Trờng đại học nông nghiệp hà nội
Khoa kinh tế và phát triển nông thôn
Luận văn tốt nghiệp đại học
NH HNG CA XY DNG KHU CễNG NGHIP N
SINH K CA NGI DN VEN KHU CễNG NGHIP
NAM SCH - HI DNG
Tên sinh viên : Đỗ Thị Dung
Chuyên ngành đào tạo : Kinh tế nông nghiệp
Lớp : Kinh tế 49B
Niên khoá : 2004 - 2008
Giáo viên hớng dẫn : PGS.TS. Quyền Đình Hà
Hµ néi, n¨m 2008
ii
LờI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, mọi số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và cha hề đợc sử dụng.
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đợc cảm
ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đợc chỉ rõ nguồn gốc.
Tôi xin cam đoan, thời gian thực tập đợc thực hiện đúng với quy định của
nhà trờng.
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2008
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Dung
iii
LờI CảM ƠN
Tôi xin bày tỏ sự cám ơn trân trọng tới giáo viên hớng dẫn PGS.TS. Quyền
Đình Hà - Giảng viên Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - Ngời thầy đã dành nhiều
thời gian tâm huyết, tận tình hớng dẫn chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình thực hiện
đề tài này.
Tôi xin đợc bày tỏ tấm lòng biết ơn đến Ban giám hiệu Nhà trờng, các thầy cô
Bảng 4.5: Tình hình đất đai của hộ điều tra năm 2006 64
Bảng 4.6: Tình hình lao động việc làm của nhóm hộ điều tra 72
Bảng 4.7: Biến động trong thu nhập và cơ cấu thu nhập của nhóm hộ điều tra 75
Bảng 4.8: Phân bổ sử dụng tiền đền bù của nhóm hộ điều tra 78
Bảng 4.9: Nhận định của hộ về sự thay đổi cơ sở hạ tầng tại địa phương 80
Bảng 4.10: Thay đổi tư liệu sản xuất và tài sản của hộ 82
vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt Nghĩa
CC Cơ cấu
CN Công nghiệp
CNH - HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
BQ Bình quân
DN Doanh nghiệp
DT Diện tích
DV Dịch vụ
ĐVT Đơn vị tính
GD - ĐT Giáo dục - đào tạo
HCSN Hành chính sự nghiệp
HĐND Hội đồng nhân dân
KCN Khu công nghiệp
KD Kinh doanh
KHKT Khoa học kỹ thuật
KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình
LĐ Lao động
NN Nông nghiệp
XD Xây dựng
SL Số lượng
SX Sản xuất
SXNN Sản xuất nông nghiệp
phát triển hạ tầng, hạn chế ô nhiễm do chất thải công nghiệp gây ra. Phát triển
các KCN cũng để thúc đẩy các cơ sở sản xuất dịch vụ cùng phát triển, làm cơ sở
cho việc phát triển các khu đô thị, phân bố hợp lý lực lượng sản xuất.
Trong 15 năm qua, việc xây dựng và phát triển KCN đã được Nhà nước
đặc biệt quan tâm. Tính đến hết năm 2005, cả nước đã có 131 KCN và KCX
đã được quy hoạch phát triển, trong đó có 91 KCN và 3 KCX đã được chính
1
thức thành lập, với tổng diện tích 18.240 ha. Ngoài ra còn có 124 cụm công
nghiệp hoặc KCN vừa và nhỏ do các địa phương thành lập, tại 19 tỉnh, thành
phố với tổng diện tích hơn 6.500 ha. Hiện vẫn còn có gần 350 khu vực ở 54
tỉnh, thành phố kiến nghị đưa vào quy hoạch xây dựng thành KCN với tổng
diện tích khoảng 35.000 ha. Trong quy hoạch từ nay đến năm 2010, cả nước
sẽ thành lập và xây dựng mới gần 100 KCN, đồng thời mở rộng thêm gần 30
KCN khác, đưa tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp của các KCN từ 26,4%
hiện nay lên 35% và tỷ lệ xuất khẩu tăng 18,7% lên 32% vào 2010. Việc hình
thành và phát triển các cụm công nghiệp vừa và nhỏ ở các tỉnh đã góp phần
làm cho giá trị sản xuất công nghiệp tăng lên, cải thiện kinh tế địa phương,
tạo lợi thế phát triển của từng địa bàn và khu vực: thể hiện vai trò quan trọng
trong giải quyết việc làm, tạo thu nhập và đóng góp cho sự phát triển kinh tế
xã hội của ngành nghề nông thôn.
Nước ta có 3/4 dân số sống ở nông thôn, số hộ đói nghèo cũng tập
trung chủ yếu ở đây. Qua thực tiễn cho thấy để giải quyết vấn đề “xoá đói
giảm nghèo” một cách vững chắc thì việc quan trọng là phải hướng dẫn và tạo
điều kiện thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ công nghiệp nông thôn nhằm nâng
cao đời sống dân cư, phát triển nông thôn bền vững.
Việc chuyển đổi đất nông nghịêp sang mục đích sử dụng khác phục vụ
cho việc xây dựng các KCN là điều tất yếu sẽ diễn ra. Xu hướng này đang
diễn ra mạnh mẽ ở nhiều nhiều vùng ven đô và nông thôn. Diện tích đất nông
nghiệp thì giảm xuống còn diện tích đất chuyên dùng, đất ở có xu hướng tăng
lên trong khi quỹ đất đai có hạn. Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất phải
đất ven khu công nghiệp.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng khu công
nghiệp ảnh hưởng đến sinh kế của người dân.
Nghiên cứu thực trạng vấn đề xây dựng KCN, sinh kế của người dân
sau khhi bị thu hồi đất trên địa bàn nghiên cứu.
3
Nghiên cứu ảnh hưởng của việc xây dựng KCN đến sinh kế của người
dân ven KCN.
Từ những nghiên cứu trên đưa ra những ảnh hưởng tích cực, tiêu cực
đến sinh kế của người dân. Từ đó đề xuất một số giải pháp giúp chính quyền
địa phương có những chính sách giải quyết lao động, việc làm, nâng cao thu
nhập giúp ổn định và nâng cao đời sống của hộ nông dân.
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Các hộ nông dân ven khu công nghiệp bị thu hồi đất và không bị mất
đất nhưng chịu ảnh hưởng của việc xây dựng khu công nghiệp.
Lao động, việc làm, thu nhập, đời sống kinh tế - văn hoá – chính trị của
các hộ nông dân sau khi xây dựng KCN
1.4 Phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Phạm vi nội dung
Nghiên cứu thực trạng xây dựng KCN và những ảnh hưởng của nó đến
sinh kế của người dân ven KCN.
1.4.2 Phạm vi không gian
Đề tài nghiên cứu tại xã Ái Quốc, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
1.4.3 Phạm vi thời gian
Đề tài tiến hành điều tra thu thập số liệu thời gian từ năm 2001 đến
2007. Thời gian thu thập số liệu sơ cấp từ tháng 2 đến tháng 5/2008.
4
Phần II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở lý luận
xuất nên có điều kiện thuận lợi trong việc kiểm soát xử lý chất thải và bảo vệ
môi trường. KCN là địa điểm tốt nhất để di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm
từ các đô thị, thành phố lớn, phục vụ mục tiêu phát triển công nghiệp bền vững.
+ Là hạt nhân thúc đẩy phát triển kinh tế vùng, lãnh thổ, đẩy nhanh tốc
độ đô thị hoá. Xây dựng KCN là nhân tố thúc đẩy tốc độ đô thị hoá và tác
động lan toả tích cực trong việc CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn.
+ KCN còn có vai trò quan trọng trong chính sách đối ngoại của các
quốc gia. KCN là nơi thử nghiệm chính sách kinh tế mới đặc biệt là chính
sách kinh tế đối ngoại. KCN luôn đi đầu trong việc phát triển chính sách kinh
tế đối ngoại và của toàn bộ nền kinh tế.
+ KCN đóng vai trò tiên phong trong sự phát triển kinh tế quốc dân.
KCN sẽ là đầu tầu tăng trưởng kinh tế, kéo theo sự phát triển ở những vùng
lân cận và những vùng khác của đất nước.
Các KCN là do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập và quản lý
theo một quy chế riêng.
Theo quy chế KCN, ban hành theo quyết định 36/CP ngày 24/4/1997
KCN là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và
thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới, địa lý xác định,
không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết
định thành lập. Trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất.
=> KCN là một khu vực lãnh thổ hữu hạn được phân cách trong đường
bao hữu hình hoặc vô hình. Được phân bổ tập trung với hạt nhân là doanh
nghiệp sản xuất công nghiệp (hay tiêu dùng, công nghệ chế biến, tư liệu sản
xuất) và hệ thống doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ với doanh nghiệp dịch vụ
cho sản xuất công nghiệp.
6
Các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và dịch vụ cho sản xuất công
nghiệp sử dụng hạ tầng kỹ thuật và xã hội theo cơ chế tổ chức quản lý thống
nhất của Ban quản lý KCN. Trong KCN có doanh nghiệp xây dựng KCN, có
trách nhiệm đảm bảo hạ tầng kỹ thuật và xã hội của cả khu trong thời gian tồn
xuất, nhập khẩu vật tư, hàng hoá cho sản xuất, thủ tục hải quan, thuế, tuyển
dụng lao động…trong khi các doanh nghiệp công nghiệp ở ngoài khu công
nghiệp rất vất vả khi phải giải quyết các vấn đề nêu trên.
+ Đối với phát triển kinh tế xã hội vùng: Trên cơ sở lợi thế của vùng,
xây dựng KCN vừa khai thác lợi thế của vùng vừa tránh được đầu tư phân
tán, phát huy được hiệu quả của vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Phát triển
KCN là phát triển công nghiệp theo quy hoạch, bảo vệ môi trường, tiết kiệm
và phát huy hiệu quả sử dụng đất và các nguồn lực khác, hình thành các đô thị
mới, thực hiện văn minh, tiến bộ xã hội, giảm khoảng cách giữa các vùng
nông thôn và thành thị. Phát triển KCN là giải pháp quan trọng trong chuyển
dịch cơ cấu kinh tế giữa các vùng.
+ Đối với CNH - HĐH đất nước: Với tính chất “vùng lãnh thổ” như đã
nêu ở trên, KCN là công cụ hữu hiệu thu hút vốn đầu tư, đặc biệt là vốn đầu
tư nước ngoài, mặt khác KCN cũng là nơi du nhập kỹ thuật, công nghệ tiên
tiến và học tập kinh nghiệm quản lý của các công ty tư bản nước ngoài. Qua
hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong KCN, đã
hình thành một đội ngũ cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật
có trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới cũng như trình độ quản lý phù
hợp với cơ chế mới và phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Đây là những điều kiện cần thiết để thực hiện CNH - HĐH đất nước.
+ Đối với hội nhập kinh tế quốc tế: như đã phân tích ở trên, hàng hoá
trong KCN một mặt cung cấp thị trường nội địa để đảm bảo đủ sức cạnh tranh
và ngăn chặn hàng nhập lậu từ các nước khác, mặt khác KCN là khu sản xuất
hàng hoá xuất khẩu hướng ra thị trường thế giới được coi như là một cửa ngõ
khai thông nền kinh tế trong nước với nền kinh tế trong khu vực và thế giới.
8
Tóm lại : KCN là một hình thức tổ chức kinh tế công nghiệp tiên tiến,
hữu hiệu, phù hợp và khả thi cho các nước đang phát triển nói chung và Việt
Nam nói riêng, là một xu thế phát triển tất yếu của quá trình CNH - HĐH và
hội nhập kinh tế quốc tế trong suốt giai đoạn đổi mới và xây dựng cơ sở vật
của nghèo đói, giúp xác lập ưu tiên tốt hơn cho những hành động xoá nghèo.
*Nội dung:
Nội dung của sinh kế được thể hiện trong khung sinh kế do Bộ phát
triển quốc tế của Chính phủ Anh (DFID) xây dựng. Trong khung này thể hiện
những nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới sinh kế của người dân và sự liên quan
giữa các nhân tố đó. Con người được lấy làm trung tâm trong khung sinh kế
bền vững. Khung sinh kế giải thích mối quan hệ giữa con người, sinh kế, môi
trường, chính sách và các thiết chế. Có 5 nhóm tác nhân chính trong khung
sinh kế bền vững: Nguồn lực sinh kế, Bối cảnh dễ tổn thương, Chính sách,
tiến trình và cơ cấu, Chiến lược sinh kế, Kết quả sinh kế.
Mục đích của sử dụng khung sinh kế là để tìm hiểu những cách thức
mà con người đã kết hợp và sử dụng các nguồn lực, khả năng nhằm kiếm
sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện. Những mục tiệu và
ước nguyện mà con người đạt được nhờ sử dụng và kết hợp các nguồn lực
khác nhau có thể gọi là kết quả của sinh kế. Đây là những thứ mà con người
muốn đạt được trong cuộc sống kể cả trước mắt cũng như lâu dài.
- Nghiên cứu kết quả sinh kế sẽ cho chúng ta hiểu được động lực nào
dẫn tới các hoạt động mà họ đang thực hiện và những ưu tiên của họ là gì.
Đồng thời nghiên cứu kết quả sinh kế cũng cho thấy phản ứng của người dân
trước những cơ hội mới. Kết quả sinh kế thể hiện trên chỉ số như cuộc sống
hưng thịnh hơn, đời sống được nâng cao hơn, khả năng tổn thương được
giảm, an ninh lương thực được củng cố và sử dụng bền vững hơn các nguồn
tài nguyên thiên nhiên. Để có những mong ước và mục tiêu của mình, con
người cần phải kết hợp và sử dụng các nguồn lực khác nhau như đất đai, vốn,
khoa học kỹ thuật… Và bên cạnh đó khả năng sử dụng và tiếp cận của con
10
người với các nguồn lực này là khác nhau do đó có thể nói rằng sinh kế của
con người phụ thuộc vào khối lượng và chất lượng của những nguồn vốn mà
họ có hoặc có thể tiếp cận.
- Nguồn lực sinh kế hay còn gọi là tài sản sinh kế, vốn sinh kế. Nguồn
nhiều vào thị trường và việc làm trong nền kinh tế. Người dân có thể sử dụng
những gì họ có thể tiếp cận được để tồn tại hoặc cải thiện tình hình hiện tại.
Chiến lược sinh kế bao gồm những lựa chọn và quyết định của người dân
về những việc như: họ đầu tư vào nguồn vốn và sự kết hợp tài sản sinh kế nào,
quy mô của các hoạt động tạo thu nhập họ đang theo đuổi, cách thức họ quản lý
như thế nào để bảo tồn các tài sản sinh kế và thu nhập, cách thức họ thu nhận và
phát triển như thế nào những kiến thức, kỹ năng cần thiết để kiếm sống, họ sẽ
đối phó với các rủi ro như thế nào và sử dụng thời gian và công sức như thế nào.
- Trong quá trình kết hợp và sử dụng các tài sản sinh kế, con người
thường xuyên chịu những tác động không mong muốn làm ảnh hưởng tới kết
quả sinh kế. Sự xuất hiện của các yếu tố này gây tổn thương cho sinh kế của
người dân, làm người dân lâm vào các loại sốc và khủng hoảng. Đó là bối
cảnh dễ tổn thương hay còn gọi là phạm vi rủi ro. Những thay đổi trong bối
cảnh dễ tổn thương thường xảy ra theo ba con đường: Chiều hướng, thời vụ
và chấn động (sốc).
Chiều hướng là thay đổi tuần tự, có thể dự kiến được một phần chiều
hướng thay đổi. Ví dụ: Phát triển KCN sẽ mở rộng quy mô dân số ở trong
vùng có KCN và những vùng lân cận, hay vấn đề ô nhiễm môi trường trong
vùng có KCN.
Tính thời vụ là những biến đổi theo chu kỳ, có thể dự báo trước được
một phần xu hướng biến động của nó. Ví dụ: Biến động giá đầu vào - đầu ra
theo vụ sản xuất, mùa vụ hay xảy ra dịch bệnh trong chăn nuôi, lao động nông
nghiệp đi tìm việc làm phi nông nghiệp trong lúc nông nhàn.
Chấn động là những thay đổi bột phát đã gây ra những cú sốc lớn. Khả
năng dự báo đối với chấn động là rất khó và hầu như không thể dự báo được
12
một cách chắc chắn. Ví dụ: Tăng giá, rớt giá, núi lửa, lốc xoáy, sự sụt đất, hạn
hán, lũ lụt, động đất, chiến tranh…
- Sinh kế của người dân còn chịu những tác động của các thể chế và
chính sách. Các thể chế và chính sách bao gồm một loạt những yếu tố liên
-Văn hoá
Kết quả sinh
kế
-Tăng thu
nhập
-Cuộc sống
đầy đủ
-Giảm khả
năng tổn
thương
-Sử dụng bền
vững hơn các
nguồn tự
nhiên
Vốn
sinh
kế
Chiến lược
sinh kế
F
H
S
N
P
13
2.1.3 Tác động của việc xây dựng KCN đối với sinh kế
Việc xây dựng KCN có ảnh hưởng lớn đến mọi mặt kinh tế xã hội và đời
sống của người dân ở địa phương có KCN nói riêng và người dân trên cả nước
nói chung, nó làm thay đổi cục diện của nền kinh tế, thay đổi cơ cấu thu nhập,
cơ cấu lao động, nếp sống, thói quen của người dân… theo cả hướng tích cực
đào tạo lao động tốt hơn hoặc đầu tư vào mở rộng các ngành nghề mới…
Việc thu hồi đất cho xây dựng KCN thời gian qua đã góp phần rất lớn
vào việc phát triển nền kinh tế - xã hội của đất nước. Chúng ta đã xây dựng
được hàng trăm KCN, đã thu hút được hàng chục ngàn dự án đầu tư của các
nhà đầu tư ở trong và ngoài nước với số vốn vài chục tỷ USD và hàng trăm
ngàn tỷ đồng Việt Nam. Cơ cấu của nền kinh tế nước nhà nhờ đó đã chuyển
dần theo hướng tiến bộ, tỷ trọng của khu vực nông nghiệp trong toàn bộ GDP
của đất nước giảm nhanh, tỷ trọng của khu vực công nghiệp và dịch vụ tăng
ngày càng hợp lý. Trình độ công nghệ của các ngành sản xuất được cải thiện
rõ rệt. Hàng triệu lao động được giải quyết việc làm với thu nhập cao hơn, ổn
định hơn. Các tỉnh, thành phố thu hút được nhiều lao động vào làm việc trong
các KCN là : Đồng Nai 190 ngàn người, Hà Nội 15 ngàn người, Đà Nẵng
14,5 ngàn người và Bình Định 12 ngàn người.
* Tác động tiêu cực:
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc thu hồi đất phát triển các
KCN cũng đang đặt ra nhiều vấn đề bức xúc, nhất là trong lĩnh vực giải quyết
việc làm,cho lao động nông nghiệp bị thu hồi đất.
Theo một khảo sát của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội mới đây,
trung bình mỗi hộ nơi thu hồi đất có 1,5 lao động rơi vào tình trạng không có
việc làm và mỗi ha đất nông nghiệp bị thu hồi có tới 13 lao động mất việc làm
trong nông nghiệp. Như vậy, với 157.000 ha đất đã được chuyển đổi trong
giai đoạn 2000-2004 có tới 20,41 vạn lao động nông nghiệp phải chuyển đổi
nghề nghiệp. Với số lượng 950.000 lao động được thu hút vào các KCN cũng
15
có nghĩa là còn trên 50% số lao động bị mất việc làm giải phóng khỏi nông
nghiệp rơi vào tình trạng không có việc làm. Số người không có việc làm tăng
là điều rất đáng lo ngại. Trong số những người có việc làm, số người có việc
làm gắn với quá trình công nghiệp hoá tăng rất ít (công nghiệp chỉ tăng
2,79%, trong khi làm thuê và xe ôm tăng 3,64%, buôn bán nhỏ tăng 2,72%).
Hơn nữa tình trạng việc làm cũng rất xấu. Trong số những hộ có việc làm, số
phẩm trong vùng sẽ tăng lên, từ đó hình thành mạng lưới dịch vụ ở địa
phương có KCN sẽ phát triển tạo điều kiện nâng cao thu nhập.
Do có KCN nên chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương theo hướng
tốt hơn vì thế các hộ nắm bắt được cơ hội việc làm mới nhờ đó thu nhập cao
hơn nhiều so với trước đây.
* Tác động tiêu cực: Khi xây dựng KCN thì những hộ mất đất do
không chuyển đổi được việc làm sẽ không có việc làm từ đó dẫn tới thu nhập
ngày càng thấp.
Khi có KCN sẽ kéo theo nhiều tầng lớp xã hội nơi khác tới để tham gia
vào lược lượng lao động cũng như dịch vụ ở đây do đó sẽ phát sinh nhiều tệ
nạn xã hội, do trình độ nhận thức của một bộ phận người dân chưa cao sẽ mắc
vào các tệ nạn xã hội làm cho kinh tế gia đình sẽ đi xuống so với trước đây.
Dù kinh tế xã hội phát triển nhưng một bộ phận nông dân do nhượng
đất không có khả năng tự cung cấp các nhu cầu thiết yếu cho đời sống hàng
ngày nên phải mua mà giá cả thì tăng hơn trước nhiều nên cuộc sống vật chất
lại thấp hơn trước do chi tiêu tăng nhanh hơn thu nhập.
Xây dựng KCN có ảnh hưởng đến mọi mặt kinh tế - đời sống xã hội –
văn hoá của khu vực. KCN đi vào hoạt động thì nhiều công trình đường giao
thông, chợ, bưu điện, ngân hàng, bệnh viện, trường học… cũng được đầu tư
và xây dựng nhiều để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của hộ dân. Bộ mặt văn
hoá của địa phương được thay đổi, nếp sống của cộng đồng thay đổi theo
17
hướng tốt lên, các hộ nông dân có điều kiện tiếp xúc với phương tiện thông
tin đại chúng nhiều hơn…Bên cạnh đó do đời sống kinh tế được nâng cao lại
xuất hiện nhiều tệ nạn xã hội, phong tục tập quán của địa phương dần mất đi
do lối sống đô thị thâm nhập vào, môi trường ô nhiễm hơn trước do chất thải
của các nhà máy trong KCN và chất thải sinh hoạt của số đông công nhân đến
sinh sống làm việc tại địa phương.
2.1.3.3 Tác động đến nguồn lực tự nhiên
*Tác động tích cực: