Vai trò của an sinh xã hội đối với tiến bộ xã hội ở Việt Nam hiện nay - Pdf 35

1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN TIẾN HÙNG

VAI TRÒ CỦA AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI
TIẾN BỘ XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: Chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Hà Nội - năm 2016


2

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN TIẾN HÙNG

VAI TRÒ CỦA AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI
TIẾN BỘ XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
CHUYÊN NGÀNH: Chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử
62.22.03.02

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC

của an sinh xã hội đối với tiến bộ xã hội ở Việt Nam hiện nay
Chƣơng 2: VAI TRÕ CỦA AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI TIẾN BỘ XÃ HỘI

Trang
01
06
06
22
25
32

- MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

2.1. An sinh xã hội, tiến bộ xã hội: Khái niệm và một số nội dung
chủ yếu
2.2. Mối quan hệ giữa an sinh xã hội và tiến bộ xã hội
Chƣơng 3: VAI TRÕ CỦA AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI TIẾN BỘ XÃ HỘI

32
59
72

Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG
VẤN ĐỀ ĐẶT RA

3.1. Thực trạng vai trò của an sinh xã hội đối với tiến bộ xã hội ở
Việt Nam từ năm 1986 đến nay
3.2. Những vấn đề đặt ra trong việc phát huy vai trò của an sinh xã
hội đối với tiến bộ xã hội ở Việt Nam hiện nay
Chƣơng 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÁT HUY VAI TRÕ CỦA AN

5

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

Những chữ viết tắt

Những chữ đƣợc viết tắt

ASXH

An sinh xã hội

BHTN

Bảo hiểm thất nghiệp

BHXH

Bảo hiểm xã hội

BHYT

Bảo hiểm y tế

BTXH

Bảo trợ xã hội

LLSX


1. Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử xã hội loài người nói chung vận động theo hướng tiến bộ, mỗi
giai đoạn vận động và phát triển của xã hội có thể theo những xu hướng khác
nhau, nhưng xét đến cùng, đều là những nấc thang của sự tiến bộ xã hội
(TBXH).
Tiến bộ xã hội được đánh giá thông qua sự phát triển con người, là khả
năng đáp ứng các nhu cầu vật chất, tinh thần của con người ngày càng cao.
Tuy nhiên, ở nhiều quốc gia, dân tộc, không phải tất cả mọi nhu cầu của con
người đều đã được đáp ứng do trình độ phát triển kinh tế, do sự hạn chế bởi
các thể chế chính trị, sự tồn tại các quan điểm mâu thuẫn nhau… Bên cạnh đó,
ở nhiều quốc gia lại tồn tại tình trạng bất bình đẳng, nghèo đói, dịch bệnh,
thiên tai địch họa, khủng hoảng kinh tế... Do vậy, việc đáp ứng nhu cầu vật
chất, tinh thần, đảm bảo cho sự phát triển hài hòa của sự TBXH vẫn còn hạn
chế ở những mức độ khác nhau.
Để khắc phục những hạn chế đó, các quốc gia đã sử dụng nhiều cách
thức khác nhau để giải quyết các vấn đề xã hội, trong đó an sinh xã hội
(ASXH) được coi như cách thức cơ bản góp phần thúc đẩy sự phát triển và
TBXH. An sinh xã hội được xem là một “giá đỡ”, một “lưới an toàn” để tăng
cường khả năng ngăn ngừa, chống đỡ, giảm nhẹ, khắc phục những rủi ro gặp
phải trong cuộc sống, đảm bảo cho các cá nhân, các giai tầng xã hội có điều
kiện, cơ hội phát triển.
Việt Nam là quốc gia đang phát triển với những điều kiện, hoàn cảnh có
nhiều yếu tố đặc thù. Đất nước Việt Nam đã và đang khắc phục hậu quả do
chiến tranh kéo dài, đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(CNXH)… Sau 30 năm đổi mới, sự phát triển kinh tế thị trường định hướng


7
xã hội chủ nghĩa đã đem lại những biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã hội. Kinh
tế tăng trưởng nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, thu nhập



8
hoàn thiện... để hệ thống ASXH ở Việt Nam phát huy tốt hơn vai trò của nó
đối với TBXH. Xuất phát từ yêu cầu trên đây, tác giả chọn vấn đề “Vai trò
của an sinh xã hội đối với tiến bộ xã hội ở Việt Nam hiện nay” làm nội
dung nghiên cứu trong luận án của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích
Trên cơ sở phân tích một số vấn đề lý luận về vai trò ASXH đối với
TBXH và đánh giá thực trạng vai trò của ASXH đối với TBXH ở Việt Nam
trong những năm qua, luận án đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm phát huy
vai trò của ASXH đối với TBXH ở nước ta hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa, luận giải một số vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của
ASXH đối với TBXH.
- Phân tích, đánh giá thực trạng vai trò ASXH đối với TBXH ở Việt
Nam từ năm 1986 đến nay.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của ASXH đối
với TBXH ở Việt Nam hiện nay.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là vai trò của ASXH đối với TBXH ở
Việt Nam hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Vai trò của ASXH đối với TBXH xét cả về mặt lý luận và thực tiễn bao
gồm nhiều nội dung, nhiều vấn đề. Do vậy, luận án giới hạn phạm vi nghiên
cứu là:
- Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu vai trò của ASXH đối với
TBXH ở Việt Nam hiện nay.



10
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận án góp phần hệ thống hóa, làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận cơ
bản về vai trò của ASXH đối với TBXH nói chung và ở Việt Nam nói riêng.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho hoạt động nghiên
cứu, giảng dạy về hệ thống chính sách ASXH ở nước ta nói chung, ở Học
viện Chính sách và Phát triển nói riêng.
- Kết quả của luận án có thể gợi mở cho các cơ quan quản lý có những
điều chỉnh chính sách phù hợp để phát huy vai trò của ASXH đối với TBXH
trong thời kỳ đổi mới ở nước ta.
- Góp thêm ý kiến để điều chỉnh nhận thức, hành động, trách nhiệm của
xã hội và đối tượng được thụ hưởng ASXH trong thực hiện TBXH ở Việt
Nam hiện nay.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình nghiên cứu của tác
giả, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án được trình bày trong 4 chương 10 tiết.


11

Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH BÀN VỀ AN SINH XÃ HỘI, TIẾN BỘ XÃ HỘI
VÀ VAI TRÒ CỦA AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI TIẾN BỘ XÃ HỘI

do” của Anh; mô hình “xã hội dân chủ” của Thụy Điển. Cuốn sách còn chỉ ra
thành công, hạn chế và xu hướng cải cách của hệ thống ASXH của một số nước
châu Âu; từ đó, gợi ý những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam hiện nay.
Cuốn sách Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở
Việt Nam [23] của tác giả Mai Ngọc Cường đã cung cấp một cái nhìn tổng quan
về khái niệm, cấu trúc, nội dung của ASXH. Chẳng hạn, về khái niệm ASXH,
tác giả cho rằng, ASXH là một khái niệm mở, có thể tiếp cận phạm trù này dưới
hai giác độ là theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp: Theo nghĩa rộng, ASXH là sự bảo
đảm thực hiện các quyền để con người được hưởng an bình, an ninh, an toàn và
an khang trong xã hội; theo nghĩa hẹp, ASXH là sự đảm bảo thu nhập và một số
điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc
mất thu nhập do họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho
những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế,
người bị thiên tai địch hoạ… Tác giả ủng hộ cách tiếp cận ASXH theo nghĩa
hẹp, vì theo tác giả, cách tiếp cận theo nghĩa hẹp phù hợp với cách tiếp cận của
ILO. Tác giả cuốn sách đã đưa ra quan điểm nghiên cứu về khái niệm ASXH là
sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và
cộng đồng trước những biến động về kinh tế, xã hội và tự nhiên làm cho họ bị
giảm hoặc khả năng lao động hoặc mất việc làm, bị ốm đau, bệnh tật, hoặc tử
vong; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người
yếu thế, những nạn nhân chiến tranh, những người bị thiên tai địch hoạ.
Chiến lược an sinh xã hội 2011 - 2020 [17] của Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội đã chỉ ra rằng, hệ thống ASXH thời kỳ 2011 - 2020 gồm 3 tầng
lưới có khả năng hỗ trợ lẫn nhau hướng tới mục tiêu bảo đảm mức sống tối thiểu
cho mọi người dân, không để cho người dân bị bần cùng hóa, bị gạt ra bên lề xã
hội, gồm: Lưới thứ nhất - Phòng ngừa rủi ro, bao gồm nhóm chính sách hỗ trợ


13
người dân có việc làm, tạo thu nhập và tham gia thị trường lao động để chủ động

14
một số bài học để vận dụng vào quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về
ASXH ở Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo đất nước rất quan tâm
đến vấn đề ASXH, nhất là trong thời kỳ đổi mới đất nước. Để thuận lợi cho nhận
thức và hành động, đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, các quan điểm chỉ
đạo đó đã được trình bày một cách ngắn gọn, hệ thống trong cuốn sách Tìm hiểu
một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội XI của Đảng [114] do Nguyễn Văn
Thạo và Nguyễn Viết Thông đồng chủ biên, công trình đã tập hợp, tuyển chọn
các định nghĩa về ASXH của các nhà nghiên cứu, các tổ chức quốc tế, từ đó làm
cơ sở dẫn giải các quan điểm của Đảng ta về ASXH. Các tác giả đã nhấn mạnh
rằng, ASXH ở nước ta hiện nay được hiểu là một hệ thống chính sách và giải
pháp áp dụng rộng rãi để trợ giúp các thành viên trong xã hội đối phó với những
rủi ro và khó khăn khi gặp phải, dẫn đến mất việc làm hoặc làm suy giảm
nghiêm trọng đến quyền thu nhập và cuộc sống. Hệ thống ASXH ở nước ta

gồm 5 trụ cột cơ bản là hệ thống chính sách, giải pháp và các chương trình
phát triển thị trường lao động; phát triển hệ thống bảo hiểm; thực hiện có hiệu
quả chương trình xoá đói giảm nghèo bền vững; xây dựng thực hiện tốt chính
sách ưu đãi đối với ngững người có công; phát triển hệ thống phúc lợi xã hội
và hệ thống dịch vụ xã hội.
Cuốn Thuật ngữ an sinh xã hội Việt Nam [125] của Viện Khoa học và Lao
động xã hội (ILSSA) phối hợp với Dự án Hỗ trợ giảm nghèo ở Việt Nam, do Tổ
chức GIZ thực hiện dưới sự uỷ quyền của Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Đức
(BMZ) xây dựng, xuất bản năm 2011. Với gần 200 thuật ngữ ASXH sắp xếp
theo thứ tự ABC bằng tiếng Việt và song ngữ Việt - Anh, cuốn sách không chỉ
đem lại sự thuận tiện trong tra cứu mà còn giúp độc giả có một cái nhìn tổng
quát về mối liên hệ giữa các trụ cột trong hệ thống ASXH ở Việt Nam cùng các
chương trình, chính sách có liên quan thông qua sơ đồ về hệ thống ASXH.


mới. Đồng thời, phân tích những quan điểm định hướng lớn của Đảng và Nhà


16
nước ta về xây dựng, hoàn thiện hệ thống ASXH trong thời kỳ đổi mới đất nước,
những giải pháp đột phá, khả thi cần thực hiện trong quá trình đổi mới, hoàn
thiện hệ thống ASXH ở nước ta hiện nay và đến năm 2020.

Trong bài Tiếp cận an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay trên quan điểm
phát triển bền vững [99], tác giả Nguyễn Thị Nga đã nhấn mạnh rằng, trong
thực tiễn, do sự đa dạng về nội dung, phương thức và góc độ tiếp cận nên hiện
nay còn có nhiều quan điểm khác nhau về ASXH, nhưng tựu trung lại, dù tiếp
cận dưới giác độ nào đi chăng nữa, thì về bản chất, ASXH là vấn đề vừa có
tính kinh tế, vừa có tính xã hội, vừa có tính nhân đạo rất sâu sắc. Nhà nước có
vai trò quan trọng trong bảo đảm ASXH, đối tượng bảo đảm ASXH là đông
đảo các tầng lớp dân cư.
Cuốn Những thách thức và giải pháp đối với chính sách an sinh xã hội bền
vững cho tất cả mọi người tại Việt Nam và Đức [103] do Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia phối hợp với Hội đồng Lý luận Trung ương xuất bản năm 2013. Cuốn
sách tập hợp những bài tham luận của các nhà khoa học hàng đầu về ASXH của
Việt Nam và Đức. Các bài hội thảo đã góp phần rút ra những bài học cho Việt
Nam hiện nay khi thực hiện ASXH từ mô hình ASXH của Đức. Chẳng hạn,
nước Đức là một nước có hệ thống ASXH toàn diện. Hệ thống ASXH của Đức
chủ yếu chịu ảnh hưởng của trường phái Bismarck, lấy hệ thống BHXH làm
nòng cốt để thực hiện chính sách ASXH cho người dân. Hệ thống ASXH của
Đức thực hiện trên cơ sở “hợp đồng giữa các thế hệ", thanh toán bảo hiểm trên
nguyên tắc phụ thuộc.

Về mục tiêu: Chính sách ASXH ở Đức nhằm hướng đến sự phát triển
bền vững "phồn vinh cho tất cả và công bằng xã hội". Đức là một trong số

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về chính sách ASXH và vai
trò của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách ASXH, kinh nghiệm quốc tế
và thực trạng Nhà nước thực hiện chính sách ASXH ở Việt Nam, cuốn sách đã
phân tích những nội dung cơ bản của chính sách ASXH và vai trò của Nhà nước
trong việc thực hiện chính sách ASXH ở Việt Nam hiện nay.


18
Đề tài khoa học cấp Bộ: Đảm bảo an sinh xã hội - Định hướng mô hình và
giải pháp [2], do Đặng Nguyên Anh làm chủ nhiệm, đã phân tích khái niệm và
các chức năng, cấu trúc và các nguyên tắc cơ bản của hệ thống ASXH, tạo cơ sở
lý luận cho việc định hướng mô hình và giải pháp về ASXH ở Việt Nam. Đề tài
làm rõ những đặc điểm chung và nét đặc thù của từng mô hình, từ đó có thể gợi
mở cho Việt Nam.
Đề tài cấp Nhà nước: Cơ sở khoa học của việc xây dựng sàn an sinh xã hội
ở Việt Nam giai đoạn năm 2011 - 2020 [162], mã số KX.02.07/11-15, do Viện
Khoa học Lao động và Xã hội thực hiện, đã phân tích và thống nhất về cơ sở
khoa học của việc xây dựng sàn an sinh xã hội ở Việt Nam, đề xuất các mức
chuẩn để xây dựng sàn ASXH, các chính sách trong sàn ASXH. Đây là cơ sở
quan trọng góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống lý luận về ASXH, vai trò
của ASXH ở Việt Nam trong những năm tiếp theo.
Hai tác giả William Reichenstein, William Meyer trong cuốn sách Social
Security Strategies: How to Optimize Retirement Benefits (Chiến lược ASXH:
Làm thế nào để tối ưu hóa lợi ích hưu trí) [168], ngoài việc cung cấp cách thức
sử dụng các thông tin và công nghệ tự động để tận dụng tối đa các lợi ích ASXH,
nội dung chính của tác phẩm đã chỉ ra một số yếu tố ảnh hưởng đến ASXH và
hưu trí của người dân nước Mỹ; đề xuất các biện pháp chuyên gia nhằm giúp
người dân xây dựng chiến lược ASXH thông minh nhằm nâng cao thu nhập đời
và giảm thiểu nguy cơ hết tiền tiết kiệm hưu trí.
Với cuốn sách Basis of social security in Asia: Mutual aid, micro-insurance

những góc độ khác nhau. Từ những nghiên cứu của các nhà khoa học, Đại hội
đồng Liên hợp quốc nhận thấy rằng cần đưa ra Tuyên bố về phát triển và tiến bộ
xã hội để định hướng cho nhận thức và tìm ra cách thức để thúc đẩy TBXH.
Tuyên bố về phát triển và tiến bộ xã hội được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông
qua theo Nghị quyết 2542 (XXIV) ngày 11/12/1969) đã nêu ra những nguyên tắc,
mục tiêu, phương tiện, biện pháp để thực hiện sự phát triển và TBXH, trong đó
Tuyên bố nêu rõ:
Phát triển và TBXH nhằm đạt được các mục tiêu sau:


20
Thứ nhất, phát triển và TBXH cần dựa trên cơ sở tôn trọng phẩm giá và giá
trị của con người.
Thứ hai, tạo điều kiện để phát triển kinh tế và xã hội một cách bền vững và
nhanh chóng, nhất là ở các nước đang phát triển; thay đổi quan hệ kinh tế quốc tế,
có những biện pháp mới và hiệu quả trong hợp tác quốc tế, trong đó bình đẳng
về cơ hội được coi là đặc quyền giữa các dân tộc và giữa các cá nhân trong dân
tộc đó.
Thứ ba, cung cấp một hệ thống an sinh xã hội toàn diện và các dịch vụ phúc
lợi xã hội; thiết lập và cải thiện hệ thống ASXH và hệ thống bảo hiểm cho tất cả
những người ốm đau, khuyết tật, tuổi già đang tạm thời hoặc vĩnh viễn không
còn khả năng kiếm sống, nhằm đảm bảo một mức sống thích đáng cho những
người này cùng gia đình và những người sống phụ thuộc vào họ.
Những mục tiêu mà Tuyên bố nêu ra cho đến nay vẫn là cơ sở để các quốc
gia trên thế giới phấn đấu thực hiện, qua đó đã thúc đẩy sự tiến bộ chung của thế
giới. Trên tinh thần đó, những công trình nghiên cứu về TBXH ngày càng phong
phú và nhận thức về TBXH ngày càng sâu sắc hơn.
Cuốn sách Tiến bộ xã hội - một số vấn đề lý luận [20] do tác giả Nguyễn
Trọng Chuẩn chủ biên, đã phân tích những nội dung cơ bản về TBXH. Theo các
tác giả, trong tương quan với những phạm trù cấu thành nội dung các nguyên lý

quanh co đến mấy, dù bộ mặt của tiến bộ trong xã hội hiện đại có đa dạng đến
mấy thì cái có ý nghĩa sâu xa, quyết định mọi tiến bộ vẫn là sự phát triển của lực
lượng sản xuất, vẫn là sự lớn mạnh của nền sản xuất xã hội. Mặc dù TBXH là
một giá trị gắn rất chặt với các nhân tố tinh thần, chịu sự chi phối của các nhân
tố tinh thần, tuy nhiên, cái quyết định TBXH, xét cho cùng, vẫn là các nhân tố
vật chất, thuộc về nền sản xuất xã hội. Việc đánh giá vai trò to lớn của đời sống
tinh thần, tính quy định của các nhân tố văn hoá tinh thần... trên thực tế, đều phải
dựa vào một tiền đề là thừa nhận tính quyết định của đời sống vật chất. Sự tác
động trở lại của các nhân tố tinh thần đối với đời sống vật chất xã hội, về thực
chất, cũng là tác động để nhân tố vật chất tăng thêm sức mạnh vốn có của nó.
Các tác giả nhấn mạnh rằng, vai trò của sự phát triển lực lượng sản xuất, của sự
tăng trưởng kinh tế đối với TBXH là điều không cần phải bàn cãi, nhưng việc


22
chú ý hơn đến vai trò của phong tục, tập quán, nếp tư duy hoặc lĩnh vực tâm
linh... của mỗi cộng đồng đối với TBXH cũng không kém phần ý nghĩa.
Cuốn Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội [69] của tác giả Nguyễn Minh
Hoàn đã có những nghiên cứu chuyên sâu về khái niệm TBXH. Sau khi khảo
cứu quan điểm của các nhà triết học, các nhà tư tưởng trong lịch sử, cuốn sách đã
trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất, tiêu chuẩn của
TBXH. Đáng chú ý, theo tác giả, trong các yếu tố thúc đẩy TBXH, thì công bằng
xã hội là một yếu tố cơ bản. Công bằng xã hội không chỉ là động lực của TBXH
mà còn là thước đo về mặt xã hội của TBXH. Nhận định này của tác giả cuốn
sách là gợi ý để chúng tôi nghiên cứu về vai trò của ASXH đối với TBXH ở
nước ta hiện nay.
Cuốn sách Gắn tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội [151] của
tác giả Trần Nguyễn Tuyên đã phân tích về khái niệm TBXH, quan điểm của chủ
nghĩa Mác -Lênin về TBXH, tiêu chuẩn của TBXH. Cuốn sách khẳng định, theo
quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, TBXH bao giờ cũng là sự thống nhất giữa

bộ xã hội
Trong cuốn An sinh xã hội và phát triển nguồn nhân lực [122], tác giả Mạc
Văn Tiến cho rằng, ASXH đã góp phần thúc đẩy TBXH…; rằng, sự phát triển xã
hội là một quá trình, trong đó các nhân tố kinh tế và nhân tố xã hội thường xuyên
tác động lẫn nhau… Theo tác giả, cần phải thấy rằng, ASXH không loại trừ được
sự nghèo túng mà chỉ có tác dụng góp phần đẩy lùi nghèo túng, góp phần vào
việc thúc đẩy TBXH.
Cuốn sách An sinh xã hội ở Việt Nam hướng tới 2020 [105] của tác giả Vũ
Văn Phúc đã phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về ASXH ở Việt Nam
trong những năm đổi mới; trong đó, chỉ ra những thành tựu, vai trò của ASXH
đối với sự phát triển xã hội cũng như những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và định
hướng xây dựng hệ thống ASXH ở Việt Nam đến năm 2020.
Cuốn sách Về an sinh xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2012 – 2020 [26] của tác
giả Mai Ngọc Cường đã phân tích thực trạng phát triển ASXH ở Việt Nam hiện
nay, đồng thời phân tích vai trò của hệ thống ASXH đối với các lĩnh vực của đời
sống xã hội. Cuốn sách còn giới thiệu kinh nghiệm của một số nước trong việc


24
phát triển hệ thống ASXH nhằm tăng cường vai trò của nó trong đời sống xã hội,
thúc đẩy sự tiến bộ xã hội.
Cuốn sách Phát triển hệ thống an sinh xã hội Việt Nam đến năm 2020 [75],
do Nguyễn Thị Lan Hương (chủ biên) xuất bản năm 2014, đã cung cấp một số

thông tin cơ bản về tình hình thực hiện ASXH năm 2013 và đi sâu phân tích
những hạn chế và định hướng chính sách nhằm khắc phục những bất cấp đang
tồn tại. Đối với lĩnh vực chính sách BHXH, một trong những trụ cột chính của
hệ thống chính sách ASXH, nhóm nghiên cứu đưa ra 5 tồn tại và 5 khuyến
nghị hoàn thiện chính sách. Cụ thể, loại hình BHXH bắt buộc, với các quy
định của pháp luật hiện hành đã nảy sinh một số bất cập như mức độ tuân thủ

đã phân tích những kết quả và hạn chế của việc xây dựng sàn ASXH ở Việt
Nam những năm qua. Những phân tích này cho thấy rõ vai trò của ASXH đối
với TBXH. Những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ được kế thừa trong quá
trình thực hiện luận án.
Trong bài Bảo đảm ngày càng tốt hơn an sinh xã hội và phúc lợi xã hội là
nội dung chủ yếu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 [40],
nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh rằng, trong việc thực hiện
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010, công tác bảo đảm an sinh xã
hội và phúc lợi xã hội đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Hệ thống các chính
sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội ngày càng đồng bộ và hoàn thiện trên các
lĩnh vực: Xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, phát triển hệ thống bảo hiểm,
ưu đãi người có công với nước, trợ giúp xã hội (TGXH), mở rộng các dịch vụ xã
hội công cộng, tạo điều kiện để người dân được hưởng thụ nhiều hơn về văn hóa,
y tế và giáo dục. Cùng với nguồn lực không ngừng tăng lên và những nỗ lực
trong tổ chức thực hiện, ASXH và phúc lợi xã hội ngày càng được bảo đảm tốt
hơn, góp phần quan trọng vào nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Đặt trọng tâm vào công tác xóa đói, giảm nghèo, cùng với việc đẩy mạnh
phát triển kinh tế, xã hội để nâng cao mức sống chung của nhân dân, Đảng và
Nhà nước đã ban hành và tập trung chỉ đạo thực hiện nhiều chính sách, chương
trình, dự án và huy động nguồn lực của toàn xã hội để trợ giúp người nghèo,
vùng nghèo vượt qua khó khăn, vươn lên thoát nghèo. Các chính sách và giải
pháp xóa đói giảm nghèo được triển khai đồng bộ trên cả 3 phương diện: (1)
Giúp người nghèo tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ công cộng, nhất là về y tế,
giáo dục, dạy nghề, trợ giúp pháp lý, nhà ở, nước sinh hoạt; (2) Hỗ trợ phát triển



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status