1
MỤC LỤC
A.Giới thiệu chung
Chương I:Xuân diệu và tập thơ “Riêng chung”
1.Xuân Diệu
1.1.Cuộc đời
1.2.Sự nghiệp
2.Tập thơ “Riêng chung”.
B.Nội dung chính
Chương II:Cái tôi trong thơ Xuân Diệu sau năm 1945 qua
tập thơ “Riêng chung”
1.Giới thiệu chung
2.Đặc điểm cái tôi Xuân Diệu sau năm 1945 trong “Riêng
chung”
2.1.Cái tôi hòa chung vào cái ta cộng đồng
2.2.Cái tôi hoài niệm mười lăm năm ân tình của Đảng
2
2.3.Cái tôi ca ngợi quê hương đất nước,vui niềm vui đất nước phát
triển
2.4.Cái tôi trăn trở với những vấn đề thời sự
2.4.Một nỗi niềm riêng
Chương III:Sự thay đổi ý thức sáng tác giữa hai giai đoạn
trước và sau 1945
1.Giai đoạn trước 1945
2.Giai đọan sau 1945
Tại đây, ông gặp Huy Cận và hai người kết nghĩa với nhau cho đến cuối đời.
1938 - 1940, ông ra Hà Nội sống với Huy Cận ở gác 40 Hàng Than, ghi tên
học luật và dạy học ở trường tư thục Thăng Long do Hoàng Minh Giám làm
giám đốc).
Tháng 12 năm 1938 xuất bản tập thơ đầu Thơ Thơ với tựa của Thế Lữ và trình
bày mỹ thuật của Lương Xuân Nhị.
1939, cùng với Huy Cận tự tái bản Thơ Thơ và cho xuất bản truyện ngắn "Phấn
thông vàng".
Đầu 1940, ông thi đậu vào nghành tham tá thương chính và được bổ nhiệm vào
sở Đoan Mỹ Tho.
1943, Xuân Diệu thôi việc ở Mỹ Tho, ra Hà Nội sống với Huy Cận, tham gia
Việt Minh bí mật cùng với Huy Cận.
5
Tháng 2 năm 1945, ông làm cuộc diễn thuyết đầu tiên về đề tài "Sinh viên với
quốc văn" do Tổng hội sinh viên Việt Nam tổ chức. Về sau được xuất bản với
tên đề mở rộng : Thanh niên với quốc văn.
Cách mạng tháng Tám 1945, Xuân Diệu tham gia Tổng khởi nghĩa cướp chính
quyền tại Hà Nội. Ông hăng hái tham gia các hoạt động lên án bọn Việt cách,
Việt quốc chống phá chính quyền cách mạng, và làm nhiều bài thơ đả kích mạnh
mẽ bọn này.
1946, Xuân Diệu được bầu làm Đại biểu Quốc hội khóa I. Tháng 5 năm 1946,
một phái đoàn quốc hội Việt Nam do đồng chí Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn
sang Pháp; Xuân Diệu tham dự với tư cách là đại biểu các nhà báo. Sau chuyến
đi này, Xuân Diệu đã đăng trên báo Cứu quốc thiên phóng sự "Từ trường bay
đến trường bay" và cho xuất bản tập"Việt Nam nghìn dặm", viết về đời sống và
cuộc đấu tranh của Việt kiều, lính chiến và lính thợ tại Pháp từ 1940 - 1946.
Kháng chiến toàn quốc, Xuân Diệu ở suốt chín năm trong các chiến khu tại Việt
1982, dự lễ mừng thọ của nhà thơ dân tộc Cuba Nicolai Ghiden bẩy mươi tuổi tại
La Havana, dịch và giới thiệu tập thơ "Nicolai Ghiden".
7
1983, Xuân Diệu được Viện Hàn lâm nghệ thuật cộng hòa dân chủ Đức bầu làm
Viện sĩ thông tấn.
1985, ông tham gia đoàn đại biểu Việt Nam tại Liên Xô.
Xuân Diệu từ trần lúc 19 giờ 45 phút ngày 18 tháng 12 năm 1985 sau một
cơn đau tim đột ngột tại Hà Nội. Ông được Hội đồng nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt nam tặng Huân chương độc lập hạng Nhất, an táng tại nghĩa trang
Văn Điển, nay đã cải táng về nghĩa trang Mai Dịch.
I.1.2. Sự nghiệp
Con đường sáng tạo của Xuân Diệu phát triển trên suốt hơn nửa thế kỷ. Ông
là một tác gia lớn trong văn học Việt Nam thời kỳ hiện đại với một phong cách
riêng đặc sắc. Thi sĩ họ Ngô có đóng góp và có thành tựu lớn ở cả hai thời kỳ
trước và sau Cách mạng tháng Tám 1945. Xuân Diệu đã để lại một khối lượng
tác phẩm đồ sộ, có giá trị lâu dài về nhiều thể loại : thơ, văn xuôi, nghiên cứu
phê bình, dịch thuật,... Với cây bút tài năng này, ở thể loại nào ông cũng đạt
được những thành tựu, in đậm dấu ấn riêng.
Tác phẩm chính đã xuât bản:
Thơ : Thơ Thơ (1938, tái bản nhiều lần); Gửi hương cho gió (1945, tái bản
nhiều lần); Ngọn Quốc kỳ (1945); Hội nghị non sông (1946); Dưới sao vàng
(1949); Mẹ con (1954); Ngôi sao (1954); Riêng chung (1960); Mũi Cà Mau Cầm tay (1962); Một khối hồng (1964); Hai đợt sóng (1967); Tôi giầu đôi mắt
(1970); Hồn tôi đôi cánh (1976); Thanh ca (1982); Một chùm thơ (tuyển,
Pari,1983); Tuyển tập Xuân Diệu, tập I (1983).
8
Và,trong số các nhà thơ hiện đại tên tuổi đó, Xuân Diệu là một tác giả tiêu biểu,
từng được vinh danh là ông Hoàng thơ tình. Đến với thơ ông, bạn đọc sẽ cảm
nhận được một trái tim yêu đời, khao khát hạnh phúc và thiết tha giao cảm đầy si
mê và lôi cuốn:
Thơ tôi đó, gió lùa đem tỏa khắp
Và lòng tôi mời mọc bạn chia nhau
(Lời thơ vào tập gửi hương)
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một trong một cái hôn nhiều...
(Vội vàng)
Trải qua nhiều chặng đường sáng tác thơ ca, cái tôi trữ tình của thơ Xuân
Diệu biểu hiện hết sức phong phú. Vậy, đặc điểm nổi bật của cái tôi trữ ở
sáng tác của ông hoàng thơ tình sau năm 1945 như thế nào và có những
hình thức biểu hiện ra sao?Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu qua tập thơ “Riêng
chung”.
2. Đặc điểm cái tôi trữ tình trong thơ Xuân Diệu sau năm
1945 qua tập thơ “Riêng chung”
Tập thơ riêng chung là một trập thơ nổi tiếng của Xuân Diệu sau năm
1945,được xuất bản năm 1962,để những sự thay đổi rất đáng khích lệ qua một
chặng đường sáng tác dài gắn với lịch sử.Vâng,qua thời gian,tất cả sẽ thích nghi
10
được với môi trường mới,không gian mới.Nói vậy,không phải nhà thơ đã hoàn
toàn lột bỏ cái khả năng thiên phú về thơ tình của mình,mà là sự thay đổi hình
Xuân Diệu đến với quần chúng từ những ngày đầu cách mạng và cảm thấy chất
thơ phải được khơi nguồn từ cuộc đời mới. Đó là cái tôi của một nhà thơ – chiến
sĩ sau cách mạng tháng Tám, cái tôi của lòng tin yêu xuất phát từ cách nhìn
cuộc sống thân thiện, mến yêu:
Có một suối thơ chảy từ gần gũi
Ra xa xôi và lại đến gần quanh
Một suối thơ lá ngọt với hoa lành
Nói trong xóm và giỡn cười dưới phố
(Nguồn thơ mới)
Hãy nhìn đời bằng đôi mắt xanh non
Hãy để trẻ con nói cái ngon của kẹo
Hãy để cho bà nói má thơm của cháu
Hãy nghe tuổi trẻ ca ngợi tình yêu
(Đôi mắt xanh non)
Cái tôi cá nhân giờ đây đã hòa chung với cái ta làm một,không còn khoảng cách
nào nữa.Hầu hết các bài thơ trong tập thơ này đều thể hiện tinh thần ấy.Gắn với
kỉ niệm thì cũng gắn với nhân dân,với Đảng.Ca ngợi thì cũng ca ngợi nhân
dân,ca ngợi Đảng.Yêu thương thì cũng yêu thương nhân dân,yêu thương
Đảng….Tất cả đều gằn với vận mệnh chung của dân tộc.
II.2.2.Cái tôi hoài niệm mười lăm năm ân tình của Đảng
Trong những năm tháng chiến đấu và gắn bó với đất nước,Xuân Diệu đã hòa cái
tôi với quần chúng nhân dân,cảm thông,thấu hiểu,chia sẻ.Và,cũng có không ít
những kỉ niệm. Ông gắn bó với Đảng,với chế độ một cách chân thành.Mười lăm
năm ân tình của Đảng ,biết bao hạnh phúc,khổ đau,hi sinh,mất mác. …..Tất cả
cùng đọng lại trong những vần thơ tha thiết,dạt dào
Không phải chuyện đời xưa, mà chuyện đời nay,
Có một người chất vạn gánh trên vai,
Vạn gánh đầy tràn, gánh to, gánh nhỏ,
Em ngã anh nâng, đau ốm có anh.
13
Ở với anh hai thứ tóc đã chen,
Anh đã vào trong em như ánh sáng.
Anh đã hoá như đêm ngày, mưa nắng,
Như khí trời em thở, nước lớn em bơi.
Em mặc anh như tấm áo rạng ngời,
Kiêu hãnh chói con ngươi em sáng rực!
Mười lăm năm là sách vàng em đọc,
Mười lăm năm là tràng ngọc em đeo.
Trong tâm hồn em, anh mãi mãi buông neo;
Nghe tiếng nói anh, thấy lòng vui reo bát ngát;
Đẻ với anh những đứa con tinh thần, biết ca biết hát.
Vâng,quả thật là ông Hoàng thơ tình,tình yêu của ông với Đảng,với nhân thắm
thiết mặn nồng như tình chồng vợ son sắt không phai.Cái tình ấy như một thứ
tình riêng nhưng lại thể hiện trong một cái tình yêu chung sâu sắc,đậm đà.Chính
cái tình đố đã giúp cho ông có một cái nhìn trẻ trung,sâu sắc với đời.Và,ông tình
nguyện gắn mình mãi với quê hương đất nước,với những gì tươi đẹp hôm nay.
Mười lăm năm qua,
Chứ ba mươi năm nữa,
Muôn đời, muôn thuở,
Có bao giờ em sống xa anh!
(Mười lăm năm)
Ở nơi đâu,Đảng cũng soi sáng,Đảng cũng dẫn đường.Đối với nhà thơ,Đảng cao
quí,tôn nghiêm,chân tình,thân thiện.Tất cả đều hòa vào nhau làm một,Đảng và
nhân dân như hình với bóng. Với nghệ thuật lặp ngữ pháp,bài thơ “Lý
tưởng”như một khúc ca ca ngợi Đảng”Nơi ấy Đảng cùng ta đi tới”.Nơi ấy-bất
cái tôi của tác giả giờ đây đã hòa làm một vào cái ta chung của cộng đồng,gắn
bó,sống chết có nhau,đầy ắp chia sẻ và yêu thương:
Trăm ngàn kiếp lệ cuốn theo sông,
Biển chứa long lanh sóng vạn trùng!
Trái đất - ba phần tư nước mắt
Đi như giọt lệ giữa không trung.
Máu của linh hồn là nước mắt
Còn rơi biết đến lúc nào thôi?
Cách miêu tả thật ấn tượng nhưng quả thật đã đánh thức trái tim độc giả.Trái đất
đã chiếm ba phần tư là nước mắt,trái đất ấy là một giọt lệ giữa không trung,bao
trùm toàn bộ nỗi đau khổ của con người.Hình ảnh ấy chân thực và hết sức sinh
15
động.Rơi nước mắt là một sự tổn thương về tinh thần,câu hỏi của tác giả .thấm
đượm tinh thần nhân văn sâu sắc.
Và rồi,nhà thơ đã ra đời trong hoàn cảnh éo le như vậy,chứng kiến mọi đau
thương.Chính từ lòng đồng cảm,ông đã gắn cuộc đời mình với Cách mạng,gắn
với nhân dân,cùngchiến đấu,cùng hi sinh bản thân mong một ngày toàn thắng:
Đến bây giờ Cách mạng tuổi mười hai,
Đã bốn mươi năm Cách mạng tháng Mười,
Vui Khởi nghĩa, gian khổ cùng Kháng chiến,
Chia với nhân dân cay đắng ngọt bùi,
Như gỗ thuyền ăn chịu cùng muối biển,
Cách mạng dần dần thay đổi hồn tôi.
Chính điều đó đã làm nên một con người mới,hàng triệu triệu con người mới.Họ
tin tưởng vào Cách mạng,cùng nhau làm Cách mạng để cùng nhau chiến
thắng,vinh quang.Họ không còn buồn thương,khóc sầu khi bất lực nhìn kẻ thù
hủy diệt.Giờ đây,với sức mạnh của mình,họ đã làm nên nhiều chiến thắng,những
Muốn trùm hạnh phúc dưới trời xanh,
Có lẽ tôi cũng hoá thành:
Ngói mới.
(Ngói mới)
Cao, lên cao xây dựng,
Từng bước ta lên cao.
Những người tuổi trẻ máu đang đỏ
Thích lên thật cao, nhìn thật tỏ!
Trước trèo đèo núi diệt xâm lăng,
Nay thấy không gian, say muốn băng!
Móng đào dưới đất đã kiên cố,
Gạch xây lên trời không sợ nhào.
Ta cao thật đấy - muôn tinh tú
Trong vòm bàn tay ta ước ao!
(Cao)
Nhà thơ thể hiện niềm vui vẻ lạc quan khi đất nước đã bắt đầu xây dựng và phất
triển,tuy đã bớt vẻ tơ tằm nhưng thơ ông vẫn “má đào hơ hớ’,ở đâu cũng sâu
sắc,cũng ngọt ngào đến lạ thường.Thiên nhiên,đất nước bây giờ hiện lên một vẻ
đẹp lạ thường,nhà thơ say sưa với khung cảnh ấy. Bởi đó là dấu hiệu của một
cuộc sống vui vẻ,hòa bình,độc lập,tự do.Còn gì vui hơn nữa khi hi vọng đang
được hoàn thành.Hạnh phúc đã về tay nhân dân sau những năm tháng gian truân
vất vả,chiến đấu hi sinh,đánh đổi tất cả chỉ mong lấy hòa bình.Cũng đã sống,đã
chứng kiến đau thương và đã hòa vào quần chúng để giành giật lại cuộc sống tự
17
do.Giờ phút này đây,niềm vui ấy đang dâng trào,cảm xúc dạt dào về một tương
lai mới đã đọng lại trong những vần thơ,vui một niềm vui chung với dân tộc.
Bên cạnh niềm vui đất nước đang đổi thay từng ngày là sự tự hào,ca ngợi quê
Việt Nam đẹp từ tư tưởng đến hành động,đất nước Việt Nam tươi đẹp từ thiên
nhiên đến con người.Đó là anh Bế Văn Đàn hiên ngang chống giặc:
Mộ Bế Văn Đàn trong sáng trong gương.
Mộ Bế Văn Đàn trong viện Bảo tàng quân đội.
Khách viếng qua đây
Dừng chân đứng lại:
- Nơi đây mộ Bế Văn Đàn,
Nơi đây gió nội trăng ngàn,
Nơi đây chim ca hoa nở,
Đất tổ quốc là một nền nhung đỏ,
Nơi đây bốn mùa muôn thuở vãng lai...
(Mộ Bế Văn Đàn)
Hay đó còn là một chị Lý cũng hiên ngang,bất khuất,cũng như hình ảnh chị Võ
Thị Sáu hay chị Út Tịch…..Những người phụ nữ Việt Nam lúc nào cũng có thể
xông pha bão đạn,quên thân vì Tổ quốc,không phải như các cô nàng đoan trang
chuyên chính,cầm kì thi họa như ngày xưa nữa.GIÒ đây,họ cũng không thua
kém gì đàn ông nữa,bằng cách và sức riêng của mình,họ cố gắng bảo vệ đất nước
cho đến hơi thở cuối:
Chị Lý ơi!
Chị từ vùng Mỹ-Diệm
Xé lưới chết, ra đây.
Máu ba năm còn rỉ,
Lòng yêu tin vẫn đầy.
Chị Lý ơi, xin chị nằm dưỡng nghỉ,
Chị mau lành, cả miền Bắc chăm nom.
Hạt thóc mạnh hơn muôn trùng ác quỷ;
Những cực hình xé chị, chị cao hơn!
(Thép cứng nhất là thép người)
II.2.4.Đề cập đến những vấn đề thời sự
xã hội Liên Xô.Từ đây đã có nền móng vững chắc cùng với tình bạn sâu đậm
giữa hai quốc gia sẽ đua Việt Nam ta phát triển.Một vấn đề mùi vị chính trị thời
sự nóng bỏng như vậy mà lại được tác giả thể hiện một cách ngọt ngào đến
vậy,cứ như những vần thơ thiếu nhi hồn nhiên nhí nhảnh,đáng yêu một cách lạ
thường:
Chào Chị Trăng! Lần này tôi chưa ghé.
Đường đi lên, nhiệm vụ hãy còn cao.
20
Hẹn với Mặt trời,
những là này ước mai ao,
Đến trước thái dương, tôi sẽ quay chào,
Và cũng có bốn mùa
trên mình tôi sẽ chuyển!
Ôi Trái đất! mẹ muôn lần yêu mến,
Nghìn đời sau, nhưng bóng vẫn dần lui,
Xuân thế gian, Người đã sẻ cho trời!
Và, xao xuyến, các Vì sao bạn lứa!
Giữa các anh đang sôi sùng sục lửa,
Tôi, hành tinh, nhưng là mắt trông tìm,
Một bàn tay, một trái tim,
Một chiếc thuyền, một con chim,
Tôi xúc cảm như mộng Người ấp ủ!
Trăng có tay người lên tới nơi,
Chuyển từ trăng lạnh hoá trăng tươi.
Tàu ta mai mốt lên đây đỗ,
Dìu dặt cung trăng đặt bước người.
Từ hôm nay, trăng dọi lòng sông,
vấn đề một chiều như vậy.Hẫy để tâm hồn thi nhân được ấp ủ cái riêng của bản
thân một cách nhẹ nhàng và sâu lắng thì họ mới thật sự mãi là họ_những bông
hoa tỏa ngát hương cho đất nước.Xuân Diệu cũng thổn thức trong trái tim một
tình cảm riêng tư,tha thiết:
Một năm thêm mấy tháng rồi,
Thu đi, đông lại, bồi hồi sắp xuân.
Gặp em, em gặp mấy lần,
Tưởng quen mà lạ, tưởng gần mà xa.
Ai làm cách trở đôi ta,
Vì anh vụng ngượng, hay là vì em?
Trăng còn đợi gió chưa lên,
22
Hay là trăng đã tròn trên mái rồi?
Hằng ngày em nói bao lời
Với cha, với mẹ, với người chung quanh,
Với đường phố, với cây xanh;
Sao em chưa nói với anh một lời?
Tương tư ăn phải miếng mồi,
Đứng đi trên lửa, nằm ngồi trong sương.
Phải duyên, phải lứa thì thương,
Để chi đêm thẳm ngày trường, hỡi em!
(Hỏi)
Một tình cảm tương tư khắc khoải,day dứt nhưng hết sức nhẹ nhàng,lôi cuốn.Đó
mới thật sự là ông Hoàng thơ tình.Vâng,tương tư là cảm giác bồn chồn,khó chịu
nhất,ăn không ngon ngủ không yên,thao thức bồi hồi.Tình cảm ấy chịu sự giày
vò của tâm trạng ta đi không được mà ngồi không xong.Xuân Diệu vẫn mãi là
Xuân Diệu của ngày nào,không bao giờ đánh mất cái tôi đáng yêu thơ tình của
Trước năm 1945,ta đã rất quen thuộc với những vàn thơ tình lãng mạn của
ông.Hẳn mỗi độc giả đều sẽ nhận ra được sự thay đổi ý thức và quan niệm sáng
tác theo dòng năm tháng đó của tác giả.Vâng,để thấy rõ hơn điều đó,chúng ta sẽ
cùng so sánh đẻ thấy được nét nổi bật giữa hai thời kì.
1.Giai đoạn trước 1945
Đó là Cái tôi buồn,cô đơn
“Hôm nay trời nhẹ lên cao
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”
(Chiều - Xuân Diệu)
Có khi cái tôi của thi nhân cảm thấy mình bé nhỏ lạc lõng tội nghiệp:
“Tôi chỉ là một cây kim bé nhỏ,
Mà vạn vật là muôn đá nam châm;
Nếu hương đêm say dậy với trăng rằm,
Sao lại trách người thơ tình lơi lả”
(Cảm xúc - Xuân Diệu)
Rồi lại là một Cái tôi trữ tình mang khát vọng sống mãnh liệt,khát khao giao
cảm với đời,khi vui cũng như khi buồn Xuân Diệu đều nồng nàn tha thiết trước
24
cuộc sống.Khát vọng sống và yêu mãnh liệt dẫn đến cuồng si muốn ôm tất cả sự
sống thế giới tự nhiên làm của riêng. Thiên nhiên là đối tượng lí tưởng để thi
nhân gửi gắm nỗi niềm tâm sự.
Mùa xuân: Gợi cho tâm hồn thi nhân thêm nhiều sức sống là mùa của niềm vui
niềm hạnh phúc mùa của tuổi trẻ tình yêu và sự sống đã trở thành nguồn cảm
hứng vô tận cho thi nhân.
Xuân Diệu rất yêu thiên nhiên giao hòa tha thiết cùng thiên nhiên, chỉ có thiên
nhiên là mối tâm tình với thi nhân. Nhà thơ khát khao giao cảm với đời rung
giao cảm với con người,với cuộc sống,nhưng niềm khát khao đó,tình yêu tuổi trẻ
cháy bỏng đó đã hòa mình với quần chúng,tình yêu đó hòa chung vào với tất cả,
cái tôi đã hòa vào cái ta,thể hiện là một cái tôi yêu nước;thân thành,thiết tha và
tin yêu Đảng,gắn bó suốt mười lăm năm trời;cảm giác vui sướng khi nhìn thấy
đất nước đổi mới,không còn cô đơn lạc lõng nữa.Đồng thời,cái tôi luôn ấy luôn
trăn trở với từng bước đi của non sông,đề cập đến nhiều vấn đề thời sự ảnh
hưởng đến sự phát triển của non sông trong thời kì mới.Vâng,nhưng không hề
đánh mất hết một trái tim yêu cuồng nhiệt thưở nào,ông vẫn giữ lại một khoảng
trời riêng để mặc sức rong ruổi trong thế giới tình yêu đầy thi vị và quyến rũ.
Tóm lại,cái tôi ấy,sự ý thức ấy đã chuyển dổi theo một hướng tích cực,dẹp bỏ
những ý nghĩ tiêu cực mang tính cộng đồng trong giai đoạn trước để bước qua
cánh cửa thời đại mà hòa vào với nhân dân.Có thể nói,đây cũng là hành động của
nhiều nhà thơ khác.Ta đã từng thấy một “Tố Hữu” đã bắt kịp thời đại,vui niềm
vui cuộc sống với Đảng,với nhân dân kể “Từ ấy”.Vâng,Xuân Diệu có lẽ cũng
mang dáng dấp đó.Qua đó,phải khẳng định rằng Xuân Diệu cũng như Tố Hữu có
một cái tôi rất nhạy cảm,dễ dàng bắt nhịp cuộc sống để cống hiến tài năng cho
đất nước.
KẾT LUẬN
Xuân Diệu là nhà thơ lớn của phong trào thơ Mới nói riêng và của thơ ca Việt
Nam nói chung. Trong quá trình sáng tạo, Xuân Diệu không chỉ dân chủ hóa lời
thơ tức là đưa lời thơ gần gũi với điệu nói để diễn tả chân thực nội dung, tình
cảm phức tạp, mà ông còn tìm nhiều phương thức để biểu đạt cái tôi trữ tình