đánh giá ảnh hưởng của nước thải khu công nghiệp gang thép đến chất lượng nước suối cam giá thành phố thái nguyên - Pdf 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐAI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM


PHẠM THÁI HÀ
Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA NƯỚC THẢI KHU CÔNG
NGHIỆP GANG THÉP ĐẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC SUỐI
CAM GIÁ THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số : 60 85 02 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Giảng viên hướng dẫn: 1. PGS.TS Nguyễn Tuấn Anh
2. PGS.TS Đỗ Thị Lan

Thái Nguyên – năm 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐAI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM


Thái Nguyên – năm 2011 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Công trình được hoàn thành tại khoa đào tạo Sau đại học – Đại học Nông lâm
Thái Nguyên – Đại học Thái Nguyên

Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS Nguyễn Tuấn Anh
2. PGS.TS Đỗ Thị Lan Phản biện 1: PGS.TS Lê Văn Khoa

Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Khắc Thái Sơn

Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn họp tại: Khoa Sau
đại học – Đại học Nông lâm Thái Nguyên – Đại học Thái Nguyên.
Vào hồi: 07 giờ ngày 22 tháng 10 năm 2011

năm 2020. Thế nhưng bên cạnh những thành tựu đạt được về mặt kinh tế thì
những vấn đề tiêu cực về môi trường do công cuộc công nghiệp hóa cũng đáng
kể. Một lượng lớn tài nguyên phải được khai thác để phục vụ cho sản xuất của
các khu công nghiệp, đồng thời chất thải được thải ra môi trường từ các khu
công nghiệp ngày càng nhiều, đặc biệt là vấn nạn nước thải công nghiệp.
Trong số các nguồn thải gây ô nhiễm môi trường nước mặt phải kể đến ngành
công nghiệp sản xuất gang thép.
Thái Nguyên có thể được gọi là cái nôi sản xuất gang thép – luyện kim
đen của cả nước. Công ty Gang Thép Thái Nguyên được thành lập từ năm
1959, trải qua hơn 50 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, đến nay sản
lượng thép của công ty ngày càng nâng cao, quy mô sản xuất ngày càng mở
rộng. Tuy nhiên, quá trình sản xuất công nghiệp của công ty cũng để lại những
tác động tiêu cực đến môi trường xung quanh, trong đó có môi trường nước
mặt của suối Cam Giá - thành phố Thái Nguyên. Đây là con suối tiếp nhận
trực tiếp nguồn nước thải của khu công nghiệp (KCN) Gang Thép, sau đó đổ
ra sông Cầu.
Vì vậy, để đánh giá được ảnh hưởng của các nguồn nước thải KCN
Gang Thép tới chất lượng nước suối Cam Giá trong những năm gần đây, được
sự cho phép của Ban giám hiệu nhà trường, Khoa Sau đại học, dưới sự hướng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2
dẫn trực tiếp của PGS.TS Nguyễn Tuấn Anh và PGS. TS Đỗ Thị Lan, tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá ảnh hưởng của nước thải Khu công nghiệp
Gang Thép đến chất lượng nước suối Cam Giá thành phố Thái Nguyên”.
Mục đích đề tài
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nguồn nước thải KCN Gang
Thép tới chất lượng nước suối Cam Giá trong giai đoạn 2010 – 2011.
- Đề xuất một số biện pháp khắc phục cải thiện chất lượng nước suối

1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Ô nhiễm môi trường
Khái niệm ô nhiễm môi trường:
Theo Luật bảo vệ môi trường 2005 của nước CHXHCNVN thì “Ô
nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù
hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật”.
Theo Trần Yêm và Trịnh Thị Thanh (1998) [17], “Ô nhiễm môi trường
được hiểu là sự có mặt của các chất hoặc năng lượng với với khối lượng lớn
trong môi trường mà môi trường khó chấp nhận”- trích Từ điển Oxford. Do
đó, ô nhiễm môi trường được hiểu theo cách diễn đạt của giáo trình này là:
“Sự hiện diện của các vật chất ở 3 dạng rắn, lỏng, khí và năng lượng có nguồn
gốc là tự nhiên hoặc nhân tạo với một hàm lượng nào đó làm ảnh hưởng đến
chất lượng nói chung hoặc chất lượng của từng thành phần môi trường nói riêng”.
Ô nhiễm môi trường theo nguồn gốc có thể phân thành ô nhiễm môi
trường do tự nhiên và ô nhiễm môi trường do nhân tạo.
Ô nhiễm môi trường theo loại hình môi trường có thể phân thành ô
nhiễm môi trường nước, ô nhiễm môi trường không khí và ô nhiễm môi
trường đất.
1.1.2. Ô nhiễm nước
Khái niệm về nước thải và nước ô nhiễm: Theo 2 tác giả Trần Yêm và
Trịnh Thị Thanh (1998) [17] thì:
Nước thải là chất lỏng được thải ra sau quá trình sử dụng của con người
và đã bị thay đổi tính chất ban đầu của chúng.
Ô nhiễm nước là sự thay đổi bất lợi môi trường nước, hoàn toàn hay đại
bộ phận do các hoạt động khác nhau của con người tạo nên.
Nguồn gốc gây ô nhiễm nước có thể là tự nhiên và có thể là nhân tạo.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

4


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

5
- QCVN 24:2009/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng
nước thải.
- QCVN 08:2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng
nước mặt.
- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5992 : 1995, Chất lượng nước - lấy mẫu-
Hướng dẫn kỹ thuật lấy mẫu.
- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5999 : 1995, Chất lượng nước lấy mẫu -
Hướng dẫn lấy nước thải.
1.2.2.Cơ sở thực tiễn
Hiện tại, nước ta đang trong thời kì mở cửa phát triển nền công nghiệp,
vì vậy mà các KCN, các nhà máy được xây dựng ồ ạt nhằm đáp ứng mục tiêu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhưng đi đôi với phát triển công
nghiệp là yêu cầu giữ gìn, bảo vệ môi trường, nhất là tại các KCN và các nhà
máy xí nghiệp. Việc các KCN, các nhà máy xí nghiệp được mở ra để đẩy
mạnh phát triển kinh tế cũng gây ra nhiều vấn đề tranh cãi về môi trường.
Hiện trạng môi trường nước thải ở các khu vực sản xuất này đã và đang có
những dấu hiệu bị ô nhiễm.
Tỉnh Thái Nguyên có nhiều khu công nghiệp, trong đó KCN Gang
Thép – Lưu Xá là một trong các KCN lớn chuyên sản xuất gang, thép đáp ứng
cho nhu cầu phát triển công nghiệp trong cả nước. Công ty Gang Thép là
doanh nghiệp nhà nước thuộc Tổng công ty Thép Việt Nam (Bộ Công
nghiệp), được thành lập từ năm 1959 và đi vào hoạt động từ năm 1963. Mặc
dù đã có những nỗ lực trong cải thiện chất lượng môi trường nhưng KCN
Gang Thép vẫn có những hoạt động ảnh hưởng gây ô nhiễm môi trường, trong
đó việc xả thải nguồn nước thải (chủ yếu là nước thải sản xuất) đã gây ảnh
hưởng tới môi trường nước xung quanh. Do vậy, tiến hành đánh giá chất

thiếu nước sạch là phổ biến. Có tới hơn 80% khối lượng nước ở các cống rãnh
ở các khu dân cư và hơn 65% lượng nước thải ở các KCN thải trực tiếp ra
đồng ruộng, sông hồ… gây ô nhiễm, thường là ở Trung Quốc, các nước Trung
cận Đông, châu Phi, Nam Á, Đông Nam Á.
Việc ô nhiễm môi trường nước đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến
sức khỏe con người, mỗi năm có khoảng 3.578 triệu người chết do các bệnh
liên quan đến nước.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

7
Cũng theo báo cáo này, đã chỉ ra được thiệt hại môi trường trong hồ
Peipsi – hồ nằm trên biên giới của nước Cộng hòa Estonia và Liên bang Nga.
Sự ô nhiễm hồ và phú dưỡng đã làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế xung
quanh hồ và hoạt động khai thác cá trong hồ. Ở Trung Quốc, có đến khoảng
50.000 km các con sông lớn (theo FAO) bị ô nhiễm nặng, chủ yếu do nước
thải công nghiệp, trong đó có 80% là không còn khả năng khai thác cá do môi
trường sống của chúng đã bị hủy hoại. Đây có thể coi như là kết quả của việc
xả thải các chất độc hại từ các nhà máy công nghiệp trên thượng nguồn như
nhà máy giấy, nhà máy thuộc da, nhà máy sản xuất cán thép, nhà máy lọc dầu
và nhà máy hóa chất…nước sông Hoàng Hà hiện đang chứa một hàm lượng
rất cao các kim loại nặng và chất độc khác, làm cho chất lượng nước suy giảm
tới mức không đạt tiêu chuẩn đối với nước dành cho mục đích thủy lợi. Đoạn
sông Hoàng Hà đi qua tỉnh Sơn Tây, do sử dụng nước tưới cho nông nghiệp
nên kim loại nặng đã đi vào nông sản như hàm lượng Crôm và Chì đã quá
ngưỡng cho phép trong lúa gạo, Cadimi quá ngưỡng trong bắp cải…
Ở Brazil, Baixada Santista cũng là khu vực nổi tiếng thế giới về ô
nhiễm có liên quan đến công nghiệp, cảng và các hoạt động đô thị. Các hoạt
động khai thác mỏ và luyện kim đã cho kết quả là thải ra môi trường các chất
độc hại có khả năng lan truyền theo chuỗi thức ăn như Chì, Thủy ngân,

Cốc hóa: 2-5m
3
/tấn than cốc
Lò làm sạch khí: 2-5m
3
/1000m
3
khí (P.Gendy và E.Dohen, 2001) [20].
Theo tác giả O’Connell và các cộng sự (1987) [21], [22], ở Chicago
những năm giữa thế kỷ 20, sự tăng trưởng nhanh chóng của ngành công
nghiệp thép trong khu vực Cahemet sau khi có sự chuyển giao, phát triển công
nghệ đã khiến cho môi trường nơi này bị ảnh hưởng. Các nhà máy thép ở Nam
Chicago, Đông Chicago và Gary tạo thành một cụm công nghiệp khá rộng lớn.
Dọc theo bờ biển phía nam hồ Michigan cũng bao gồm các nhà máy lọc dầu,
hóa chất và chế tạo kim loại. Hậu quả là hắc ín từ nhà máy than cốc và axit từ
các nhà máy đã bao phủ con sông Grand.
1.3.2. Thực trạng ô nhiễm môi trường nước do nước thải công
nghiệp ở Việt Nam
Nước thải công nghiệp là nước thải được sinh ra trong quá trình sản
xuất công nghiệp từ các công đoạn sản xuất và các hoạt động phục vụ cho sản
xuất như nước thải khi tiến hành vệ sinh công nghiệp hay hoạt động sinh hoạt
của công nhân viên. Nước thải công nghiệp rất đa dạng, khác nhau về thành
phần cũng như lượng phát thải và phụ thuộc vào nhiều yếu tố: loại hình công
nghiệp, loại hình công nghệ sử dụng, tính hiện đại của công nghệ, tuổi thọ của
thiết bị, trình độ quản lý của cơ sở và ý thức cán bộ công nhân viên. Cơ sở để
nhận biết và phân loại như sau:
Nước thải được sản sinh từ nước không được dùng trực tiếp trong các
công đoạn sản xuất, nhưng tham gia các quá trình tiếp xúc với các khí. Chất
lỏng hoặc chất rắn trong quá trình sản xuất. Loại này có thể phát sinh liên tục
hoặc không liên tục, nhưng nói chung nếu sản xuất ổn định thì có thể dễ dàng

trạng ô nhiễm nước là vấn đề rất đáng lo ngại. Nước ta thực hiện công nghiệp
hóa và đương nhiên là kéo theo đô thị hóa. Theo kinh nghiệm của nhiều nước,
tình hình ô nhiễm môi trường cũng gia tăng nhanh chóng. Nếu tốc độ tăng
trưởng GDP trong vòng 10 năm tới tăng bình quân khoảng 7%/năm, trong đó
GDP công nghiệp khoảng 8 – 9%/năm, mức đô thị từ 23%/năm tăng lên 33%
năm 2000, thì đến năm 2010 lượng ô nhiễm do công nghiệp có thể tăng lên
gấp 2,4 lần so với bây giờ. Tại TP. Hồ Chí Minh có 25 KCN tập trung hoạt
động với tổng số 611 nhà máy trên diện tích 2298 ha đất. Theo kết quả tính
toán, hoạt động của các KCN này cùng với 195 cơ sở trọng điểm bên ngoài

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

10
KCN, thì mỗi ngày thải vào hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai tổng cộng
1.740.000m
3
nước thải công nghiệp, trong đó có khoảng 617 tấn cặn lơ lửng,
1.135 tấn BOD
5
(làm giảm nhu cầu oxy sinh hóa), 1.789 tấn COD (làm giảm
nhu cầu oxy hóa học), 104 tấn Nito, 15 tấn Photpho và kim loại nặng. Lượng
chất thải này gây ô nhiễm cho môi trường nước của các con sông vốn là nguồn
cung cấp nước sinh hoạt cho một nội địa bàn dân cư rộng lớn, làm ảnh hưởng
đến các vi sinh vật và hệ sinh thái vốn là tác nhân thực hiện các quá trình phân
hủy và làm sạch các dòng sông. Tại Hà Nội, khi thực hiện gói thầu CP7A
nhằm cải thiện hệ thống thoát nước ở Hà Nội trên hệ thống sông Tô Lịch, sông
Lừ, sông Sét, tức là thực hiện các biện pháp xử lí nước thải hữu hiệu như đã
đề ra trong quy hoạch tổng thể thoát nước của Hà Nội thì đến năm 2010, hầu
hết các con sông ở Hà Nội có chỉ tiêu BOD dưới 25mg/l; còn nếu không có
biện pháp cải thiện môi trường rõ rệt thì chỉ số BOD sẽ tăng gấp khoảng 1,8

sản xuất giấy, luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than; về mùa cạn
tổng lượng nước thải khu vực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưu
lượng sông Cầu; nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4-9 và hàm lượng NH
4
+

là 4mg/1, hàm lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó
chịu…(Hoàng Hoa Lan, 2003) [4].
Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà
Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt
không có hệ thống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông,
hồ, kênh, mương). Mặt khác, còn rất nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước
thải, phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thống xử lý nước
thải; một lượng rác thải rắn lớn trong thành phố không thu gom hết được… là
những nguồn quan trọng gây ra ô nhiễm nước . Hiện nay , mức độ ô nhiễm
trong các kênh, sông, hồ ở các thành phố lớn là rất nặng . Ở thành phố Hà Nội,
tổng lượng nước thải của thành phố lên tới 300.000 – 400.000 m
3
/ngày; hiện
mới chỉ có 5/31 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải, chiếm 25% lượng nước
thải bệnh viện; 36/400 cơ sở sản xuất có xử lý nước thải; lượng rác thải sinh
hoại chưa được thu gom khoảng 1.200m
3
/ngày đang xả vào các khu đất ven
các hồ, kênh, mương trong nội thành; chỉ số BOD, oxy hoà tan, các chất NH
4
,
NO
2
-

tâm Quan trắc và Phân tích Tài nguyên Môi trường (Sở Tài nguyên và Môi
trường Hà Nội) đã công bố kết quả phân tích từ mẫu nước thải tại điểm xả
cuối cùng ngoài hàng rào ở trạm xử lý nước thải tập trung của Công ty Đầu tư
và phát triển hạ tầng Nam Đức – chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu
hạ tầng khu công nghiệp Quang Minh (huyện Mê Linh). Tại thời điểm kiểm
tra một tháng trước, đoàn kiểm tra đã phát hiện trạm xử lý nước thải này
không hoạt động. Tại miệng cống xả cuối cùng của trạm xử lý vẫn có nước
thải đen, hôi xả thẳng ra môi trường. Nước thải công nghiệp của nhiều cơ sở
chưa được thu gom xử lý mà xả thẳng ra môi trường với lưu lượng lớn. Ngoài
hàm lượng cyanua lên tới 0,56 mg/l, vượt 8 lần tiêu chuẩn cho phép, còn có
BOD5 vượt 13,5 lần, COD vượt 14,7 lần, sunfua vượt hơn 4 lần, colifom vượt
hơn 13 lần… Theo các chuyên gia, cyanua là chất cực độc, chỉ cần 0,15-0,2
gram là đủ để giết chết một người khỏe mạnh. Sở Tài nguyên Môi trường đã
kiến nghị đình chỉ hành vi xả nước thải vượt quy chuẩn Việt Nam ra môi
trường của Công ty Nam Đức; buộc công ty này phối hợp với các doanh
nghiệp trong khu công nghiệp tổ chức đấu nối toàn bộ nước thải vào hệ thống
thu gom nước thải để xử lý tập trung trước khi đổ ra môi trường; vận hành

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

13
trạm xử lý nước thải thường xuyên, bảo đảm toàn bộ nước thải của Quang
Minh phải được xử lý đạt tiêu chuẩn…
Riêng với hành vi không vận hành thường xuyên hệ thống xử lý nước
thải, công ty Nam Đức đã bị UBND Hà Nội ra quyết định xử phạt 150 triệu
đồng vào ngày 8/6. Lãnh đạo thành phố Hà Nội cũng đã chỉ đạo lập đoàn kiểm
tra liên ngành để kiểm tra việc thực thi quy định về môi trường của các doanh
nghiệp trong khu công nghiệp Quang Minh.
Trước đó, ngày 24/5 do quá bức xúc với tình trạng ô nhiễm kéo dài do
nước thải từ khu công nghiệp Quang Minh, người dân quanh đây đã tập trung

niken… và độ pH thấp. Phần lớn nước thải từ các nhà máy, các cơ sở xi mạ
được đổ trực tiếp vào cống thoát nước chung mà không qua xử lý triệt để, đã
gây ô nhiễm cục bộ trầm trọng nguồn nước.
Kết quả khảo sát tại một số nhà máy cơ khí ở Hà Nội cho thấy, nồng độ
chất độc có hàm lượng các ion kim loại nặng, như crôm, niken, đồng… đều
cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn cho phép; một số cơ sở mạ điện tuy có hệ
thống xử lý nước thải nhưng chưa chú trọng đầy đủ đến các thông số công
nghệ của quá trình xử lý để điều chỉnh cho phù hợp khi đặc tính của nước thải
thay đổi.
Tại TP.HCM, Bình Dương và Đồng Nai, kết quả phân tích chất lượng
nước thải của các nhà máy, cơ sở xi mạ điển hình ở cả 3 địa phương này cho
thấy, hầu hết các cơ sở đều không đạt tiêu chuẩn nước thải cho phép: hàm
lượng chất hữu cơ cao, chỉ tiêu về kim loại nặng vượt nhiều lần tiêu chuẩn cho
phép, COD dao động trong khoảng 320-885 mg/lít do thành phần nước thải có
chứa cặn sơn, dầu nhớt… Hơn 80% nước thải của các nhà máy, cơ sở xi mạ
không được xử lý. Chính nguồn thải này đã và đang gây ô nhiễm nghiêm trọng
đến môi trường nước mặt, ảnh hưởng đáng kể chất lượng nước sông Sài Gòn
và sông Đồng Nai.
Về chất lượng nước các hệ thống sông: nhìn chung chất lượng nước ở
thượng lưu các con sông còn khá tốt, nhưng vùng hạ lưu phần lớn đã bị ô
nhiễm, có nơi ở mức nghiêm trọng. Nguyên nhân là do nước thải của các cơ sở
sản xuất, kinh doanh, nước thải sinh hoạt không được xử lý đã và đang thải
trực tiếp ra các dòng sông. Chất lượng nước suy giảm mạnh, nhiều chỉ tiêu
như BOD, COD, NH
4
+
, tổng N, tổng P cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn


vực sông Nhuệ - sông Đáy đã bị ô nhiễm, đặc biệt là nước sông Nhuệ. Chất
lượng nước sông Nhuệ từng lúc (phụ thuộc vào thời gian mở cống Liên Mạc),
từng nơi vượt trên giới hạn cho phép đối với nước loại B. Các sông khác có
chất lượng nước ở mức giới hạn cho phép đối với nước loại B. Nếu không có

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

16
biện pháp ngăn ngừa khắc phục, xử lý ô nhiễm kịp thời thì tương lai không xa
nguồn nước sông Nhuệ, sông Đáy không thể sử dụng cho sản xuất được.
Ngoài ra, ô nhiễm nước ở các sông hồ ở nội thành Hà Nội, Tp Hồ Chí
Minh, Tp Đà Nẵng đang ở mức trầm trọng, các chỉ tiêu quan trắc đều vượt quá
tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, thậm chí hàng trăm lần.
Nước ngầm ở một số vùng, đặc biệt là các khu công nghiệp và đô thị có
nguy cơ cạn kiệt vào mùa khô và ở một số nơi đã có dấu hiệu bị ô nhiễm.
Nguyên nhân là do khai thác bừa bãi và không đúng kỹ thuật, (Minh Kỳ,
2009) [7].
Ở Cao Bằng, tuy công nghiệp chưa phát triển mạnh như những địa
phương khác, nhưng cũng đã có những vấn đề ô nhiễm nước do nước thải
công nghiệp. Tổng lượng nước thải từ các cơ sở công nghiệp trên địa bàn tỉnh
bình quân khoảng 3.000 m
3
/ngày. Hầu hết các nhà máy đều có hệ thống xử lý
nước thải nhưng công nghệ xử lý lạc hậu nên chất lượng nước thải sau khi xử
lý thải ra môi trường chưa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ môi trường. Đặc biệt,
nguồn nước thải của các cơ sở khai thác và chế biến khoáng sản đã và đang
tàn phá môi trường nghiêm trọng. Các cơ sở này chủ yếu thực hiện biện pháp
xử lý nước thải bằng phương pháp tạo bể, hồ để thu gom nước thải, lắng lọc tự
nhiên nhưng do hầu hết các hồ chứa nước thải dung tích không đạt như thiết
kế, lắng lọc rất kém, nước thải ra môi trường thường vượt tiêu chuẩn cho phép

động khai thác khoáng sản trên thượng nguồn. Trong khi đó, đây là nguồn
cung cấp nước cho Nhà máy nước xử lý để phục vụ hàng vạn người dân sinh
sống tại khu vực thị xã Cao Bằng (Lưu Thanh Tuấn, 2010) [8].
Thái Nguyên: Hầu hết khu, cụm công nghiệp chƣa có hệ thống xử
lý nƣớc thải tập trung
Sự phát triển của các khu công nghiệp đã góp phần tích cực vào sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo ra
hệ thống kết cấu hạ tầng mới, hiện đại, có giá trị lâu dài, góp phần hiện đại hóa
hệ thống kết cấu hạ tầng trên cả nước.
Tuy nhiên, ở nhiều địa phương, việc hình thành và phát triển các khu
công nghiệp (KCN) còn đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, đặc biệt là vấn đề ô
nhiễm môi trường. Thái Nguyên là tỉnh nằm trong bối cảnh chung đó.
Theo tác giả Hoàng Huy (2008) [2], tính đến thời điểm năm 2008, theo
quy hoạch, toàn tỉnh Thái Nguyên có 25 khu, cụm công nghiệp, trong đó KCN
Sông Công 1 thu hút được 32 dự án đầu tư, 1 số khu, cụm công nghiệp đã kết
thúc giai đoạn đầu tư bắt đầu đi vào hoạt động. Tuy nhiên, trong tổng số 25,
khu, cụm công nghiệp được quy hoạch chỉ có duy nhất KCN Sông Công thực
hiện lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, còn lại các khu, cụm công
nghiệp khác đề không có báo cáo đánh giá tác động môi trường, chưa xây
dựng chương trình quản lý chất thải và giám sát chất lượng môi trường.
Việc xử lý chất thải tại các khu, cụm công nghiệp hầu hết còn manh
mún, tự phát, chưa có thiết kế quy hoạch chi tiết và xây dựng kết cấu hạ tầng
bảo vệ môi trường của từng KCN nên việc xử lý ô nhiễm không đáp ứng được
các tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường. Theo ông Dương Văn Khanh, Giám đốc
Sở TN&MT – Thái Nguyên là tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế khá. Trong
những năm gần đây, số lượng doanh nghiệp tăng lên rất nhanh, từ chỗ 200 –
300 doanh nghiệp, đến nay đã tăng lên hơn 2.000 doanh nghiệp. Việc phát
triển các cơ sở sản xuất nhanh chóng đã tạo sức ép lên môi trường. Nhiều

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

trường.
BVMT trong sản xuất công nghiệp là yêu cầu cấp thiết hiện nay, bởi
đây chính là cơ sở phát triển công nghiệp bền vững. Để làm được điều này,
các doanh nghiệp cần có sự đầu tư tổng thể công nghệ sản xuất sạch hơn, thực
hiện các biện pháp ngăn ngừa, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, xây dựng hệ
thống xử lý chất thải bảo đảm đạt tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường. Vấn đề

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

19
BVMT trong các khu, cụm công nghiệp không chỉ là thách thức với Thái
Nguyên mà còn là trở ngại của nhiều địa phương trong cả nước trong việc phát
triển nền công nghiệp bền vững.
1.4. Tình hình sản xuất Gang thép trên thế giới và ở Việt Nam
1.4.1. Tình hình sản xuất Gang thép trên thế giới
CÔNG NGHIỆP LUYỆN KIM
Công nghiệp luyện kim gồm hai ngành là: luyện kim đen (sản xuất ra
gang, thép) và luyện kim màu (sản xuất ra các kim loại không có sắt).
Luyện kim đen
Đây là một trong những ngành quan trọng nhất của công nghiệp nặng,
tạo ra nguyên liệu cơ bản cho ngành chế tạo máy và gia công kim loại. Hầu
như tất cả các ngành kinh tế đều sử dụng các sản phẩm của ngành luyện kim
đen. Kim loại đen chiếm trên 90% tổng khối lượng kim loại sản xuất trên thế giới.
Ngành luyện kim đen được phát triển mạnh từ nửa sau thế kỉ XIX cùng
với việc phát minh ra động cơ đốt trong, xây dựng đường sắt, chế tạo đầu máy
xe lửa và toa xe, tàu thuỷ và sau này là máy công cụ, máy nông nghiệp, ô tô
các loại…
Sản lượng thép từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến cuối thế kỉ XX
tăng khá nhanh, gấp hơn 4 lần. Hiện nay, hằng năm thế giới sản xuất trên 800
triệu tấn thép. Những quốc gia đứng đầu về sản lượng thép là Trung Quốc,

H Hatfield tiếp tục nghiên cứu, phát triển các ý tưởng về thép không rỉ. Bằng
việc kết hợp các tỉ lệ khác nhau giữa niken và crôm trong thành phần thép, ông
đã cho ra đời một loại thép không rỉ mới 18/8 với tỉ lệ 8% Ni và 18% Cr,
chính là mác thép 304 quen thuộc ngày nay. Ông cũng là người phát minh ra
loại thép 321 bằng cách cho thêm thành phần titan vào thép có tỉ lệ 18/8 nói
trên. Tiếp tục nghiên cứu, phát triển các ý tưởng về thép không rỉ. Trải qua
gần một thiên niên kỷ ra đời và phát triển, ngày nay thép không rỉ đã được
dùng rộng rãi trong mọi lĩnh vực dân dụng và công nghiệp với hơn 100 mác
thép khác nhau. Trong ngành luyện kim, thuật ngữ thép không gỉ (inox) được
dùng để chỉ một dạng hợp kim sắt chứa tối thiểu 10,5% crôm. Tên gọi là “thép
không gỉ” nhưng thật ra nó chỉ là hợp kim của sắt không bị biến màu hay bị ăn
mòn dễ dàng như là các loại thép thông thường khác. Vật liệu này cũng có thể
gọi là thép chống ăn mòn. Thông thường, có nhiều cách khác nhau để ứng
dụng inox cho những bề mặt khác nhau để tăng tuổi thọ của vật dụng. Trong

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

21
đời sống, chúng xuất hiện ở khắp nơi như những lưỡi dao cắt hoặc dây đeo
đồng hồ… Thép không gỉ có khả năng chống sự ôxy hoá và ăn mòn rất cao,
tuy nhiên sự lựa chọn đúng chủng loại và các thông số kỹ thuật của chúng để
phù hợp vào từng trường hợp cụ thể là rất quan trọng. Khả năng chống lại sự
oxy hoá từ không khí xung quanh ở nhiệt độ thông thường của thép không gỉ
có được nhờ vào tỷ lệ crôm có trong hợp kim (nhỏ nhất là 13% và có thể lên
đến 26% trong trường hợp làm việc trong môi trường làm việc khắc nghiệt).
Trạng thái bị oxy hoá của crôm thường là crôm ôxit (III). Khi crôm trong hợp
kim thép tiếp xúc với không khí thì một lớp chrom III oxit rất mỏng xuất hiện
trên bề mặt vật liệu; lớp này mỏng đến mức không thể thấy bằng mắt thường,
có nghĩa là bề mặt kim loại vẫn sáng bóng. Tuy nhiên, chúng lại hoàn toàn
không tác dụng với nước và không khí nên bảo vệ được lớp thép bên dưới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status