Đánh giá ảnh hưởng của nước thải khu công
nghiệp Lưu Xá tới hàm lượng kim loại nặng
trong nước và trầm tích sông Cầu
Phạm Thị Nga
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn ThS ngành: Khoa học môi trường; Mã số: 60 85 02
Người hướng dẫn: PGS.TS. Lê Đức
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Trinh bày hiện trạng chất lượng nước mặt và trầm tích sông Cầu khu
vực trước và sau điểm hợp lưu suối Cam Giá, hiện trạng nước mặt phụ lưu suối
Cam Giá; hiện trạng chất lượng nước thải của các nhà máy trong khu công nghiệp.
Thống kê các nguồn nước thải sản xuất chính, tính toán thải lượng của một số kim
loại nặng (Pb, Cd, Zn) phát sinh từ quá trình sản xuất của các nhà máy; hiện trạng
xử lý và xả thải nước thải sản xuất trong khu công nghiệp ; Đánh giá diễn biến
của một số kim loại nặng trong nước (Cd, Pb, Zn) và trầm tích theo thời gian,
không gian và liên hệ với tình trạng sản xuất và xả thải của khu công nghiệp. Đề
xuất biện pháp quản lý môi trường trong hoạt động sản xuất khu công nghiệp Lưu
Xá nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu ô nhiễm nước và trầm tích sông Cầu.
Keywords: Khoa học môi trường; Ô nhiễm nước; Nước thải
Content
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, chất lượng nước tại sông Đồng
Nai, sông Cầu, sông Nhuệ và sông Đáy đã bị ô nhiễm. Kết quả khảo sát cho thấy, gần
70% trong số hơn một triệu m
3
nước thải mỗi ngày từ các khu công nghiệp được xả
nghiệp Lưu Xá và nước mặt suối Cam Giá trước và sau điểm tiếp nhận nước thải, nước
mặt và trầm tích sông Cầu trước và sau điểm hợp lưu với suối Cam Giá. Hình 2.2: Phạm vi khu vực nghiên cứu
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.2.1. Phƣơng pháp điều tra, thống kê, thu thập tài liệu
Chủ yếu là các tài liệu, số liệu, bản đồ, các công trình nghiên cứu có liên quan
đến khu vực nghiên cứu. Tài liệu thu thập được xử lý, lập thành bảng biểu, đồ thị và
phân tích, phân loại để từ đó xác định những vấn đề cần đánh giá.
Khu vực nghiên cứu
Sông Cầu
S. Cam Giá
2.2.2. Phƣơng pháp định mức sản phẩm và một số chất thải theo nguyên
liệu.
Phương pháp này định mức sản phẩm và một số loại chất thải phát sinh ra khi
đưa một đơn vị nguyên liệu đầu vào.
2.2.3. Phƣơng pháp tính toán thải lƣợng
Tính toán thải lượng các chất ô nhiễm căn cứ vào hàm lượng các chất ô nhiễm từ
số liệu phân tích và lưu lượng dòng thải.
2.2.4. Phƣơng pháp lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm
Gồm các hoạt động khảo sát hiện trường, lấy mẫu thực tế. Qua khảo sát thực tế
tại các điểm dự kiến lấy mẫu, qua các yêu cầu về chất lượng mẫu và các chỉ tiêu cần
phân tích,
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Hiện trạng chất lƣợng môi trƣờng khu vực nghiên cứu
3.1.1. Hiện trạng chất lƣợng nƣớc mặt
Nước mặt khu vực nghiên cứu gồm suối Cam Giá và sông Cầu. Suối Cam Giá là
suối tiếp nhận toàn bộ nước thải sinh hoạt khu dân cư phường Cam Giá, nước thải sản
xuất công nghiệp khu công nghiệp Lưu Xá sau đó hợp lưu với sông Cầu. Kết quả quan
quả phân tích thu được cho thấy, nước mặt sông Cầu trước khi hợp lưu suối này vẫn còn
khá tốt, đảm bảo sử dụng mục đích tưới tiêu thủy lợi. Nhưng sau điểm hợp lưu, chất
lượng nước giảm xuống, các thông số đều tăng lên trong đó Pb vượt tiêu chuẩn cho phép
hơn 1 lần làm cho nước sông Cầu đoạn này không đảm bảo sử dụng mục đích tưới tiêu
thủy lợi.
3.1.2. Hiện trạng chất lƣợng nƣớc thải trong khu công nghiệp Lƣu Xá
Nhà máy Cốc Hóa: Nước thải nhà máy cốc hóa phát sinh từ quá trình dập cốc và
làm mát thiết bị, nước thải chứa thành phần chủ yếu là hợp chất hữu cơ, amoni, phenol,
tổng dầu mỡ, xianua. Tuy nhiên, nước thải sau khi qua hệ thống xử lý chỉ còn có amoni
và phenol vượt tiêu chuẩn xả thải theo QCVN 40:2011/BTNMT cột B hơn 1 lần. Các
kim loại nặng như Pb, Zn và Cd và các thông số khác ở mức thấp hơn giới hạn phát hiện
của phương pháp.
Nhà máy luyện gang: Nước thải nhà máy Luyện gang phát sinh từ quá trình dập
bụi lò cao và làm mát xỉ. Nước thải từ quá trình làm mát xỉ sau khi qua xử lý chất lượng
tương đối tốt, hầu hết các thông số đều đạt tiêu chuẩn cho phép. Nước thải từ quá trình
làm mát xỉ ô nhiễm rất cao chất rắn lơ lửng, kim loại nặng và xianua, loại nước này
được được xử lý nhưng không hiệu quả, được đưa tuần hoàn trở lại sản xuất. Tuy nhiên,
do hệ thống xử lý không đảm bảo, bùn thải (chất thải nguy hại) để rơi vãi và theo dòng
nước mưa chảy tràn và hòa vào nước thải làm mát xỉ rồi thải ra ngoài môi trường. Kết
quả phân tích cho thấy, hàm lượng Cd, Pb đều vượt tiêu chuẩn cho phép từ hơn 1 lần
đến hơn 2 lần. Đây là nguồn chính gây ô nhiễm kim loại nặng cho suối Cam Giá và
Sông Cầu.
Nước thải nhà máy luyện thép Lưu Xá: Nước thải nhà máy luyện thép Lưu Xá
chủ yếu phát sinh từ quá trình làm mát thiết bị nên bản chất nước thải chỉ ô nhiễm nhiệt.
Tuy nhiên, do công nghệ sản xuất quá cũ, hệ thống xử lý khí bụi không hiệu quả đã phát
tán bụi lò rơi vãi (đây là nguồn chứa cao hàm lượng các kim loại nặng) và theo dòng
nước mưa chảy tràn vào cùng hệ thống xả thải, làm cho hàm lượng các kim loại nặng
trong nước thải tăng lên nhưng không vượt tiêu chuẩn cho phép. Nước thải của nhà máy
Luyện thép Lưu Xá không bị ô nhiễm theo QCVN 40:2011/BTNMT mức B.
Nước thải nhà máy cán thép Lưu Xá và cán thép Thái Nguyên chứa cao hàm
tấn/ngày) không được thu gom triệt để, rơi vãi ra nền nhiều và theo dòng nước mưa chảy
tràn vào hệ thống nước thải chung của công ty.
b/ Nhà máy luyện thép Lưu Xá
Nước thải của nhà máy luyện thép Lưu Xá phát sinh chủ yếu từ hệ thống làm mát
thiết bị, tuy nhiên nước thải vẫn chứa hàm lượng các kim loại nặng Pb, Cd và Zn nhưng
không cao. Hàm lượng các kim loại này trong nước thải cũng giảm dần theo thời gian.
Nhà máy luyện thép Lưu Xá có công nghệ sản xuất lâu đời nên phát sinh nhiều bụi, mặc
dù hệ thống lọc bụi đã được lắp đặt nhưng không tránh khỏi bụi rơi vãi, bụi thải của nhà
máy chứa nhiều thành phần nguy hại vượt ngưỡng của quy chuẩn chất thải nguy hại. Do
nguyên liệu vào bao gồm cả phế liệu lẫn nhiều tạp chất. Khi thu gom không triệt để,
lượng bụi rơi vãi theo nước mưa chảy tràn và kéo theo nhiều kim loại nặng vào hệ thống
nước thải chung của nhà máy. Kết quả quan trắc cũng cho thấy, hàm lượng các chất ô
nhiễm tăng lên vào mùa mưa và giảm nhẹ vào mùa khô.
c/ Công ty CP hợp kim sắt gang thép Thái Nguyên
Tương tự nhà máy luyện thép Lưu Xá, nước thải công ty CP hợp kim sắt gang
thép phát sinh chủ yếu từ quá trình làm mát thiết bị, đặc thù ô nhiễm của loại nước thải
này là nhiệt độ, tuy nhiên, nước thải vẫn chứa hàm lượng các kim loại Cd, Pb và Zn
nhưng ở mức thấp hơn tiêu chuẩn. Nguyên nhân do công nghệ sản xuất của công ty quá
cũ và xuống cấp, hệ thống thu gom không triệt để, lượng bụi phát sinh lắng đọng trên bề
mặt khuôn viên, trên thiết bị và kéo theo vào dòng nước mưa chảy tràn, sau đó theo hệ
thống thu gom vào nước thải sản xuất và thải ra môi trường.
3.1.3. Trầm tích sông Cầu
Hiện tại, Việt Nam chưa có tiêu chuẩn để đánh giá mức độ ô nhiễm trầm tích. Vì
vậy, trong đề tài này học viên tham khảo tiêu chuẩn hiện hành của Canada về chất lượng
trầm tích (Canadian Environmental Quality Guidelines, 2002) để đánh giá chất lượng
trầm tích sông Cầu khu vực chảy qua khu công nghiệp Lưu Xá.
Theo số liệu tổng hợp từ báo cáo kết quả quan trắc môi trường toàn tỉnh các năm
của Sở Tài nguyên và Môi trường cho thấy, đoạn sông Cầu ở khu vực Cầu Gia Bảy bị ô
nhiễm Pb theo PEL
e
nhiều, chúng tôi lấy giá trị trung bình của các đợt quan trắc của đơn vị theo các năm.
Kết quả tính toán cho ta số liệu: Mỗi năm tổng phát thải của nhà máy luyện gang
là: 140,52 tấn Pb, 183,45 tấn Zn và 8,06 tấn Cd. Trong đó, phát thải trực tiếp ra suối
Cam Giá là toàn bộ nước thải làm mát xỉ và nước thải dập bụi với thải lượng kim loại là:
28,42 tấn Pb, 10,02 tấn Zn và 0,96 tấn Cd.
Với tình trạng xả thải như vậy, nhà máy bị ghi tên trong danh sách các đơn vị gây
ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng
Chính Phủ. Tuy nhiên, nhà máy đã khắc phục tối đa phát thải ra ngoài môi trường, toàn
bộ xỉ thải (không chứa nhiều kim loại nặng) được xử dụng cho phụ gia sản xuất xi
măng, bùn thải (chất thải nguy hại) được tận thu bán cho công ty TNHH MTV kim loại
màu để phối trộn với nguyên liệu tuyển lại lượng Zn trong bùn thải. Nước thải dập bụi
đã được tuần hoàn trở lại sản xuất từ năm 2010.
Như vậy lượng phát thải từ năm 2009 trở về trước, mỗi năm nhà máy luyện gang
xả ra môi trường với lượng kim loại là 10,026 tấn Pb, 42,15 tấn Zn và 0,962 tấn Cd.
Từ năm 2010 trở lại đây, lượng phát thải kim loại ra môi trường mỗi năm chỉ còn
là: 0,84 tấn Pb, 3,55 tấn Zn và 0,19 tấn Cd (bảng 3.21)
3.2.2. Nhà máy luyện thép Lƣu Xá
Nhà máy luyện thép do sử dụng nguyên liệu bao gồm gang và cả thép phế liệu, vì
vậy, hàm lượng kim loại nặng trong bụi thải rất lớn, theo kết quả phân tích thì bụi thải
thuộc loại chất thải nguy hại (kim loại vượt ngưỡng nguy hại). Ước tính thải lượng như
sau:
Hiện tại, nhà máy Luyện thép Lưu Xá đã thu gom và xử lý các loại chất thải,
trong đó có bụi thải là chất thải nguy hại được thu gom sau đó bán cho Công ty TNHH
MTV kim loại màu Thái Nguyên làm nguyên liệu sản xuất. Như vậy, nhà máy Luyện
thép Lưu Xá chỉ xả nước thải ra môi trường. Thải lượng các kim loại Pb, Cd và Zn sẽ
được tính toán dựa trên hàm lượng trung bình của các thông số này nhân với lưu lượng
thải. Ta có kết quả như sau: 0,018 tấn Cd, 0,067 tấn Pb và 0,47 tấn Zn.
3.2.3. Công ty CP hợp kim sắt gang thép Thái Nguyên
Tương tự nhà máy luyện thép Lưu Xá, công ty CP hợp kim sắt gang thép chỉ thải
nước thải sản xuất ra môi trường, toàn bộ các chất thải khác đều được thu gom và xử lý
Khu công Lưu Xá chủ yếu là các đơn vị sản xuất gang thép và các đơn vị sản xuất
phục vụ ngành luyện kim. Để hạn chế các tác động xấu do hoạt động của Khu Công nghiệp
Lưu Xá chúng tôi đề nghị sử dụng một số giải pháp bao gồm:
+ Các giải pháp về quản lý
+ Các giải pháp về kỹ thuật
3.4.1. Các giải pháp quản lý
Ban quản lý khu công nghiệp và Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh cần thường
xuyên kiểm tra và có những biện pháp cứng rắn, xử lý nghiêm minh đối với những nhà
máy, xí nghiệp thực hiện không đúng các nội dung đã cam kết trong các bản Báo cáo
đánh giá tác động môi trường, Bản cam kết bảo vệ môi trường và Đề án bảo vệ môi
trường; giấy phép xả thải không đúng quy định, thải các chất ô nhiễm ra môi trường
không đạt tiêu chuẩn cho phép, xảy ra những sự cố gây ô nhiễm môi trường xung quanh.
Đặc biệt nhà máy Luyện gang.
Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện các yêu cầu về bảo vệ môi trường
đối với các cơ sở, dự án đầu tư bên trong KCN theo đúng quy định tại điểm a, khoản 4,
điều 36 của Luật bảo vệ môi trường; rà soát và yêu cầu các doanh nghiệp trong KCN xử
lý nước thải đạt tiêu chuẩn trước khi vào hệ thống thải chung của khu công nghiệp.
3.4.2. Các giải pháp kỹ thuật
3.4.2.1. Các phƣơng án khống chế ô nhiễm không khí
Các biện pháp khống chế ô nhiễm không khí được áp dụng tuỳ theo từng loại
hình công nghiệp cụ thể, công nghệ sản xuất, mức độ phát sinh chất thải, tải lượng và
thời gian phát thải.
Các doanh nghiệp phải cam kết đảm bảo nồng độ các chất ô nhiễm trong khí thải
ra môi trường KCN đáp ứng được các QCVN tương ứng.
3.4.2.2. Các phƣơng án khống chế ô nhiễm nguồn nƣớc
Mỗi nhà máy trong KCN cần có các hệ thống xử lý nước thải sản xuất và sinh hoạt
cục bộ phù hợp với công nghệ, ngành nghề sản xuất của mình và đạt tiêu chuẩn loại B-
QCVN 40:2011/BTNMT trước khi thải vào hệ thống thoát nước thải chảy vào suối Cam
Giá.
3.4.2.3. Xử lý chất thải nguy hại
Các đơn vị sản xuất trong khu công nghiệp Lưu Xá có chứa kim loại nặng trong
nước thải và thải ra suối Cam Giá là Nhà máy luyện thép Lưu Xá, nhà máy luyện gang
và Công ty cổ phần hợp kim sắt gang thép. Theo tính toán thải lượng, trừ năm 2009 trở
về trước, mỗi năm khu công nghiệp Lưu Xá thải ra môi trường lượng kim loại: 1,06 tấn
Cd, 10,29 tấn Pb và 43,16 tấn Zn. Tuy nhiên, sau khi nhà máy luyện gang tuần hoàn lại
toàn bộ nước thải dập bụi thì thải lượng mỗi năm ra môi trường là: 0,29 tấn Cd, 1,1 tấn
Pb và 4,56 tấn Zn.
4.2. Kiến nghị
Sông Cầu là con sông lớn của hệ thống sông Thái Bình và chảy qua sáu tỉnh
thành. Đây là con sông được chính phủ và địa phương rất quan tâm bởi lợi ích nó đem
lại cho khu vực là rất lớn. Tuy nhiên, hiện nay con sông này đã đang bị ô nhiễm bởi các
hợp chất hữu cơ, dinh dưỡng và các kim loại nặng từ các hoạt động của các đơn vị sản
xuất công nghiệp, khai thác khoáng sản, vậy để bảo vệ con sông Cầu tác giả kiến nghị:
Các cơ quan chức năng tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát về công
tác bảo vệ môi trường tại các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ trên lưu vực.
Xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm các quy định về xả thải đảm bảo nước thải,
khí thải của các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ phải được xử lý đạt Quy chuẩn môi
trường tương ứng trước khi xả thải ra ngoài môi trường.
Tăng cường đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kế hoạc xử lý triệt để ô nhiễm môi
trường của các cơ sở nằm trong QĐ phê duyệt cơ sở gây ô nhiễm môi trường của UBND
tỉnh, QĐ số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ để đảm bảo các cơ sở này thực
hiện giảm thiểu ô nhiễm môi trường theo đúng lộ trình đã được phê duyệt.
Đẩy nhanh tiến độ thực hiện Dự án thoát nước và xử lý nước thải thành phố Thái
Nguyên để xử lý triệt để các nguồn ô nhiễm nước thải của khu vực thành phố Thái
Nguyên trước khi xả thải vào sông Cầu, giảm thiểu ô nhiễm nước sông Cầu.
References
Tài liệu tiếng Việt
1. Công ty CP cơ khí gang thép, Báo cáo kiểm soát ô nhiễm môi trường năm 2009,
2010, 2011, 2012.
kim loại nặng của khu dân cư và đất nông nghiệp do sản xuất công nghiệp. Tạp chí
Bảo vệ thực vật, 3/1994.
16. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên, Báo cáo kết quả quan trắc hiện trạng
môi trường tỉnh Thái Nguyên năm 2009, 2010, 2011.
17. Sở Tài nguyên và Môi trường, Biên bản kiểm tra môi trường năm 2010 đối với Công
ty CP cơ khí gang thép.
18. Sở Tài nguyên và Môi trường, Biên bản kiểm tra môi trường năm 2010 đối với Công
ty CP hợp kim sắt gang thép Thái Nguyên.
19. Sở Tài nguyên và Môi trường, Biên bản kiểm tra môi trường năm 2010 đối với Công
ty CP vật liệu chịu lửa Thái Nguyên.
20. Sở Tài nguyên và Môi trường, Biên bản kiểm tra môi trường năm 2010 đối với nhà
máy Cán thép Lưu Xá.
21. Sở Tài nguyên và Môi trường, Biên bản kiểm tra môi trường năm 2010 đối với nhà
máy cán thép Thái Nguyên.
22. Sở Tài nguyên và Môi trường, Biên bản kiểm tra môi trường năm 2010 đối với nhà
máy Cốc Hóa.
23. Sở Tài nguyên và Môi trường, Biên bản kiểm tra môi trường năm 2010 đối với nhà
máy luyện thép Lưu Xá.
24. Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng (2004), Tuyển tập các tiêu chuẩn Việt Nam
(TCVN) về Môi Trường (Tập 1).
25. Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng (2004), Tuyển tập các tiêu chuẩn Việt Nam
(TCVN) về Môi Trường (Tập 4).
26. Trần Nghi (2003), Trầm tích học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
27. Trịnh Thị Thanh (2002), Độc học môi trường và sức khỏe con người, Nhà xuất bản
Đại học Quốc gia Hà Nội.
28. UBND tỉnh Thái Nguyên (2007), Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh
Thái Nguyên đến năm 2020.
Tài liệu tiếng Anh
29. A.Tessier, P.G.C. Campbell and M. Bisson (1979), “Sequential extraction procedure
for the speciation of particulate trace metals”, Analytical Chemistry, vol. 51, No. 7,
Edition. McGraw
Hill. Federico Spagnoli, Antonietta Specchiulli, Tommaso Scirocco, Gerardo
Carapella, Paolo.
39. Fillip M. Tack và Marc G. Verloo (1995), Chemical speciation and fractionation in
soils and sediments heavy metals analysis: A review, International Journal of
Enviromental Analytical Chemistry, vol. 59, pp. 225- 238.
40. Forstner, U. (1979), “Metal transfer between solid and aqueous phases. In: Metal
Pollution in the Aquatic Environment”, (Ed) Forstner U, Whittman G.T.W, Spinger-
Verlag, Berlin, pp 197-270.
41. G. Glosinska, T. Sobczynski, L. Boszke, K. Bierla, J. Siepak (2005), Fractination of
some heavy metals in bottom sediments from the middle Odra River (Germany/
Poland), Polish Journal of Enviromental Studies, vol .14, no .3, pp. 305-317.
42. Green-Ruiz. C, Páez-Osuna. F (2003), Heavy Metal Distribution in Surface
Sediment from a Subtropical Coastal Lagoon System Associated with an
Agricultural Basin, Bull. Environ. Contam. Toxicol 71, pp. 52-29.
43. H. Akcay, A. Oguz, C. Karapire (2003), Study of heavy metal pollution and speciation
in Buyak Menderes and Gediz river sediments, Water Research, vol. 37, pp. 813-822.
44. Ivor E Dreosti (1996), Zinc: Nutritional aspects, report of international
meeting, Adelaide.
45. Jack E. Fergusson, 1991. The Heavy Elements, Chemistry, Enviromental Impact and
Health Effects Pergamon Press.
46. J. Zerbe, T. Sobczynski, H. Elbanowska, J. Siepak (1999), Speciation of heavy metals
in bottom sediments of lakes, Journal of Environmental Studies, vol. 8, no. 5, pp.
331- 339.
47. Kabata-Pendias A., and Adriano D.H. (1995), Trace elements in Soils and Plants,
third ed CRC Press LLC, Boca Raton.
48. K. Fytianos, A. Lourantou (2004), Speciation of element in sediment samples collected at
lakes Volvi and Koronia, N. Greece, Environment International, vol. 30, pp. 11-17.
49. L. N. Benitez and J. P. Dubois (1999), “Evaluation of the selectivity of sequential
extraction procedures applied to the soeciation of cadmium in soils”, International
areas subjected to different pollution loads in the Tagus Estuary (Portugal), Baseline,
Marine Pollution Bulletin 50, pp. 993-1018.
61. Tam N. F. Y and Wong Y. S (1995), Spatial and Temporal Variations of Heavy
Metal Contamination in Sediments of a Mangrove Swamp in Hong Kong, Marine
Pollution Bulletin, Vol. 31, Nos 4-12, pp. 254-261.
62. Tamaki, S. and Frankenberger, W. T., Jr (1992), Environmental biochemistry of
arsenic, Rev. Environ. Contam. Toxicol. 124, pp. 79-110.
63. Tobias Alfvén (2004), Cadmium Exposure and Distal Forearm Fracture, Journal of
Bone and Mineral Research. Volume 19, Number 6.
64. USEPA (2005), “Procedures for the derivation of equilibrrium partitioning sediment
benchmarks (ESBs) for the protection of benthic organisms: metal mixtures
(cadmium, copper, lead, silver and zinc)”, Washington, DC, United States
Environmental Protection Agency, Office of Research and Development (Report No.
EPA-600-R-02-011).
65. WHO (1985), Environmental Health Criteria 85: Lead, Environmental Aspects,
World Health Organization, Geneva.
66. WHO (2006), “Element speciation in human health risk assessment, Environmental
Health criteria 234” , World Health Organization.