nồng độ đồng quá thấp, cơ thể phát triển không bình thường, đặc biệt
là với trẻ em. (Roberts, 1999) [40]
Mọi hợp chất của đồng đều là những chất độc, khoảng 30g CuSO4 có khả
năng gây chết người. Nồng độ an toàn của đồng trong nước uống đối với con người
dao động theo từng nguồn, khoảng 1,5 → 2mg/l. Lượng đồng đi vào cơ thể người
theo đường thức ăn mỗi ngày khoảng 2 → 4mg/l.
1.1.5. Thủy ngân (Hg)
Các dạng thủy ngân:
+ Thủy ngân nguyên tố: không độc, trơ và được đào thải nhanh.
+ Thủy ngân dạng hơi: rất độc, có thể đi theo đường hô hấp vào phổi rồi vào máu,
vào não rồi gây độc.

8


+ Thủy ngân dạng muối vô cơ HgCl2, Hg2Cl2 ít tan, ít độc vì là ở dạng hợp chất
không tan.
+ Ion thủy ngân (Hg2+): độc nhưng khó vận chuyển qua màng sinh học của tế bào.
Tác hại của thủy ngân đối với sức khỏe con người:
Khi thủy ngân kết hợp với các hợp chất hữu cơ và bị biến đổi bởi các vi
khuẩn và vi sinh vật trong nước và trầm tích hình thành các hợp chất khác nhất là
metyl thủy ngân rất độc, bền và tích tụ trong chuỗi thức ăn (Peter & Michael, 2003)
[39]. Trong môi trường biển, hệ vi sinh vật có thể chuyển nhiều hợp chất thủy ngân
vô cơ thành metyl thủy ngân và hợp chất này dễ dàng phóng thích từ trầm tích vào

lên đến 4,5 mg/kg(Korte, 1983 trích trong WHO, 1992) [48]. Tuy nhiên theo
Murray (1994) [36] hàm lượng Cd trong đất hiện diện trung bình 0,06 -1,1 ppm.
- Đồng được tìm thấy tự nhiên trong các khoáng như cuprite (Cu O), malachite
2

(Cu CO .Cu(OH) ), azurite (2CuCO .Cu(OH) ), chalcopyrite (CuFeS ), chalcocite
2

3

2

3

2

2

(Cu S), và bornite (Cu FeS ) và trong nhiều hợp chất hữu cơ. Ion đồng (II) gắng kết
2

5

4

-

2-

2-


10


Bảng 1.1. Các khoáng vật chứa asen trong tự nhiên [44]
Khoáng
As nguyên tố
Khoáng
Niccolite

Realgar

Thành phần

Nơi xuất hiện
Các mạch thủy nhiệt (hydrothermal
veins)

As
Thành phần

Nơi xuất hiện

NiAs

Các lớp trầm tích

AsS

Các lớp trầm tích, thường đi kèm


Các mạch thủy nhiệt

Enargite

Cu3AsS4

Các mạch thủy nhiệt
Khoáng thứ cấp, hình thành từ quá
trình oxi hóa arsenopyrite, asen
nguyên tố và một số khoáng asen
khác

Arsenolite

As2O3

Scorodite

FeAsO4.2H2O

Khoáng thứ cấp

Annabergite

(Ni,Co)3(AsO4)2.8H2O

Khoáng thứ cấp

Hoernesite

1983 trích trong Bryan & Langston, 1992) [26] và nồng độ Hg gia tăng gần các cửa
sông chịu ảnh hưởng từ công nghiệp (Baker, 1977 trích trong Bryan & Langston,
1992).
1.2.2. Công nghiệp
Sự gia tăng tích lũy kim loại trong môi trường không chỉ từ các nguồn tự nhiên,
mà còn từ hoạt động công nghiệp của con người. Việc đốt cháy các nhiên liệu hóa
thạch làm giải phóng khoảng 20 loại kim loại độc hại quan trọng vào môi trường bao
gồm asen, beri, cađimi, chì, và niken (Goyer, 1996) [27]. Các sản phẩm công nghiệp và
việc sử dụng các vật liệu công nghiệp có thể chứa hàm lượng cao các nguyên tố kim
loại độc hại. Ví dụ, thủy ngân được sử dụng để sản xuất clo và soda trong công nghiệp
sản xuất giấy và bột giấy, công nghiệp sản xuất pin, bóng đèn huỳnh quang, công tắc
điện, sơn và các sản phẩm nông nghiệp, thuốc chữa răng, và dược phẩm. (Mailman,
1994) [41]
- Asen: Được con người sử dụng trong ngành công nghiệp:
+ Khai thác quặng mỏ (Cu, Ni, Pb, Zn), luyện kim đưa vào môi trường một
lượng lớn arsenic. Khoảng 62000 tấn arsenic phóng thích vào môi trường
hàng năm từ các hoạt động này (Bissen & Frimmel, 2003) [23].
+ Đốt các nhiên liệu hóa thạch từ các hộ gia đình, từ các nhà máy điện.
+ Sử dụng thuốc diệt nấm, thuốc trừ cỏ, thuốc diệt côn trùng và công nghiệp

12


+ Từ khi đưa vào sử dụng DDT năm 1947 và các loại thuốc trừ sâu hữu cơ khác
có chứa các hợp chất arsenic hữu cơ (Bissen & Frimmel, 2003) [23].
- Cađimi: Một sản phẩm phụ của việc khai khoáng kẽm và chì, là một chất gây ô
nhiễm môi trường quan trọng. Nó được sử dụng rất nhiều trong sơn, thuốc nhuộm,
ắc quy, và chất dẻo. Ngoài ra nó còn được sử dụng trong chất chống ăn mòn thép,
sắt, đồng, đồng thau và các hợp kim khác. Các ứng dụng chủ yếu của Cd trong
trong công nghiệp như: lớp mạ bảo vệ thép, chất ổn định trong PVC, chất tạo màu

Ô nhiễm môi trường do tính độc hại của kim loại nặng gây mất cân bằng sinh
thái làm suy giảm nhiều quần thể sinh vật đã được tìm thấy ở nhiều quốc gia trên
thế giới. The Severn Estuary là một trong những con sông lớn nhất ở Anh là nơi ở
và sinh sản của nhiều loài cá. Nhiều thập kỉ qua, sông này đã phải hứng chịu nhiều
ô nhiễm kim loại nặng như chì, cadmium và nhiều nguyên tố khác từ nhiều nguồn
khác nhau (Owens, 1984 trích trong WHO, 1992)[48]. Những ảnh hưởng của ô
nhiễm này có thể là một trong những nguyên nhân gây suy giảm quần thể cá. Quần
thể cá ở sông Severn Estuary đã gia tăng trở lại khi mức độ ô nhiễm môi trường
nước giảm (Potter và cộng sự, 2001)[40]. Nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng ô nhiễm
kim loại trong vùng phụ cận của nơi tinh luyện chì lớn nhất thế giới tại Port Pirie
nước Úc đã cho thấy rằng 20 loài cá và giáp xác đã bị biến mất hoặc giảm số lượng
(Ward & Young, 1982 trích trong Bryan & Langston, 1992) [26]. Khi sinh vật sống
trong môi trường bị ô nhiễm, khả năng tích tụ các chất ô nhiễm trong cơ thể chúng
là rất cao nhất là ô nhiễm kim loại, gây nguy cơ cho sức khỏe của người tiêu thụ
chúng thông qua chuỗi thức ăn. Ohi và cộng sự (1974) trích trong WHO (1985)[49]
đã xác định mức độ chì trong máu, trong xương đùi và trong thận của chim bồ câu
được thu thập từ những vùng nông thôn và những vùng đô thị ở Nhật. Kết quả cho
thấy rằng mức độ chì cao nhất trong xương đùi của chim bồ câu với giá trị trung
bình biến động từ 16,5 đến 31,6 mg/kg ở vùng đô thị. Trong khi đó giá trị trung
bình 2,0 và 3,2 mg/kg ở vùng nông thôn.
Những năm gần đây, ảnh hưởng nghiêm trọng của As đối với sức khỏe con
người cũng đã được báo cáo ở Ấn Độ, Trung Quốc, Bangladesh. Ước tính có đến
hàng triệu người có nguy cơ bị ngộ độc do ngộ độc As. Việt Nam có khoảng 10
triệu người ở đồng bằng sông Hồng, 500 ngàn đến 1 triệu người ở ĐBSCL bị ngộ
độc mãn tính do uống nước giếng khoan có chứa arsen (Berg và cộng sự, 2007)

14


[21]. Tương tự, sự tích tụ Cd trong gan và thận của động vật chăn thả ăn cỏ ở Úc và


biển trên thế giới nơi có rừng ngập mặn cũng đã được xác định từ ít bị ô nhiễm cho
đến ô nhiễm nặng. Tam & Wong (1995) [43] đã xác định hàm Pb trong trầm tích
rừng ngập mặn Sai Keng, Hong Kong với hàm lượng 58,2 µg/g Zheng & Lin (1996)
[51] đã xác định hàm lượng Pb và Cd trong trầm tích rừng ngập mặn Avicennia
marina, vịnh Shenzhen với hàm lượng tương ứng 28,7 µg/g và 0,136 µg/g tương
ứng. Theo Breemen (1993), Astrom & Bjorklund (1995) [20], Sundstrom và cộng
sự (2003) [24], Hoa và cộng sự (2004) [30] đã chỉ ra rằng đất phèn là nguồn phóng
thích kim loại nặng gây ô nhiễm nguồn nước. Khi đất phèn tiềm tàng tiếp xúc với
ôxy do hiện tượng tự nhiên hoặc do thoát nước nhân tạo, pyrite bị ôxy hóa tạo ra
acid sulfuric làm hạ thấp pH. Khi pH

x

x

CN thực
giải khát

phẩm,

CN da

x

CN thủy tinh

x

x

CN gốm

x

x

CN nhựa

x



x

x

x

Sx phân bón

x

x

x

Sx chất tẩy rửa

x

Sx sơn, bột màu

x

x

x

x

Sx thuốc nhuộm


x

Mạ kim loại

x

x

x

Sx thuốc trừ sâu

x

x

x

x

x

x
x

x

x


(Nguồn trích dẫn: Trịnh Thị Thanh, 1993)[13]

đội ngũ quản lý, công nhân trong nhà máy.
Năm 2009, các tác giả Nguyễn Văn Khánh, Phạm Văn Hiệp khi nghiên cứu sự tích
lũy kim loại nặng Cadmium và chì của loài hến Corbicula sp. tại vùng cửa sông
thành phố Đà Nẵng. Với thực tế phát triển công nghiệp mạnh mẽ trong nhiều năm
trở lại đây tại Đà Nẵng thì nguy cơ ô nhiễm kim loại nặng của thủy vực này là rất

17


cao. Thực tế là từ phân tích ANOVA cho thấy hàm lương Cd tại khu vực sông Hàn:
2,66 ± 1,55 ppm, cao hơn và khác nhau có ý nghĩa (α = 0,05) so với khu vực cửa sông
Cu Đê: 1,41 ± 0,75 ppm [7]
Do cấu tạo địa chất, nhiều vùng ở nước ta nước ngầm bị nhiễm asen. Khoảng
13,5% dân số Việt Nam (10-15 triệu người) đang sử dụng nước ăn từ nước giếng
khoan, rất dễ bị nhiễm asen. Theo thống kê chưa đầy đủ, cả nước hiện có khoảng
hơn 1 triệu giếng khoan, trong đó nhiều giếng có nồng độ asen cao hơn từ 20-50 lần
nồng độ cho phép (0.01mg/l), ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ, tính mạng của cộng
đồng.Tại châu thổ sông Hồng, những vùng bị nhiễm nghiêm trọng nhất là phía Nam
Hà Nội, Hà Nam, Hà Tây, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình và Hải
Dương. Ở Đồng bằng sông Cửu Long, cũng phát hiện nhiều giếng khoan có nồng
độ asen cao nằm ở Đồng Tháp và An Giang. [17].
Kết quả phân tích và đánh giá việc tận dụng nước thải để nuôi cá ở một số
ao đầm vùng Thanh Trì, Hà nội năm 2009 – 2010 của tác giả Lê Thu Hà- Trường
Đại học Khoa học Tự nhiên được công bố như sau:
+ Hàm lượng KLN trọng thịt cá có mối tương quan rõ rệt đối với hàm lượng KLN
trong nước ao nuôi. Các ao hồ nuôi cá ở Đông Mỹ, Tứ Hiệp và Yên Sở đều dẫn
nước trực tiếp từ các kênh nước thải của sông Tô Lịch và Kim Ngưu. Các con sông
này hoàn toàn chứa nước thải công nghiệp chưa qua xử lý của các nhà máy sản xuất

sinh thái hồ là khác nhau cao nhất trong trầm tích tiếp đến là trong các động vật đáy,
thực vật thủy sinh ngập nước, thực vật nổi, các loài cá là thấp nhất ở trong nước.
+ Kim loại nặng có hàm lượng cao nhất trong các thàn phần của hồ là Fe, tiếp đó là
Mn, Zn, Cu, Pb, Cr, Ni, As và cuối cùng là Cd và Hg.
+ Nhìn chung hàm lượng của các kim loại nặng trong nước hồ Tây chưa cao hơn so
với tiêu chuẩn nước mặt Việt Nam. Nhưng hàm lượng của hầu hết các kim loại
nặng trong trầm tích và trong thực vật thủy sinh đều cao hơn tiêu chuẩn cho phép
của Việt Nam và nước ngoài. Một số kim loại nằng Hg, As trong trầm tích ở một
vài vị trí đã ở mức gây ảnh hưởng xầu.

19


+ Hàm lượng Pb, As trong động vật đáy (trùng trục, trai, ốc vặn…) là cao so với
tiêu chuẩn của Việt Nam và nước ngoài. Còn hàm lượng của các kim loại khác
trong động vật thủy sinh đều nằm trong phạm vi cho phép.
+ Tuy nhiên hai kim loại có độc tính cao là Pb và Cd đều có hàm lượng khá cao
trong các loài cá của hồ Tây, vì vậy khi người dân nơi đây sử dụng cá làm thức ăn
cần hết sức cẩn trọng.

20


CHƯƠNG 2. ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm nghiên cứu
2.1.1. Hồ Trúc Bạch, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
Hồ Trúc Bạch là một hồ thuộc quận Ba Đình, thủ đô Hà Nội, Việt Nam,
nguyên là một phần hồ Tây. Hồ rộng 242191.278 m2 (hơn 24,2 ha) và có tọa độ địa
lý là: vĩ tuyến: 21o03'10'' B, kinh tuyến: 105o50'20'' Đ.


Quá trình nghiên cứu tiến hành theo 4 đợt:
- Đợt 1: 21- 22/ 04 /2010
- Đợt 2: 13- 15/ 07 /2010
- Đợt 3: 23- 24/ 11 /2010
- Đợt 4: 02- 03/ 03 /2011
2.3. Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của để tài là 5 kim loại nặng: Cu, Cd, Pb, Hg, As trong một
số nhóm sinh vật ở 2 hồ Trúc Bạch,Thanh Nhàn.
- Các sinh vật nghiên cứu là cá rô phi (Oreochomic mossambicus), cá trôi Cá Trôi
Ấn Độ (Labeo rohita), cá mè trắng (Hypophthalmichthys molitrix), động vật nổi
(zooplankton), thực vật nổi (Phytoplankton),ốc bươu vàng (Pomacea canaliculata),
ốc vặn (họ Thiaridae)
2.4. Phương pháp nghiên cứu.
2.4.1. Phương pháp hồi cứu.
Thu thập, phân tích và xử lý các thông tin có liên quan, như thông tin về các
kim loại nặng trong nước, trầm tích, sinh vật của các công trình đã công bố trong
nước và nước ngoài, các thông tin kinh tế, xã hội, sản xuất của khu vực quanh 2 hồ
nghiên cứu.
2.4.2. Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa
- Mẫu nước được lấy ở 3 tầng: Tầng mặt, tầng giữa, tầng đáy, trộn theo tỉ lệ bằng
nhau, cố định bằng axit HNO3 đậm đặc, đựng trong chai nhựa PE.
- Mẫu bùn được lấy ở tầng đáy, lấy ở các điểm nghiên cứu sau đó trộn đều, đựng
trong túi nilon chuyên dụng.
- Mẫu sinh vật: Được thu bằng các dụng cụ thu mẫu.
- Các chai lấy mẫu nước hồ được rửa sạch, rửa lại bằng nước của điểm thu mẫu và
được dán nhãn ghi đầy đủ các chi tiết về địa điểm, ngày giờ thu mẫu.

23


1 lít

4 C

0

4h

2

Kim loại

PE

1lít

1,5 ml HNO

3

24h

đđ
-

Mẫu bùn: bảo quản ở nhiệt độ 4o C.

-

Mẫu sinh vật: Bảo quản ở nhiệt độ Oo C

KMnO4 0,01N tiêu tốn là V2.
Chú ý: Tiến hành chuẩn độ ở nhiệt độ 80 – 90oC.
* Công thức tính:
COD = (V1 – V2 ) x 8
Trong đó:
+ V1: Lượng dung dịch KMnO4 0,01N tiêu tốn để chuẩn mẫu nước thử (ml)
+ V2: Lượng dung dịch KMnO4 0,01N tiêu tốn để chuẩn mẫu nước cất (ml)
+ 8 : Đương lượng gam của oxi (g)
c. Xác định các chỉ số thủy lý hóa và nồng độ NH4+
- Các chỉ số thủy lý hóa pH, nhiệt độ, DO được đo bằng máy TOA.
- Nồng độ NH4+ trong nước được xác định bằng bộ Test SERA của Đức.
2.4.3.2. Phân tích hàm lượng kim loại nặng
a. Phương pháp xác định kim loại nặng trong mẫu nước
* Phân tích Cd
- Lập thang chuẩn Cd: 0,03 - 0,06 - 0.12 ppm
Giới hạn đo ở bước sóng 1: 0,028 - 2 ppm
Hút 2,5 ml dung dịch tiêu chuẩn 1000 mg/l bằng micro pipet định mức 50 ml
được nồng độ 50 mg/l. Hút 2.5 ml dung dịch 50 mg/l định mức 25 được nồng độ 5

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status