Nguyễn Đình Dương Chuyên đề tốt nghiệp
BẢN CAM ĐOAN
Em xin cam đoan toàn bộ nội dung của bài chuyên đề này không
sao chép cua bất kỳ ai. Nếu em sao chép, em xin chịu mọi hình
thức kỷ luật của nhà trường.
1
Nguyễn Đình Dương Chuyên đề tốt nghiệp
môc lôc
2
Nguyễn Đình Dương Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, dịch vụ vận tải, giao nhận đã phát triển rất nhanh
chóng ở nước ta. Sự phát triển của hoạt động vận tải, giao nhận có ý nghĩa hết sức
quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân, góp phần đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng
hoá xuất nhập khẩu giữa nước ta với các nước trên thế giới, tạo điều kiện đơn giản
hoá các thủ tục pháp lý, phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cao sức cạnh tranh của hàng
hoá Việt Nam trên thị trường thế giới.
Trong các lĩnh vực vận tải giao nhận, hoạt động chuyển phát nhanh hàng hoá
và chứng từ là một lĩnh vực mới mẻ nhưng đầy tiềm năng. Từ chỗ là hình thức độc
quyền của hệ thống bưu điện Nhà nước, đến nay loại hình này đã thu hút rất nhiều
doanh nghiệp nước ngoài như: DHL, TNT, Fedex và cả những doanh nghiệp trong
nước như Netco, Toàn cầu, AT Express, APS, Thái Bình Dương… tham gia hoạt
động. Loại hình chuyển phát nhanh mang những đặc trưng chung của hoạt động vận
tải giao nhận. Bên cạnh đó, hoạt động chuyển phát nhanh cũng mang những đặc điểm
riêng . Với tính cấp thiết của đề tài này, em đã xin thực tập tại công ty chuyển phát
nhanh TNT – Vietrans để viết thu hoạch “Một số giải pháp nhằm hoàn thiện dịch vụ
giao nhận hàng hóa xuất khẩu bằng đường hàng không tại công ty TNHH TNT –
Vietrans Express World wide ”.
Do hạn chế về mặt thời gian nên bài chuyên đề tốt nghiệp này chỉ giới hạn ở
quy trình hàng xuất mà chưa đề cập đến thủ tục đối với hàng nhập.
Chuyên đề này dùng làm tài liệu để công ty tham khảo và hoàn thiện hơn quy trình
b) Hàng dễ hư hỏng: Hoa, quả tươi, rau, thực phẩm.
c) Hàng nhạy cảm với thị trường như: Quần áo, đồ chơi, hàng phục vụ lễ tế.
d) Động vật sống.
Vận tải hàng không có những ưu điểm:
- tuyến đường là không trùng và hầu như là đường thẳng, không tốn kém chi
phí xây dựng.
- Tốc độ vận tải của hàng không rất cao: Vận tải hàng không có thể đạt tốc độ
900 đến 1000 km/h, gấp tốc độ của tàu biển 27 lần, của oto 10 lần, của tàu
hỏa 8 lần.
- Đảm bảo tính an toàn cho hàng hóa hơn các phương thức vận tải khác.
5
Nguyễn Đình Dương Chuyên đề tốt nghiệp
- Luôn đòi hoi sử dụng công nghệ cao.
Nhược điểm của vận tải hàng không:
- Giá cước cao: Gấp đường biển 8 lần, gấp đường sắt và oto từ 2-4 lần
- Không thích hợp cho việc vận chuyển những hàng hóa có giá trị thấp, khối
lượng lớn và cồng kềnh.
- Tính cơ động và linh hoạt kém.
- Đòi hỏi vốn đầu tư lớn cho xây dưng cơ sơ vật chất-kỹ thuật.
1.2. Định nghĩa về giao nhận và người giao nhận:
Đặc điểm nổi bật của buôn bán quốc tế là người mua, người bán ở những nước
khác nhau. Sau khi hợp đồng mua bán được ký kết, người bán thực hiện việc giao
hàng, tức là hàng hoá được vận chuyển từ nước người bán sang nước người mua. Để
quá trình vận chuyển đó bắt đầu được, tiếp tục được và kết thúc được, tức là hàng hoá
đến tận tay người mua được, cần phải thực hiện hàng loạt các công việc khác liên
quan đến quá trình chuyên chở như đóng gói, bao bì, lưu kho, đưa hàng ra sân bay,
làm các thủ tục gửi hàng, xếp hàng lên tàu, chuyển tải hàng hoá ở dọc đường, dỡ
hàng ra khỏi tàu và giao cho người nhận. Những công việc đó được gọi là dịch vụ
giao nhận.
Dịch vụ giao nhận (Freight Forwarding Service), theo Quy tắc mẫu của FIATA
người giao nhận không chỉ làm đại lý, người uỷ thác mà còn cung cấp dịch vụ vận tải
và đóng vai trò như một tên chính (Principal) - người chuyên chở (Carrier).
Người giao nhận đã làm chức năng và công việc của những người sau đây:
1.3.1. Người chuyên chở (Carrier):
Ngày nay trong nhiều trường hợp, người giao nhận đóng vai trò là người
chuyên chở, tức là người giao nhận trực tiếp ký kết hợp đồng vận tải với chủ hàng và
chịu trách nhiệm chuyên chở hàng hoá từ một nơi này đến một nơi khác. Người giao
7
Nguyễn Đình Dương Chuyên đề tốt nghiệp
nhận đóng vai trò là người thầu chuyên chở (Contracting Carrier), nếu anh ta ký hợp
đồng mà không trực tiếp chuyên chở. Nếu anh ta trực tiếp chuyên chở thì anh ta là
người chuyên chở thực tế (Performing/ Actul Carrier).
1.3.2. Người kinh doanh vận tải đã phương thức (MTO):
Trong trường hợp người giao nhận cung cấp dịch vụ vận tải đi suốt hoặc còn
gọi là vận tải “từ cửa đến cửa” thì người giao nhận đã đóng vai trò là người kinh
doanh vận tải đã phương thức (Multimodal Transport Operator - MTO). MTO cũng
là người chuyên chở và phải chịu trách nhiệm đối với hàng hoá trong suốt hành trình
vận tải.
Người giao nhận còn được coi là “kiến trúc sư của vận tải” (Architect of
Transport), vì người giao nhận có khả năng tổ chức quá trình vận tải một cách tốt
nhất, an toàn nhất và tiết kiệm nhất.
1.3.3. Môi giới hải quan (Customs Broker):
Thuở ban đầu, người giao nhận chỉ hoạt động trong nước. Nhiệm vụ của người
giao nhận lúc bấy giờ là làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu. Sau đó anh
ta mở rộng ra cả hoạt động xuất khẩu và dành chỗ chở hàng trong vận tải quốc tế
hoặc lưu cước với các hãng máy bay theo uỷ thác của người xuất khẩu hoặc nhập
khẩu, tuỳ thuộc vào hợp đồng mua bán. Trên cơ sở được Nhà nước cho phép, người
giao nhận thay mặt người xuất khẩu, nhập khẩu để khai báo, làm thủ tục hải quan như
một môi giới hải quan.
8
1.5. Trách nhiệm của người giao nhận:
Khi người giao nhận đóng vai trò là đại lý, người giao nhận sẽ đương nhiên
phải chịu trách nhiệm do lỗi lầm sai sót của bản thân mình. Lỗi lầm sai sót đó có thể
là giao hàng không đúng những chỉ dẫn của khách hàng, gửi hàng sai địa chỉ, lập
chứng từ nhầm, làm sai thủ tục hải quan, không thông báo hoặc thông báo muộn cho
chủ hàng khiến hàng phải lưu kho làm ảnh hưởng tới chất lượng hàng hoá đồng thời
làm tăng chi phí.Trong trường hợp những tổn thất mà do bên thứ ba (người chuyên
chở, người ký hợp đồng phụ với người chuyên chở.) gây ra thì người giao nhận
không phải chịu trách nhiệm, miễn là chứng minh được tổn thất đó là do bên thứ ba
gây ra.
Khi người giao nhận đóng vai trò là người uỷ thác, ngoài những trách nhiệm là
đại lý nói trên, thì người giao nhận còn phải chịu trách nhiệm về cả những tổn thất do
bên thứ ba mà người giao nhận sử dụng để thực hiện hợp đồng gây ra. Trong trường
hợp này, người giao nhận thường có sự thoả thuận với khách hàng về giá dịch vụ
(thường áp dụng là giá cả gói), chứ không phải chỉ nhận hoa hồng như đại lý. Người
giao nhận thường đóng vai trò là người uỷ thác khi thực hiện các công việc như thu
gom hàng lẻ gửi đi, tự vận chuyển hàng hoá hay nhận bảo quản hàng hoá trong kho
của chính mình, hay khi kinh doanh vận tải đa phương thức.
Tuy nhiên, người giao nhận không chịu trách nhiệm về những mất mát, hư
hỏng của những hàng hoá phát sinh từ những trường hợp sau:
- Do lỗi của khách hàng hoặc người được khách hàng uỷ thác.
- Khách hàng đóng gói và ghi, ký mã hiệu không phù hợp.
- Do nội tỳ hoặc do bản chất hàng hoá.
- Do chiến tranh, đình công.
- Do các trường hợp bất khả kháng.
10
Nguyễn Đình Dương Chuyên đề tốt nghiệp
Ngoài ra, người giao nhận không chịu trách nhiệm về mất khoản lợi đáng lẽ
khách hàng được hưởng, về sự chậm trễ hoặc giao nhận sai địa chỉ mà không phải lỗi
của mình.
3. Các chứng từ được sử dụng trong giao nhận hàng hoá bằng đường hàng
không:
3.1.Vận đơn hàng không (AWB – AirwayBill):
AWB là một chứng từ vận chuyển hàng hóa và là bằng chứng của việc ký kết
hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng máy bay, về điều kiện của hợp đồng và việc đã
tiệp nhận hàng hóa để vận chuyển (Luật hàng không dân dụng Việt Nam quy định)
Vận đơn hàng không là chứng từ không giao dịch được (Non Negotiable)
bằng cách ký hậu thông thương. Vân đơn hàng không được lập thành ba ban gốc, có
các màu khác nhau, phân phối cho các người khác nhau: Bản gốc 1 (Original 1) màu
xanh lá cây, có chữ ký của người gửi hàng dành cho người chuyên chở; Bản gốc 2
(Original 2) màu hồng, có chữ ký của cả hai bên, đi theo hàng đến nơi đến và dành
cho người nhận; Bản gốc 3 (Original 3) màu xanh da trời, có chữ ký của người
chuyên chở, dành cho người gửi. Ngoài ra còn có từ 6 tới 11 bản sao được phân phối
cho những người liên quan khác nhau. Người gửi hang phải chịu trách nhiệm về tinhd
đúng đắn của các chi tiết liên quan đến hàng hóa mà anh ta đã kê khai vào AWB và
phai chịu trách nhiệm về những thiệt hại của người chuyên chở hoặc những người
khác phát sinh do sự không chính xác hoặc không đầy đủ các nội dung đó.
12
Nguyễn Đình Dương Chuyên đề tốt nghiệp
3.2. Vận đơn gom hàng ( House B/L, House Airwaybill):
Là một chứng từ vận tải do người giao nhận caapscho các chủ hàng lẻ khi
người gom hàng nhận hàng từ các chủ hàng để vận chuyển hàng bằng các phương
thức vận tải đường biển hoặc đường hàng không. Vận đơn này thường dùng với vận
đơn chủ (Master B/L hoặc Master Airwaybill) do người vận tải cấp khi họ nhận hàng
từ người gom hàng ( người giao nhận ). Vận đơn này cũng có thể dùng để thang toán
nếu có thỏa thuận trong hợp đồng. Nội dung của vận đơn gom hàng, như đã nói ở trên
là chưa thống nhất trên phạm vi toàn thế giới và cũng chưa được phòng thương mại
thừa nhận, nên xu hướng chung là sử dụng vận đơn vận tải đa phương thức của
FIATA (FBL). FBL cũng mới được sửa đổi để phù hợp với bản quy tắc về cách thực
hàng thống nhất về tín dụng chứng từ (UCP) mới.
3.6. Hối phiếu:
Hối phiếu là một công cụ thanh toán có thể chuyển nhượng, là lệnh đòi trả tiền vô
điều kiện của người ký phát. Cùng với vận đơn hối phiếu tạo nên cơ sở cho quy trình
nhờ thu chứng từ. Cùng với hóa đơn thương mại của người bán, người bán có thể sử
dụng một cách đơn giản để đòi tiền hàng. Hối phiếu có thể ký hậu để chuyển nhượng
cho một người thứ ba, gọi là người giữ hối phiếu hợp pháp.
3.7. Hợp đồng mua bán hàng hóa:
Một số công ước quốc tế đã định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa có các yếu
tố như sau: “ Hợp đồng mua bán quốc tế là hợp đồng mua bán hang hóa trong đó các
bên ký kết có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau, hàng hóa được chuyể từ nước
này sang nước khác, hoặc vieech trao đổi ý trí ký hợp đồng giữa các bên được ký kết
thiết lập ở các nước khác nhau” (Điều 1- Công ước La Haye 1964 về mua bán hàng
hóa quốc tế những động sản hưu hình).
Ở Việt Nam theo luật thương mại 1997 thì hợp đồng mua bán được hiểu là: Là
những cam kết giữa một bên là tổ chức xuất nhập khẩu Việt Nam với một bên là
14
Nguyễn Đình Dương Chuyên đề tốt nghiệp
khách hàng nước ngoài nhằm thiết lập thay đổi, đình chỉ mối quan hệ nghĩa vụ và
quyền lợi trong linh vực mua bán, trao đổi hàng hóa, mua bán phát gia công.
3.8.Bảng lược khai hàng hóa:
Đây là bảng lược kê các loại hàng hóa xếp lên may bay để vận chuyển đến các
cảng hàng không khác nhau do đại lý tại cảng xếp nhận hàng
3.9.Phiếu cân: Phải ghi rõ số chuyến bay, thời gian bay, số cân, số kiện, địa điểm đến
địa điểm đi.
3.10.Booking note: Giấy đặt chỗ với hàng không. Khi có hàng đi thì nhân viên công
ty gửi phách lên hạng hàng không và chờ báo cáo của hàng không xem có đồng ý cho
đI chuyến đó không.
3.11.Chứng từ của hải quan và các giấy tờ khác:
- Tờ khai hải quan
- Giấy chứng nhận kinh doanh và giấy chứng nhận đăng ký mã số doanh nghiệp
4.4. Khối lượng hàng hoá giao nhận:
Khối lượng hàng hoá thể hiện được thế mạnh của doanh nghiệp. Với khối
lượng lớn sẽ cho thấy việc kinh doanh thuận lợi của doanh nghiệp, các công cụ chính
sách mà doanh nghiệp áp dụng đã mang lại hiệu quả. Ngược lại khối lượng hàng hoá
không nhiều chứng tỏ công ty chưa thực sự tạo thế đứng của mình trong hoạt động
kinh doanh.
5. Các nhân tố ảnh hưởng đến dịch vụ giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu
bằng đường hàng không:
5.1. Các nhân tố khách quan:
5.1.1. Chính sách Nhà nước về xuất nhập khẩu:
16
Nguyễn Đình Dương Chuyên đề tốt nghiệp
Chính sách của Nhà nước là một trong những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến
hoạt động giao nhận hàng hoá quốc tế trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực. Chính sách
khuyến khích xuất khẩu của Nhà nước, trong đó có Nghị định 57/CP của Chính phủ
cho phép mọi doanh nghiệp có quyền xuất nhập khẩu trực tiếp đã khuyến khích các
doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực ngoại thương, góp phần làm tăng sản lượng hàng
hoá giao nhận. Song phần lớn hàng hoá lại là những lô hàng lẻ, để thuận tiện cho việc
chuyên chở cần phải gom hàng, khi đó dịch vụ kinh doanh kho và gom hàng sẽ phát
triển. Tuy nhiên bên cạnh đó, chính sách khuyến khích xuất khẩu sẽ làm tăng số
lượng các hợp đồng uỷ thác xuất nhập khẩu, dẫn đến giảm kết quả giao nhận. Còn
chính sách hạn chế nhập khẩu lại làm giảm lượng hàng hoá nhập khẩu cho nên dịch
vụ giao nhận hàng nhập khẩu cũng giảm. Nhưng chính sách này lại tạo cơ hội cho
ngành kinh doanh, đặc biệt là kho ngoại quan phát triển do hàng nhập khẩu phải chờ
để làm thủ tục nhập khẩu.
5.1.2. Quy định của luật pháp đối với hoạt động giao nhận hàng hoá quốc tế:
Vì đây là hoạt động thương mại quốc tế nên việc giao nhận hàng hoá sẽ phải
chịu ràng buộc của luật pháp ở nước có người mua, luật pháp ở nước có người bán,
hoặc của một nước thứ ba có liên quan và chịu sự ràng buộc của các thông lệ quốc tế
trong lĩnh vực giao nhận hàng hoá quốc tế.
lụt, hạn hán, động đất. Nó gây ra các khó khăn và trở ngại đối với việc chuyên chở
hàng hoá và làm ảnh hưởng tới tính thời vụ của các doanh nghiệp giao nhận hàng hoá
quốc tế.
5.1.4. Nhu cầu của khách hàng về dịch vụ:
Đối với hoạt động giao nhận thì khi thương mại quốc tế ngày càng phát triển,
khách hàng nhận thấy vai trò đại lý môi giới của người giao nhận trở nên hạn chế rất
nhiều, đặc biệt là việc các đại lý giao nhận không chịu trách nhiệm về hàng hoá trong
quá trình chuyên chở. Khách hàng mong muốn có người thu xếp toàn bộ quá trình
chuyên chở cũng như dịch vụ khác có liên quan như gom hàng, mua bảo hiểm, thuê
phương tiện vận tải, hoàn toàn chịu trách nhiệm trong quá trình chuyên chở đó để
18
Nguyễn Đình Dương Chuyên đề tốt nghiệp
khách hàng tránh phải khiếu nại khi có tổn thất xảy ra. Do vậy mà người giao nhận
phải cung cấp các dịch vụ liên quan theo yêu cầu của khách hàng, phải phát triển dịch
vụ giao nhận theo nhiều mặt, nhiều hướng.
5.1.5. Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp giao nhận:
Hiện nay đã có hơn 300 doanh nghiệp, công ty hoạt động trong lĩnh vực giao
nhận hàng hoá quốc tế tại Việt Nam. Việc cạnh tranh trong hoạt động giao nhận hàng
hoá quốc tế đang ngày càng trở nên phức tạp và thiếu tính tổ chức, đặc biệt là thiếu
một cơ chế điều hành chung của Nhà nước.
5.1.6. Môi trường kinh tế :
Một môi trường kinh tế - xã hội ổn định, phát triển nhất định sẽ thúc đẩy hoạt
động giao nhận hàng hoá quốc tế, hoạt động này sẽ diễn ra thuận lợi, ít biến động,
nếu không nó sẽ kìm hãm thậm chí đẩy lùi hoạt động này.
Dịch vụ giao nhận hàng hóa nhằm vận chuyển hàng hóa phục vụ hoạt động sản
xuất kinh doanh, khi mà nền kinh tế có sự tăng trưởng cao hoặc chững lại sẽ ảnh
hưởng đến sự phát triển của thị trường. Tăng trưởng kinh tế sẽ mở rộng quy mô của
sản xuất kinh doanh. Khối lượng hàng hóa cần vận chuyển và lưu thông cũng sẽ tăng
và thúc đẩy hoạt động giao nhận vận tải.
Do đặc thù của dịch vụ giao nhận hàng hóa liên quan chặt chẽ đến cơ sở hạ
như vậy thi ít có doanh nghiệp có đủ khả năng đầu tư. Do vậy sự phát triển của thị
trường phụ thuộc rất lớn vào sự đầu tư của nhà nước về hệ thống cơ sơ vật chất như
cảng biển, cảng hàng không, nâng cấp các kho tàng bến bãi cùng nhiều ưu đãi để tạo
điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thị trường.
Sự phát triển thị trường con phải chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các doanh
nghiệp lớn trên thế giới cùng cung cấp dịch vụ. Đó hầu hết là các doanh nghiệp lớn
hoạt động lâu đời và có rất nhiều kinh nghiệm trong giao nhận hàng hóa quốc tế, bên
20
Nguyễn Đình Dương Chuyên đề tốt nghiệp
cạnh là họ có đội ngũ thực hiện giao nhận rất chuyên nghiệp. Điều này sẽ tạo nhiều
khó khăn cho doanh nghiệp đi sau muốn phát triển thị trường dịch vụ này.
5.1.7. Môi trường văn hóa – xã hội:
Trong buôn bán quốc tế luôn tồn tại các tập quán khác nhau ở các khu vực
khác nhau. Châu Mĩ sẽ có phong tục và tập quán buôn bán khác Châu Phi, khác với
Trung đông, và khác với Châu á. Đó chính là các quy định bất thành văn của các
thương nhân nhưng chúng có ảnh hưởng không nhỏ tới việc buôn bán và trao đổi
hàng hoá và sự phát triển của thị trường giao nhận hàng hóa. Mặc dù hiện nay các
quy định buôn bán quốc tế được tổ chức thành các quy định trong INCOTERMS
nhưng tập quán buôn bán vẫn là một phần của trong các quy định buôn bán quốc tế.
Và nó sẽ có những ảnh hưởng tích cực nếu các doanh nghiệp hiểu và có những điều
chỉnh để phát triển thị trường, ngược lại nếu các doanh nghiệp thiếu hiểu biết hoặc
tìm hiểu chưa sâu thì sẽ gặp phải những khó khăn trong việc phát triển thị trường.
Trên thế giới tồn tại nhiều nền văn hóa khác nhau, với mỗi nền văn hoá có
những ngôn ngữ phong tục khác nhau, cách thức sinh hoạt cũng sẽ khác nhau. Khi
một doanh nghiệp giao nhận hàng hóa muốn kinh doanh như mở đại lí, chi nhánh thì
phải tính đến yếu tố văn hoá của nước sở tại, thái độ của người dân địa phương đối
với hoạt động của doanh nghiệp, bên cạnh đó là các tập quán sinh hoạt của họ cùng
thiện cảm của họ về quốc gia có doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ giao
nhận hàng hóa.
Như vậy ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường có nhiều nhân tố : kinh
do hoạt động này đòi hỏi các cán bộ phải có trình độ cao về nghiệp vụ, giỏi ngoại
ngữ, am hiểu pháp luật, có kiến thức sâu rộng và có sự nhạy bén. Khách hàng chỉ uỷ
thác giao nhận toàn quyền cho công ty khi họ thấy khi họ thấy sự tin tưởng vào hoạt
động của công ty. Mà điều này phụ thuộc rất lớn vào trình độ đội ngũ cán bộ, công
nhân viên của doanh nghiệp.
22
Nguyễn Đình Dương Chuyên đề tốt nghiệp
5.2.5. Thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp trên toàn thị trường:
Uy tín, danh tiếng hay thương hiệu của doanh nghiệp ngày nay là một trong
những nhân tố then chốt đối với sự sống còn của doanh nghiệp. Chất lượng dịch vụ
của doanh nghiệp có uy tín lớn và đã gây dựng được thương hiệu trên thị trường sẽ dễ
dàng dành được khách hàng đón nhận và lựa chọn hơn những dịch vụ của doanh
nghiệp chưa có thương hiệu. Thương hiệu của doanh nghiệp cũng giống như một sự
đảm bảo của doanh nghiệp với khách hàng vào tạo ra một ưu thế nhất định của dịch
vụ với dịch vụ của doanh nghiệp khác. Nhất là đối với doanh nghiệp tham gia vào mở
rộng thị trường giao nhận hàng hóa quốc tế thì thương hiệu của doanh nghiệp sẽ kiến
cho doanh nghiệp dễ tạo được lòng tin và ưa chộng hơn trong lòng khach hàng.
23
Nguyễn Đình Dương Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG II : THỰC TRANG DỊCH VỤ GIAO NHẬN HÀNG HÓA XUẤT
KHẨU BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG TẠI CÔNG TY TNHH TNT-
VIETRANS
1. GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY
1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Được thành lập từ năm 1995, TNT-Vietrans là công ty liên doanh giữa tập
đoàn TNT Post Group – Hà Lan và Công ty giao nhận kho vận ngoại thương
(Vietrans) trực thuộc Bộ Công Thương Việt Nam. TNT-Vietrans là công ty liên
doanh đầu tiên tại thị trường Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh chuyển
phát nhanh và kho vận hậu cần. Với đội ngũ hơn 350 nhân viên chuyên nghiệp, TNT-
Vietrans hiện đang hoạt động tại 3 sân bay cửa ngõ quốc tế ( Hồ Chí Minh, Hà Nội
khẳng định vị trí của TNT-Vietrans là một trong những công ty chuyển phát nhanh
hàng đầu trong nước được xã hội công nhận.
1.2. Chức năng, nhiệm vụ
TNT-Vietrans mang sứ mạng chung của cả tập đoàn TNT trên toàn thế giới là
trở thành nhà cung cấp dịch vụ chuyển phát nhanh nhanh nhất, đáng tin cậy nhất.
Mục tiêu của công ty là đáp ứng những mong đợi của khách hàng trong việc
vận chuyển và giao nhận hàng hóa, chứng từ trên toàn thế giới. Công ty mang lại giá
trị cho khách hàng bằng việc cung cấp những giải pháp đáng tin cậy nhất, hiệu quả
25