PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong bối cảnh mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động xuất nhập
khẩu của các nước là thước đo đánh giá kết quả của quá trình hội nhập quốc tế
và phát triển trong mối quan hệ phụ thuộc vào nhau giữa các quốc gia.
Hoạt động xuất nhập khẩu còn là yếu tố quan trọng nhằm phát huy mọi
nguồn nội lực, tạo thêm vốn đầu tư để đổi mới công nghệ, tăng thêm việc làm,
thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
Đẩy mạnh xuất khẩu nông sản hàng hóa được coi là chiến lược lâu dài của
Đảng và Nhà nước ta. Nông sản ngay từ đầu đã được xác định là mặt hàng xuất
khẩu chủ lực của Việt Nam. Với ưu thế về điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc
nuôi trồng tạo nguồn hàng xuất khẩu cao hàng đầu trong các nhóm hàng chủ lực,
nông sản hàng hóa chiếm tỷ trọng lớn trong các mặt hàng xuất khẩu. Tuy nhiên
đa số các mặt hàng xuất khẩu của ta đều ở dưới dạng thô nên khối lượng nông
sản xuất khẩu cao nhưng kim ngạch xuất khẩu lại thấp. Chính vì lý do trên mà
việc chế biến nông sản trước khi xuất khẩu là một việc làm cần thiết để bảo quản
nông sản trong thời gian lâu hơn, giảm tối đa sự hư hỏng trong quá trình vận
chuyển và nâng cao được giá trị hàng nông sản.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay các doanh nghiệp nhỏ và vừa xuất
hiện ngày càng nhiều, hiệu quả hoạt động của họ đóng góp đáng kể vào nền kinh
tế quốc dân. Nhà nước ta hiện nay đang khuyến khích các doanh nghiệp này
hoạt động và đã có một số chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp trên. Công ty Dưa
& Dưa là một công ty TNHH nhỏ chuyên kinh doanh trong lĩnh vực xuất khẩu
nông sản hàng hóa đã qua chế biến. Các sản phẩm của công ty được chế biến từ
các loại nông sản rất phổ biến ở Việt Nam là cà chua, dưa chuột, dứa… Các mặt
1
hàng của công ty rất được ưa chuộng tại Nga và các nước Đông Âu. Trong
những năm vừa qua do sự biến động của giá cả thị trường và chịu sự ảnh hưởng
hóa đã qua chế biến của công ty Dưa & Dưa: thực trạng xuất khẩu các sản phẩm
của công ty, các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu, từ đó đưa ra các giải
pháp đẩy mạnh xuất khẩu nông sản đối với công ty.
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Phạm vi về không gian
Đề tài tiến hành nghiên cứu tại công ty TNHH Dưa & Dưa, trụ sở đặt tại
số 28, ngách 56, ngõ 127, phố Hào Nam, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa,
thành phố Hà Nội.
1.4.2 Phạm vi về thời gian
Đề tài được thực hiện trong thời gian từ tháng 12/2009 đến tháng 5/2010.
trong thời gian này tôi tiến hành thu thập các số liệu, phân tích và đưa ra các
đánh giá của mình về hoạt động xuất khẩu của công ty, qua đó đưa ra các giải
pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của công ty. Cụ thể như sau:
Số liệu thứ cấp: sử dụng các số liệu về kết quả hoạt động kinh doanh của
công ty trong khoảng thời gian 3 năm: 2007-2009.
Số liệu sơ cấp: tiến hành các cuộc phỏng vấn những người có liên quan đến
hoạt động của công ty trong thời gian thực tập tại công ty từ tháng 12/2009 –
5/2010.
3
PHẦN II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Lí luận về tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm là quá trình chuyển đổi giá trị và giá trị sử dụng của
hàng hóa. Qua tiêu thụ, hàng hóa chuyển đổi từ hình thái hiện vật sang hình thái
tiền tệ và vòng chu chuyển vốn của doanh nghiệp được hoàn thành. Đây là giai
đoạn cuối cùng của sản xuất kinh doanh, quyết định đến sự tồn tại và phát triển
của doanh nghiệp. Ở giai đoạn này, sản phẩm thoát khỏi giai đoạn sản xuất, qua
khâu nghiên cứu từ khâu nghiên cứu, dự báo thị trường, lựa chọn phương thức
tiêu thụ, xác định giá và công tác hỗ trợ tiêu thụ.
2.1.1 Xuất khẩu và hình thức xuất khẩu
2.1.1.1 Khái niệm về xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu hàng hóa là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho một
quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền làm phương tiện thanh toán. Tiền tệ ở đây có
thể coi là ngoại tệ đối với một quốc gia hoặc cả hai quốc gia.
Cơ sở của hoạt động xuất khẩu hàng hóa là hoạt động mua bán và trao
đổi hàng hóa giữa các nước. Khi việc trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia có lợi,
các quốc gia đều quan tâm và mở rộng hoạt động này.
Trên thực tế, bất cứ quốc gia nào muốn đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế
của mình đều phải mở rộng quan hệ đối ngoại đối với các nước khác. Đối với
nước ta đang trong quá trình CNH – HĐH, do đó trao đổi hàng hóa đối với nước
ngoài là hết sức cần thiết.
5
Hoạt động xuất khẩu hàng hóa là một trong hai hình thức cơ bản của hoạt
động ngoại thương đã xuất hiện lâu đời và ngày càng phát triển. Tuy hình thức
cơ bản là trao đổi hàng hóa vàg dịch vụ giữa các nước nhưng hiện nay nó được
biểu hiện ở nhiều hình thức khác nhau trên nhiều lĩnh vực và nhiều đều kiện
kinh tế.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rất rộng, cả về điều kiện không
gian lẫn thời gian. Nó có thể được diễn ra trong một hai ngày hoặc kéo dài hàng
năm, có thể được tiến hành trong phạm vi một quốc gia hay nhiều quốc gia khác
nhau. Chính vì thế trong quá trình thực hiện giao dịch giữa các quốc gia thường
gặp một số khó khăn trở ngại như: không cùng ngôn ngữ, luật lệ, chính sách
ngoại thương, phương tiện thanh toán, chế độ quản lí ngoại hối, khoảng cách địa
lí, phong tục tập quán…
ngoài thông qua người trung gian (thông qua người thứ ba). Các trung gian mua
bán chủ yếu trong kinh doanh xuất khẩu củ yếu là: đại lí, công ty quản lí xuất
nhập khẩu và công ty kinh doanh xuất nhập khẩu. Các trung gian mua bán hàng
này không chiếm hữu hàng hóa của doanh nghiệp nhưng trợ giúp doanh nghiệp
xuất khẩu hàng hóa dịch vụ sang thị trường nước ngoài.
2.1.3 Vai trò của hoạt động xuất khẩu
a, Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với một nền kinh tế:
• Xuất khẩu tạo nguồn thu ngoại tệ đảm bảo nhu cầu nhập khẩu.
Sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia phụ thuộc vào 4 nhân tố đó là:
vốn, công nghệ, nhân lực và tài nguyên. Song không phải quốc gia nào cũng có
7
đầy đủ cả 4 yếu tố này đặc biệt là đối với các quốc gia đang phát triển và chậm
phát triển.
Mô hình:
Thiếu vốn
Khả năng sản xuất kém
Công nghệ lạc hậu
Hiện nay hầu hết các quốc gia đang phát triển và chậm phát triển đều thiếu
vốn thế nên họ không có cơ hội để nhập khẩu công nghệ hiện đại và không thể
đầu tư nâng cao trình độ nguồn nhân lực do đó trình độ sản xuất của họ rất thấp.
Ngược lại trình độ sản xuất thấp lại chính là nguyên nhân làm cho quốc gia này
thiếu vốn. Vì vậy, đây chính là một vòng luẩn quẩn của các quốc gia đang phát
triển và chậm phát triển. Để thoát khỏi vòng luẩn quẩn này buộc các quốc gia
này phải có vốn để nhập khẩu công nghệ tiên tiến mà trong nước chưa sản xuất
Quốc gia
Việt Nam
Đài Loan
Thép ( kg/1 công )
1
6
Vải ( m/1h công )
4
3
Hàng hóa
Qua bảng số liệu trong ta thấy: trong ngành sản xuất thép năng suất lao
động của Đài Loan lớn hơn năng suất lao động của Việt Nam. Tuy nhiên trong
ngành sản xuất vải thì Việt Nam lại có năng suất lao động lớn hơn. Do vậy Việt
Nam có lợi thế trong sản xuất thép còn Đài Loan có lợi thế trong sản xuất vải.
Theo quy luật lợi thế so sánh, cả hai quốc gia sẽ cùng có lợi nếu Việt Nam
chuyên môn hoá sản xuất vải còn Đài Loan chuyên môn hoá sản xuất thép. Sau
9
10
quản lý mới, khoa học công nghệ hiện đại nên trình độ của người lao động cũng
được cải thiện để đáp ứng với yêu cầu chung của thị trường quốc tế.
• Hoạt động xuất khẩu nâng cao uy tín của quốc gia trên trường quốc tế:
Để đánh giá uy tín của một quốc gia người ta thường dựa vào 4 điều kiện
đó là: GDP, lạm phát, thất nghiệp và cán cân thanh toán. Hoạt động xuất khẩu
đem lại nguồn thu ngoại tệ, góp phần làm cân bằng cán cân thanh toán do vậy là
một trong bốn điều kiện đánh giá sự phát triển kinh tế của một quốc gia : Cao
hơn nữa hoạt động xuất khẩu làm tăng tích lũy ngoại tệ của một quốc gia và có
thể biến quốc gia trở thành quốc gia xuất siêu và tạo sự đảm bảo trong thanh
toán cho đối tác, tăng được uy tín trong kinh doanh. Qua hoạt động xuất khẩu,
hàng hóa của quốc gia được bày bán trên thị trường thế giới, khuếch trương
tiếng vang và sự hiểu biết từ nước ngoài. Ngoài ra hoạt động xuất khẩu làm tiền
đề cho các hoạt động kinh tế đối ngoại khác như: Dịch vụ, ngân hàng, đầu tư,
hợp tác liên doanh... và làm cho quan hệ giữa các nước trở nên chặt chẽ hơn.
b, Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với một doanh nghiệp:
Hoạt động xuất khẩu tạo cơ hội cho các doanh nghiệp tham gia vào cuộc
cạnh tranh về giá cả, chất lượng, mẫu mã hàng hóa trên thị trường thế giới.
Chính yếu tố này buộc doanh nghiệp phải năng động, sáng tạo hơn, phải không
ngừng nâng cao trình độ quản trị kinh doanh, tăng cường đầu tư đổi mới trang
thiết bị... để tự hoàn thiện mình.
Hoạt động xuất khẩu tạo cơ hội cho các doanh nghiệp mở rộng quan hệ
buôn bán với nhiều đối tác nước ngoài từ đó người lao động trong doanh nghiệp
có thể nâng cao năng lực chuyên môn của mình, tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm
quản lý của đối tác.
11
Muốn vậy doanh nghiệp phải xác định được các vấn đề sau:
- Mặt hàng thị trường đang cần là mặt hàng gì?
Điều này đòi hỏi phải bán cái mà thị trường cần chứ không phải bán cái mà ta
có. doanh nghiệp xuất khẩu cần phải tìm hiểu nhu cầu thị trường nước ngoài về
mạt hàng, quy cách, phẩm chất, mẫu mã, chủng loại, số lượng.
- Tình hình tiêu thụ mặt hàng đó như thế nào?
Mặt hàng được người tiêu dùng mua theo thói quen và được thể hiện ở: thời gian
tiêu dùng, thị hiếu tiêu dùng, quy luật biến động của quan hệ cung cầu mặt hàng
đó...Có nắm vững được điều này thì doanh nghiệp mới có thể đáp ứng được nhu
cầu của thị trường.
- Mặt hàng đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống?
Mỗi mặt hàng đều có một khoảng thời gian tồn tại nhất định, mỗi khoảng thời
gian này được thể hiện qua bốn pha của chu kỳ sống của sản phẩm bao gồm:
+
Pha triển khai: Về cơ bản chưa có sản phẩm và đơn vị cạnh tranh. Do
vậy doanh nghiệp cần phải nỗ lực làm cho khách hàng biết tới sản phẩm
của mình.
+
Pha tăng trưởng: sản phẩm được thị trường chấp nhận, doanh nghiệp
cần phải đẩy nhanh quá trình kinh doanh để đưa sản phẩm có tính độc đáo
của mình vào thị trường, qua đó tạo được môi trường tốt, tăng mở rộng thị
trường cho sản phẩm.
+
Pha bão hoà: Lúc này có sự cạnh tranh quyết liệt giữa các đơn vị
- Nhóm các nhân tố ảnh hưởng lâu dài đến dung lượng thị trường như:
các nhân tố thuộc nhóm này rất nhiều, chúng ảnh hưởng đến dung lượng thị
trường rất dài. VD: tiến bộ khoa học công nghệ, chế độ chính sách của nhà
nước, thị hiếu và tập quán của người tiêu dùng.
- Nhóm các nhân tố ảnh hưởng có tính tạm thời đến dung lượng thị trường.
Bao gồm sự đầu cơ trên thị trường làm đột biến tình hình cung, cầu trên thị
14
trường , sự biến động của các chính sách chính trị - xã hội, sự biến động của
thiên nhiên.
• Giá cả hàng hóa trên thị trường thế giới.
Đây là một vấn đề rất quan trọng. Giá cả hàng hóa trên thị trường sẽ phản
ánh quan hệ cung cầu hàng hóa đó trên thị trường thế giới. Xác định đúng đắn
giá cả hàng hóa có ý nghĩa to lớn đối với kết quả kinh doanh xuất khẩu. Trong
kinh doanh quốc tế việc xác định giá cả hàng hóa rất phức tạp do việc buôn bán
diễn ra trong một thời gian dài, hàng hóa vận chuyển qua nhiều nước khác nhau
với chính sách thuế khác nhau. Để đạt được hiệu quả cao trên thương trường
quốc tế đòi hỏi các nhà kinh doanh phải theo dõi, nghiên cứu sự biến động của
giá cả đồng thời phải có biện pháp tính toán, xác định giá một cách chính xác,
khoa học để giá thực sự trở thành một công cụ trong kinh doanh quốc tế. Thông
thường các nhà kinh doanh xuất khẩu xác định giá bán hàng hóa dựa trên ba căn
cứ:
- Căn cứ vào giá thành và các chi phí khác (chi phí vận chuyển, mua bảo
hiểm, chi phí bao bì, đóng gói...).
- Căn cứ vào sức mua và nhu cầu của người tiêu dùng.
- Căn cứ vào gía cả của hàng hóa cạnh tranh.
b. Lựa chọn đối tác giao dịch.
Lựa chọn đối tác giao dịch bao gồm các vấn đề lựa chọn nước để giao dịch
Uy tín và các mối quan hệ của thương nhân.
Việc lựa chọn đối tác sáng suốt và chính xác là cơ sở vững chắc để dẫn tới
thành công trong hoạt động xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ.
c. Lập kế hoạch kinh doanh.
Trên cơ sở những kết quả thu gom được trong quá trình nghiên cứu tiếp cận
thị trường, đơn vị kinh doanh lập phương án kinh doanh cho mình. Phương án
này là kế hoạch hoạt động của đơn vị nhằm đạt tới mục tiêu xác định trong kinh
doanh. Việc xây dựng phương án bao gồm:
- Đánh giá tình hình thị trường, dựa trên sự đánh giá đó doanh nghiệp sẽ
phác hoạ nên bức tranh tổng quát về hoạt động kinh doanh, những thuận lợi và
khó khăn.
- Lựa chọn mặt hàng, thời cơ, điều kiện và phương thức kinh doanh, sự
lựa chọn này phải có tính thuyết phục trên cơ sở phân tích tình hình có liên
quan.
- Đề ra mục tiêu cụ thể như: Sẽ bán được bao nhiêu hàng, giá bán bao
nhiêu, thâm nhập vào thị trường nào.
16
- Đề ra những biện pháp, cách thực hiện để đạt được những mục tiêu. Đó
có thể là các biện pháp trong nước (Đầu tư vào sản xuất, cải tiến bao bì, chất
lượng sản phẩm...) và những biện pháp ngoài nước (quảng cáo, tăng cường lập
chi nhánh ở nước ngoài tăng cường quan hệ bạn hàng...).
Một kế hoạch kinh doanh có khoa học dựa trên sự phân tích chuẩn xác và
đúng đắn về thị trường, bạn hàng cũng như nội lực của doanh nghiệp sẽ quyết
định nhiều đến thành công trong kinh doanh của doanh nghiệp.
d. Ký kết và thực hiện hợp đồng xuất khẩu.
• Ký kết hợp đồng xuất khẩu.
Điều3:
Thời gian, địa điểm và phương tiện giao hàng.
Điều4:
Điều kiện xếp hàng, cơ chế thưởng phạt.
Điều5:
Giám định hàng hóa.
Điều6:
Những chứng từ cần thiết cho lô hàng xuất khẩu.
Điều7:
Điều kiện thanh toán.
Điều8:
Trách nhiệm của các bên khi vi phạm hợp đồng.
Điều9:
Thủ tục giải quyết tranh chấp.
Điều10: Thời gian hiệu lực của hợp đồng.
Khi ký kết các hợp đồng cần phải lưu ý các vấn đề sau:
Giải quyết
khiếu nại
Hoàn thành bộ
CTTD
Mua bảo
hiểm
Giao hàng lên
tàu
2.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu
Bất kỳ một hoạt động thương mại nào cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của
môi trường kinh doanh. Môi trường kinh doanh có thể tạo điều kiện thuận lợi
thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp song cũng có thể tạo ra những
khó khăn, kìm hãm sự phát triển của hoạt động này.
Đối với hoạt động xuất khẩu - một trong những hoạt động quan trọng của
thương mại thì ảnh hưởng của môi trường kinh doanh đến hoạt động này càng
trở nên mạnh mẽ bởi trong thương mại quốc tế các yếu tố thuộc môi trường kinh
doanh rất phong phú và phức tạp. Ta có thể phân chia các nhân tố thuộc môi
trường kinh doanh tác động đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp thành
các nhóm sau:
2.1.5.1
Nhóm các nhân tố vĩ mô
a. Các công cụ của nhà nước trong quản lý kinh tế
Các quốc gia khác nhau thường có những chính sách thương mại khác nhau
thể hiện ý chí và mục tiêu của nhà nước trong việc can thiệp và điều chỉnh các
Ngoài hai công cụ thuế quan và hạn ngạch, một công cụ khác tinh vi hơn
ngày càng được nhiều quốc gia sử dụng đó là việc đề ra các tiêu chuẩn chất
lượng, kỹ thuật cho sản phẩm nhập khẩu. Đây là biện pháp phi thuế quan cũng
nhằm mục đích hạn chế lượng hàng xuất nhập khẩu của doanh nghiệp.
20
• Tỷ giá hối đoái và các chính sách đòn bẩy có liên quan nhằm khuyến
khích xuất khẩu
Tỷ giá hối đoái là sức mua của một đồng tiền so với đồng tiền khác. Sức
mua của đồng tiền là khả năng thanh toán của một đơn vị tiền tệ với một khối
lượng hàng xuất khẩu nhất định gắn liền với thanh thanh toán quốc tế. Trong
thanh toán quốc tế người ta thường sử dụng những đồng tiền mạnh như USD để
thanh toán. Nếu tỷ giá hối đoái tăng, tương đương với giá trị ngoại tệ tăng so với
nội tệ khi đó hoạt động xuất khẩu sẽ được khuyến khích. Ngược lại nếu tỷ giá
hối đoái giảm sẽ kìm hãm sự phát triển của hoạt động xuất khẩu.
Trợ cấp xuất khẩu cũng là một trong những biện pháp có tác dụng thúc đẩy,
mở rộng xuất khẩu đối với mặt hàng được khuyến khích xuất khẩu. Biện pháp
này thường được nhiều quốc gia sử dụng vì: Khi xâm nhập vào thị trường nước
ngoài doanh nghiệp sẽ gặp phải rủi ro cao hơn so với thị trường trong nước.
Việc trợ cấp xuất khẩu có thể được nhà nước sử dụng dưới nhiều hình thức như:
trợ giá, miễn giảm thuế xuất khẩu, hạ lãi suất vốn vay, hoặc cho bạn hàng nước
ngoài vay ưu đãi đẻ họ có điều kiện mua sản phẩm của nước mình...
• Các chính sách đối với cán cân thanh toán và thương mại
Việc đảm bảo cán cân thanh toán và cán cân thương mại sẽ góp phần củng
cố lòng tin của đối tác nước ngoài với quốc gia, nâng cao uy tín của quốc gia
trên trường quốc tế. Biện pháp để quốc gia có thể giữ cán cân thanh toán, cán
cân thương mại có thể là: Khuyến khích xuất khẩu, cấm nhập khẩu, hạn chế
nhập khẩu hoặc vay vốn. Tuy nhiên sự cân bằng theo các hình thức cấm nhập
định thương mại, liên minh kinh tế này sẽ trở thành một rào chắn lớn cho việc
xâm nhập và mở rộng thị trường của doanh nghiệp.
Tóm lại, có được những mối quan hệ mở rộng, bền vững và tốt đẹp sẽ tạo
tiền đề cho việc thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp.
22
c. Ảnh hưởng của nền sản xuất, thương mại trong nước và quốc tế
Sản xuất trong nước là nhân tố chủ yếu quyết định đến lượng cung hàng
xuất khẩu. Nếu nền sản xuất trong nước phát triển, khả năng cung ứng hàng xuất
khẩu sẽ tăng lên, giá cả thu mua hàng xuất khẩu sẽ giảm xuống, doanh nghiệp sẽ
gặp thuận lợi trong khâu đầu vào. Ngược lại, khi nền sản xuất trong nước bị
giảm sút dẫn tới giá cả hàng xuất khẩu sẽ tăng lên, doanh nghiệp sẽ gặp khó
khăn để chọn được hàng hóa có chất lượng cao, đồng loại phục vụ cho xuất
khẩu.
Đối với nền sản xuất nước ngoài thì ngược lại. Khi nền sản xuất nước ngoài
phát triển, nhu cầu nhập khẩu sẽ ít đi, khả năng xuất khẩu của các doanh nghiệp
vào thị trường của họ sẽ bị hạn chế. Ngược lại, khi nền sản xuất của họ bị giảm
sút, nhu cầu nhập khẩu của họ cao. Đây sẽ là thời cơ để doanh nghiệp thúc đẩy
hoạt động xuất khẩu của mình.
Vấn đề không đơn thuần chỉ có các yếu tố cung, cầu, giá cả mới tác động
đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp. Rất nhiều các yếu tố khác cũng tác
động đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp như: chất lượng, mẫu mã,
chủng loại của sản phẩm. Khi các yếu tố này đều tốt thì khả năng cạnh tranh của
sản phẩm trên thị trường quốc tế sẽ cao. Đây là một sự thuận lợi cho hoạt động
xuất khẩu của doanh nghiệp.
Ngoài ra, sự phát triển của hoạt động thương mại trong nước và quốc tế
cũng góp phần hạn chế hay khuyến khích xuất khẩu vì nó quyết định đến sự chu
chuyển hàng hóa trong nội bộ nền kinh tế của một quốc gia với nền kinh tế thế
a. Nguồn nhân lực
Con người là chủ thể của mọi hoạt động xã hội và hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp suy đến cùng cũng là do con người và vì con người. Bởi vậy
con người luôn được đặt ở vị trí trung tâm khi xem xét đến các vấn đề liên quan
đến doanh nghiệp. Một đội ngũ lao động vững vàng trong chuyên môn, có kinh
24
nghiệm trong buôn bán quốc tế, có khả năng ứng phó linh hoạt trước biến động
của thị trường và đặc biệt có lòng say mê trong công việc luôn là đội ngũ lý
tưởng trong hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp. Ngược lại, nếu nguồn
nhân lực của doanh nghiệp yếu kém về chất lượng và hạn chế về số lượng thì
doanh nghiệp sẽ luôn trong tình trạng bị động và kinh doanh kém hiệu quả. Như
vậy, nhân lực quyết định hoạt động của doanh nghiệp nên doanh nghiệp muốn
hoạt động có hiệu quả nhất thiết phải quan tâm tuyển chọn đội ngũ lao động
thực sự có năng lực, đồng thời chú trọng đến công tác quản lý nhằm tạo động
lực cho người lao động trong doanh nghiệp làm việc có hiệu quả.
b. Khả năng tài chính
Khả năng tài chính là một trong những nhân tố quyết định sức mạnh của
doanh nghiệp trong thời đại ngày nay. Nếu có tiềm lực tài chính mạnh, doanh
nghiệp sẽ có thể đầu tư đổi mới công nghệ, thu hút lao động có chất lượng cao,
mở rộng quy mô hoạt động. Ngoài ra khi có tiềm lực về tài chính doanh nghiệp
có trong thể thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của mình thông qua việc cấp tín dụng
cho khách hàng qua hình thức mua trả chậm.
Như vậy có thể nói hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chịu ảnh
hưởng lớn bởi khả năng tài chính của doanh nghiệp.
c. Vị trí địa lý
Nếu được bố trí ở gần nơi cung cấp các yếu tố đầu vào cho hoạt động sản