Giáo trình luật pháp về các vấn đề xã hội (dùng cho sinh viên học nghề công tác xã hội) phần 1 - Pdf 35

MỤC LỤC
Lời nói đầu
Chương 1
LUẬT PHÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
1.1. Khái niệm quyền con người
1.2. Luật pháp về quyền con người
1.3. Các cơ chế bảo đảm thực hiện quyền con người
1.4. Áp dụng quyền con người trong thực hành công tác xã hội
Câu hỏi ôn tập
Chương 2
PHÁP LUẬT VỀ TRẺ EM
2.1. Khái niện về trẻ em
2.2. Công ước quốc tế về quyền trẻ em:
2.3. Công ước quốc tế 182 của ILO:
2.4. Luật bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em việt nam:
2.5. Pháp luật dành cho trẻ em trong lĩnh vực lao động, dân sự và
tố tụng dân sự
2.6. Vai trò của cán bộ xã hội trong thực hiện quyền trẻ em:
Câu hỏi ôn tập
Chương 3
LUẬT PHÁP VỀ PHỤ NỮ
3.1. Pháp luật quốc tế về phụ nữ
3.2. Pháp luật Việt Nam về phụ nữ:
3.3. Luật bình đẳng giới
3.4. Vai trò của công tác xã hội với bình đẳng giới:
Câu hỏi ôn tập
Chương 4
PHÁP LỆNH NGƯỜI CAO TUỔI
4.1. Khái niệm vị thế người cao tuổi:
4.2. Những quy định ưu đãi người cao tuổi:
4.3. Vai trò của công tác xã hội với quyền của người cao tuổi:

37
38
38
38
43
45
46
46
46
54
56


Chương 6
LUẬT PHÁP VỀ PHÒNG CHỐNG MẠI DÂM
6.1. Một số hiểu biết về mại dâm
6.2. Luật pháp về phòng chống tệ nạn mại dâm
6.3. Vai trò của công tác xã hội với quyền phục hồi cho những
người hành nghề mại dâm
Câu hỏi ôn tập
Chương 7
LUẬT PHÁP VỀ PHÒNG CHỐNG MA TÚY
7.1. Những hiểu biết chung về ma túy và nghiện ma túy
7.2. Luật pháp về phòng chống tệ nạn ma túy
7.3. Công tác xã hội với quyền được phục hồi của người sử dụng
ma túy
Câu hỏi ôn tập

2


Trường Cao đẳng nghề Yên Bái xin trân trọng giới thiệu giáo trình Luật pháp
về các vấn đề xã hội với bạn đọc, hy vọng giáo trình này giúp cho học sinh, sinh
viên học nghề Công tác xã hội nắm bắt được một cách có hệ thống những kiến
thức cơ bản về quyền con người nói chung và quyền của nhóm đối tượng đặc thù
nói riêng.
Trong quá trình biên soạn giáo trình, mặc dù đã có nhiều cố gắng, song khó
tránh khỏi những thiếu sót cả về hình thức lẫn nội dung. Chúng tôi mong nhận
được những ý kiến đóng góp xây dựng để Giáo trình ngày càng hoàn thiện. Các ý
kiến đóng góp xin gửi về Trường Cao đẳng nghề Yên Bái - xã Văn Phú - TP Yên
Bái - tỉnh Yên Bái .
Xin chân thành cảm ơn!
Trường Cao đẳng nghề Yên Bái

3


Chương 1
LUẬT PHÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
1.1. Khái niệm quyền con người:
1.1.1 Nguồn gốc tư tưởng về quyền con người:
Về nguồn gốc tư tưởng về quyền con người có hai trường phái cơ bản đưa ra hai
quan điểm trái ngược nhau:
Quan điểm 1: Theo học thuyết về quyền tự nhiên cho rằng quyền con người là
những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng chỉ đơn giản
bởi họ là thành viên của gia đình nhân loại. Các quyền con người do đó không phụ
thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa hay ý chí của bất kỳ cá nhân,
giai cấp, tầng lớp, tổ chức, cộng đồng hay Nhà nước nào; và không một chủ thể
nào, kể cả các nhà nước có thể ban phát hay tước bỏ các quyền con người bẩm
sinh, vốn có của các cá nhân.
Quan điểm 2: Theo học thuyết về các quyền pháp lý trong đó cho rằng các

- 1689: Luật về Quyền (Anh); “ Hai khảo luận về chính quyền “ của John Locke
* Thời kỳ cận đại
- 1776: “ Tuyên ngôn độc lập” (Mỹ) long trọng tuyên bố: "Tất cả mọi người đều
sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm
phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu
cầu hạnh phúc". (10 tu chính án đầu tiên của Hiến pháp) (Mỹ).
- 1789:“ Tuyên ngôn quyền con người và quyền công dân” (Pháp) “Người ta
sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng
và quyền lợi. Sự khác biệt xã hội chỉ có thể được thiết lập trên cơ sở lợi ích chung”
và “Mục đích của mọi tổ chức chính trị là việc bảo toàn các nguồn lợi thiên nhiên
và bảo toàn các quyền con người không thể bị tước bỏ. Các quyền đó là tự do, tài
sản, sự an toàn, và quyền được chống lại mọi sự áp bức”.
* Thời kỳ hiện đại
- 1917: Cách mạng tháng mười Nga
- 1919: Hội quốc liên và Tổ chức Lao động thế giới (ILO) được thành lập.
- 1945: Liên hợp quốc ra đời, thông qua Hiến chương Liên Hợp quốc.
- 1948: Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người.
- 1965: Công ước quốc tế về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử về
chủng tộc;
- 1966: Công ước quốc tế về quyền chính trị, dân sự và Công ước về các quyền
kinh tế, xã hội và văn hoá.
- 1968: Hội nghị thế giới về quyền con người lần thứ nhất tại Têhêran (Iran)
- 1979: Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ;
- 1984: Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt và đối xử tàn bạo,
vô nhân đạo hay hạ nhục khác;
- 1989: Công ước về quyền trẻ em;
- 1990: Công ước quốc tế về bảo vệ các quyền của tất cả người lao động di trú
và các thành viên trong gia đình họ;
- 2006: Công ước quốc tế về bảo vệ tất mọi người khỏi bị đưa đi mất tích;
- 2006: Công ước về quyền của những người khuyết tật;

đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ với dân tộc Việt Nam mà còn với nhân
dân thế giới, đặc biệt là các nước thuộc địa. Điều này cho thấy, Người không chỉ là
một nhà hoạt động cách mạng mà còn là một nhà tư tưởng xuất sắc về quyền con
người.
- Ngay khi đất nước được tuyên bố độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu
tổ chức cuộc bầu cử đầu tiên càng sớm càng tốt để nhân dân được thực hiện quyền
dân chủ, quyền công dân. Về việc ban hành Hiến pháp, người cho rằng: “nước ta
đã bị chế độ quân chủ cai trị rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế
nên nước ta không có Hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân
chủ. Chúng ta phải có Hiến pháp dân chủ”.
1.1.1.3 Quyền con người được ghi nhận trong các Bản Hiến pháp của Việt Nam:
- Bản Hiến pháp năm 1946 mặc dù được soạn thảo trong bối cảnh đất nước còn
nhiều khó khăn nhưng đã dành sự quan tâm đặc biệt cho vấn đề quyền con người,
trong 70 điều, có 18 điều quy định tập trung về nghĩa vụ và quyền lợi của công dân.
Nhận xét về Hiến pháp năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Bản Hiến pháp
chưa hoàn toàn nhưng nó đã làm nên theo một hoàn cảnh thực tế. Hiến pháp đó
tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã có độc lập. Hiến pháp đó tuyên bố với thế
giới biết dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do. Hiến pháp đó đã tuyên bố với
6


thế giới: phụ nữ Viêt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng
chung mọi quyền tự do của một công dân. Hiến pháp đó đã nêu một tinh thần đoàn
kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bình của
các giai cấp”.
- Bản Hiến pháp năm 1959 trong 112 điều có 21 điều quy định về quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân. Lúc bấy giờ, miền Bắc đã giành được độc lập, cơ sở
kinh tế của chế độ mới đang bắt đầu hình thành, cuộc kháng chiến ở miền Nam
đang bắt đầu. Hoàn cảnh kinh tế - xã hội cho phép Hiến pháp năm 1959 quy định
về quyền và nghĩa vụ của công dân một cách đầy đủ hơn, bổ sung thêm các quyền

của công dân, thể hiện trình độ, mức sống và nền văn minh của một Nhà nước.
1.1.2 Định nghĩa quyền con người:
7


Quyền con người là một vấn đề khá phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực
như đạo đức, chính trị, pháp lý... Chính vì vậy, hiện nay có rất nhiều định nghĩa về
quyền con người, mỗi định nghĩa tiếp cận quyền con người theo những góc độ khác
nhau.
- Một định nghĩa rất phổ biến thường được trích dẫn bởi các học giả theo học
thuyết quyền tự nhiên: Quyền con người là những quyền cơ bản, không thể tước bỏ
mà một người vốn được thừa hưởng đơn giản vì họ là con người.
- Ở cấp độ quốc tế, có một định nghĩa của Văn phòng cao ủy Liên hợp quốc
thường xuyên được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu: quyền con người là những
bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại
những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được
phép và tự do cơ bản của con người1.
- Ở Việt Nam, đã có nhiều tác phẩm phân tích về vấn đề quyền con người.
Trong tác phẩm Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, các tác giả
định nghĩa: Quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con
người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý
quốc tế.
Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng theo quan niệm chung của
cộng đồng quốc tế, quyền con người được xác định dựa trên hai bình diện chủ yếu
là giá trị đạo đức và giá trị pháp luật. Dưới bình diện đạo đức, quyền con người là
giá trị xã hội cơ bản, vốn có (những đặc quyền) của con người như nhân phẩm,
bình đẳng xã hội, tự do...; dưới bình diện pháp lý, để trở thành quyền, những đặc
quyền phải được thể chế hóa bằng các chế định pháp luật quốc tế và pháp luật quốc
gia. Như vậy, dù ở góc độ nào hay cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác
định như là chuẩn mực được kết tinh từ những giá trị nhân văn của toàn nhân loại,

con người các nước này đã có một số quy định nhằm hạn chế quyền con người.
- Ở Việt Nam xuất phát từ bản chất của Nhà nước là nhà nước của dân, do dân
và vì dân nên quyền con người ở Việt Nam được đảng và Nhà nước ta hết sức quan
tâm, được ghi nhận trong các văn bản pháp luật quan trọng, được chỉ đạo thực hiện
một cách đầy đủ và đúng đắn.
1.2. Luật pháp về quyền con người:
1.2.1 Luật pháp quốc tế về quyền con người
1.2.1.1 Bộ luật quốc tế về quyền con người:
- Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948
- Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 và 2 nghị định
thư bổ sung;
- Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966.
* Tuyên ngôn thế giới về quyền con người:
- Tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948 là tuyên ngôn về các quyền cơ
bản của con người được Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10 tháng 12
năm 1948. Trong lời nói đầu, tuyên ngôn đã thực sự đề cao tầm quan trọng của
nhân quyền đối với sự sống còn của loài người: “việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh
và những quyền bình đẳng bất khả chuyển nhượng của tất cả các phần tử trong đại
gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, công lý và hoà bình thế giới”. Tuyên
ngôn bao gồm 30 điều, lần đầu tiên liệt kê một cách toàn diện những quyền của con
người trong tất cả các phương diện chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội và văn hóa.
Hai điều đầu tiên của Tuyên ngôn khẳng định rằng: tất cả mọi người, không
phân biệt, sinh ra đều tự do, bình đẳng về phẩm giá và các quyền và nhấn mạnh các
nguyên tắc cơ bản của sự bình đẳng, không phân biệt trong việc hưởng các quyền
và tự do cơ bản.
9


19 điều tiếp theo (từ điều 3 đến điều 21) quy định các quyền dân sự và chính
trị mà là con người phải được hưởng gồm:

nhau, được trả lương xứng đáng và hợp lý để đảm bảo cho một cuộc sống có giá trị
như một con người, được thành lập hoặc gia nhập công đoàn (điều 23).
- Quyền nghỉ ngơi, giải trí (điều 24).
- Quyền có một mức sống thích đáng và được bảo hiểm. Phụ nữ và trẻ em
được giúp đỡ đặc biệt (điều 25).
10


- Quyền được học tập (điều 26).
- Quyền được tham gia vào đời sống văn hoá của cộng đồng, thưởng thức văn
hóa-nghệ thuật, quyền được bảo hộ các lợi ích vật chất và tinh thần phát sinh từ các
sáng tạo khoa học, văn học hay nghệ thuật của mình (điều 27).
- Quyền được sống trong một trật tự xã hội và quốc tế, mà trong đó các quyền
và tự do cơ bản nêu ra trong Tuyên ngôn được thực hiện một cách đầy đủ (điều 28).
Các nhóm quyền con người cơ bản là dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn
hoá được xác định cụ thể trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính
trị năm 1966 và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá năm
1966 được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 16-12-1966. Đây là những
thoả thuận về quyền con người đầu tiên của Liên hợp quốc có tính chất ràng buộc
chặt chẽ mang tính pháp lý dưới hình thức công ước - những trụ cột đầu tiên của
pháp luật quốc tế về quyền con người. Việt Nam phê chuẩn công ước ngày 24
tháng 9 năm 1982.
1.2.2 Quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước Việt Nam về quyền con người
- Thứ nhất: Quyền con người là giá trị chung của toàn nhân loại
Quyền con người có tính phổ biến, được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi
thành viên trong gia đình nhân loại, không có sự phân biệt đối xử vì bất cứ lý do gì
như về chủng tộc, dân tộc, giới tính, độ tuổi, thành phần xuất thân...
Trong Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 12 tháng 7 năm 1992, Ban Bí thư Trung
ương Đảng đã khẳng định: “Quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu
dài qua các thời đại của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới,

mỗi quốc gia
Quyền con người là một giá trị phổ biến của nhân loại, bao hàm những quyền
và nguyên tắc được áp dụng phổ biến ở mọi nơi, cho mọi đối tượng. Mặc khác,
quyền con người cũng mang tính đặc thù với mỗi quốc gia theo trình độ phát triển
kinh tế - xã hội, truyền thống văn hóa và lịch sử.
- Thứ năm: Quyền con người thể hiện trong quyền công dân và được pháp luật
bảo hộ
Quyền con người muốn được hiện thực hóa phải được quy định cụ thể trong
pháp luật, nếu không, nó chỉ mang ý nghĩa hô hào, không có ý nghĩa thực tế.
- Thứ sáu: Quyền không tách rời nghĩa vụ
Về mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ, Đảng ta nhận định: “Quyền dân chủ,
tự do của mỗi cá nhân không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm công dân. Dân chủ
phải đi đôi với kỷ cương, pháp luật. Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy
quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời thực hiện chuyên chính với mọi hành động
xâm phạm lợi ích Tổ quốc, của nhân dân”.
- Thứ bảy: Tất cả các quyền con người cần được tôn trọng và bảo đảm một
cách bình đẳng:
Tất cả các quyền của con người đều có ý nghĩa quan trọng như nhau và không
có quyền nào được coi là vượt trội hơn quyền nào. Việc thực hiện hay không thực
hiện một quyền sẽ có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến các quyền khác.
Việc coi trọng sự bình đẳng giữa các quyền con người được thể hiện rõ nét
trong Hiến pháp năm 2013. Trong Hiến pháp, các quyền con người được ghi nhận
một cách toàn diện và có mối liên quan chặt chẽ với nhau.
- Thứ tám: Mở rộng đối thoại và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quyền con
người:
Đảng ta chủ trương thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quyền con người
trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can
thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Trong Chỉ thị số 12-CT/TW, Đảng khẳng
định: “Quyền con người là vấn đề đang được đặt ra trong các mối quan hệ quốc tế.
Cần làm tốt công tác đối ngoại, giữ vững độc lập, chủ quyền của nước ta, sẵn sàng

quyền các nước khu vực châu mỹ.
* Hiệp hội các quốc gia đông nam á ( ASEAN) đã ban hành quy chế hoạt động
của ủy ban liên chính phủ ASEAN về nhân quyền trên cơ sở điều 14 Hiến chương
ASEAN năm 2007.
1.3.1.3. Cách thức thực hiện:
* Bảo vệ quyền bằng công cụ do nhà nước thiết lập:
Việc thiết lập công cụ để bảo vệ quyền con người, quyền công dân là tạo ra
các thiết chế nhà nước bảo vệ quyền. Đây là yếu tố không thể thiếu của hệ thống
bảo đảm quyền. Về nguyên tắc, bộ máy nhà nước hiện đại được thiết kế không
cồng kềnh song phương thức, công cụ bảo đảm quyền công dân thì cần đa dạng và
13


phong phú. Ở phạm vi quốc gia, thực chất của việc bảo vệ quyền công dân là nghĩa
vụ của mọi cơ quan nhà nước và công chức nhà nước. Công dân bảo vệ tự do của
mình thông qua cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ngoài ra, việc Nhà nước
thừa nhận công cụ quốc tế (ví dụ, cho phép công dân bảo vệ quyền thông qua Liên
hợp quốc và các thiết chế của nó, các thiết chế bảo vệ khu vực) cũng là thiết lập
công cụ pháp lý để bảo vệ quyền tự do của các cá nhân trong xã hội.
* Cá nhân tự bảo vệ quyền:
Quyền con người, quyền công dân được tôn trọng và bảo đảm tốt nhất trong
điều kiện của nhà nước pháp quyền dân chủ, một chế độ Hiến pháp phù hợp với
những nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tế. Tuy nhiên, do những điều kiện
khách quan và chủ quan mà đối với mỗi quốc gia, điều này cần không ít thời gian
để đạt được. Quyền tự do của cá nhân có thể bị vi phạm thường xuyên khi hệ thống
các cơ quan nhà nước có chức năng bảo vệ quyền hoạt động không có hiệu quả. Vì
thế, Nhà nước cần thừa nhận hình thức tự vệ cá nhân của công dân: mỗi người có
quyền tự bảo vệ mình trước những hành vi trái pháp luật của những người khác
bằng biện pháp hợp pháp. Tự vệ là bảo đảm quan trọng đặc biệt đối với bảo vệ các
quyền tự do cá nhân cơ bản của công dân như quyền bất khả xâm phạm về tính

trẻ em, người thiểu số, người bản địa... Có những ủy ban được giao thẩm quyền xử
lý tất cả vi phạm các quyền được nêu lên trong Hiến pháp, trong khi một số khác
chỉ có thẩm quyền xử lý những vi phạm về chủng tộc, tôn giáo, giới, quan điểm
chính trị… Một chức năng quan trọng nữa của các ủy ban quyền con người quốc
gia là tiếp nhận, điều tra và giải quyết những khiếu nại của các cá nhân và các
nhóm về những vi phạm quyền con người theo pháp luật quốc gia.
1.3.3 Đảm bảo quyền con người của các đối tượng đặc thù
- Bên cạnh các chức năng kể trên, nhiều ủy ban quyền con người quốc gia
được giao thẩm quyền nghiên cứu chính sách và hoạt động liên quan đến quyền con
người của chính phủ để phát hiện những tồn tại, hạn chế và đề xuất những biện
pháp khắc phục, từ đó thúc đẩy sự tiến bộ trong việc bảo vệ quyền con người. Các
ủy ban cũng có thể được giao quyền giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước
trong việc tuân thủ pháp luật quốc gia và quốc tế về quyền con người. Cuối cùng,
nhiều ủy ban quyền con người quốc gia còn được giao chức năng giáo dục, tuyên
truyền nâng cao nhận thức của người dân về quyền con người.
* Cách thức thực hiện
Về tổ chức của cơ quan quyền con người quốc gia, Các nguyên tắc Pari
khuyến nghị cần bảo đảm sự đa dạng của cơ quan này gồm đại diện của nhiều loại
cơ quan, tổ chức trong xã hội, trong đó bao gồm:
- Các tổ chức phi chính phủ hoạt động trên lĩnh vực quyền con người và chống
phân biệt đối xử, các tổ chức công đoàn, các tổ chức xã hội và nghề nghiệp liên
quan như đoàn luật sư, hiệp hội của các bác sỹ, nhà báo các nhà khoa học..
- Các tổ chức tôn giáo;
- Các trường đại học;
- Các nghị viện;
- Các cơ quan chính phủ.
Về thẩm quyền, Các nguyên tắc Pari khuyến khích việc trao thẩm quyền cho
cơ quan quyền con người quốc gia “càng rộng càng tốt”, và thẩm quyền đó cần
được quy định trong hiến pháp hoặc văn bản luật. Cụ thể, cơ quan quyền con người
quốc gia cần có các thẩm quyền sau:

vi chức năng hoạt động của cơ quan;
- Trực tiếp trả lời công luận hoặc thông qua các cơ quan báo chí, đặc biệt trong
việc phổ biến các ý kiến và khuyến nghị của cơ quan;
- Gặp gỡ định kỳ các thành viên của cơ quan;
- Thiết lập các nhóm hoạt động, các văn phòng địa phương hoặc - Thiết lập
các nhóm hoạt động, các văn phòng địa phương hoặc khu vực nhằm hỗ trợ việc
thực hiện các chức năng của cơ quan;
- Duy trì tư vấn cho các cơ quan, tổ chức khác của quốc gia mà có trách nhiệm
trong việc giải quyết các vấn đề về quyền con người (đặc biệt là các cơ quan thanh
tra, hòa giải…);
- Quan tâm, phát triển quan hệ với các tổ chức phi chính phủ hoạt động trên
lĩnh vực quyền con người, phát triển kinh tế và xã hội, chống phân biệt đối xử, bảo
vệ quyền của các nhóm dễ bị tổn thương (đặc biệt là trẻ em, lao động nhập cư,
người tị nạn, người khuyết tật về thể chất và tâm thần) hoặc tại các khu vực đặc
biệt.
1.4. Áp dụng quyền con người trong thực hành công tác xã hội
16


1.4.1 Khung lý thuyết dựa trên quyền con người trong thực hành công tác xã hội
- Tăng cường và mở rộng dân chủ: Dân chủ là một tiêu chí quan trọng để đánh
giá mức độ thực thi quyền con người. Các quyền con người chỉ được tôn trọng và
bảo đảm trong một xã hội dân chủ.
- Tăng cường hoạt động phổ biến, giáo dục về quyền con người, quyền công
dân cho cán bộ và nhân dân: Phổ biến các kiến thức về quyền con người, quyền
công dân là một biện pháp có tính chất bền vững để thúc đẩy, bảo vệ quyền con
người. Ở Việt Nam, hoạt động này lâu nay vẫn được duy trì một cách thường
xuyên. Giáo dục về quyền con người, quyền công dân từ lâu đã trở thành một
nội dung quan trọng trong chương trình giáo dục công dân, giáo dục pháp luật ở
các cấp học. Tuy vậy, nhận thức về quyền con người trong một bộ phận dân



Qua đối thoại, cộng đồng quốc tế sẽ có cơ hội hiểu hơn về tình hình nhân quyền ở
Việt Nam; đồng thời, đây cũng là một cơ hội để Việt Nam học hỏi kinh nghiệm của
các quốc gia trên thế giới.
1.4.4. Xây dựng cơ chế để thân chủ vận động về những dịch vụ họ được thụ
hưởng
- Bảo đảm sự bình đẳng giữa các dân tộc, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về quyền
con người, quyền công dân: Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân tộc cùng sinh sống.
Trong lịch sử, các dân tộc luôn đoàn kết, tương trợ lẫn nhau. Trong công cuộc đổi mới,
Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán chính sách bảo đảm quyền bình đẳng giữa các dân
tộc, coi đó là một trong những nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng.
Chính sách này được thể hiện trong nhiều văn kiện của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà
nước.
- Ngăn ngừa và trừng trị những hành vi vi phạm quyền con người, quyền công dân,
đồng thời, chống khuynh hướng dân chủ cực đoan, quá khích, lợi dụng vấn đề quyền con
người để chống phá chế độ.

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG
1. Anh (chị) hãy phân tích nguồn gốc tư tưởng về quyền con người?
2. Anh (chị) hãy trình bày cơ chế bảo đảm quyền con người?
3. Anh (chị) hãy phân tích lịch sử phát triển của luật pháp quốc tế về quyền
con người?
4. Anh (chị)hãy phân tích lịch sử phát triển của luật pháp quốc gia về quền
con người?

18


Chương 2

2.2.1 Một số nội dung cơ bản của công ước:
2.2.1.1 Các nguyên tắc cơ bản trong công ước: bao gồm 4 nguyên tắc
- Nguyên tắc 1, Bảo đảm sự sống còn và phát triển của trẻ em: bằng tất cả các
biện pháp cần thiết các quốc gia phải bảo đảm đến mức tối đa sự sống còn và phát
triển của trẻ em.
- Nguyên tắc 2, Không phân biệt đối sử: tất cả trẻ em đều bình đẳng và được
hưởng đầy đủ các quyền trẻ em trong công ước, các quốc gia phải thi hành mọi
biện pháp để bảo vệ trẻ em tránh khỏi hình thức phân biệt đối sử.
- Nguyên tắc 3, lợi ích tốt nhất giành cho trẻ em: nhà nước, các bậc cha mẹ và
các chủ thể khác phải lấy lợi ích của trẻ em là mục tiêu hàng đầu.
19


- Nguyên tắc 4, tôn trọng ý kiến của trẻ em: các quốc gia thành viên phải đảm
bảo cho trẻ em có đủ khả năng hình thành quan điểm riêng của mình.
2.2.1.2. Các nhóm quyền cơ bản: bao gồm 4 nhóm quyền cụ thể như sau
* Quyền được sống còn bao gồm:
- Sống và phát triển: các quốc gia phải đảm bảo đến mức tối đa sự sống còn và
phát triển của trẻ em.
- Sống với cha mẹ và đoàn tụ gia đình.
- Được nhận làm con nuôi, được chăm sóc nuôi dưỡng khi bị mất môi trường
gia đình, được nhận sự giúp đỡ nhân đạo.
- Hưởng trạng thái sức khỏe cao nhất và các dịch vụ chữa bệnh và phục hồi
sức khỏe.
- Hưởng sự chăm sóc đặc biệt: Trẻ em bị khuyết tật được chăm sóc, giáo dục
và điều trị đặc biệt.
* Quyền được bảo vệ bao gồm:
- Bảo vệ khỏi bị bắt cóc và buôn bán.
- Bảo vệ khỏi các hình thức bóc lột, lạm dụng, ngược đãi, bỏ mặc.
- Bảo vệ đời tư.

- Sử dụng trẻ em trong các công việc có tính chất hoặc hoàn cảnh lao động có
thể tác động có hại đến sức khỏe, an toàn và đạo đức của các em.
* Các biện pháp thực hiện:
- Ngăn chặn việc sử dụng trẻ em vào những hình thức lao động tồi tệ nhất.
- Cung cấp các trợ giúp cần thiết đưa trẻ em thoát khỏi những hình thức lao
động tồi tệ.
- Bảo đảm cho trẻ em tiếp cận những hình thức giáo dục cơ bản miễn phí và
các hình thức dạy nghề ở bất cứ nơi nào có thể.
- Xác nhận và tiếp cận với những trẻ em có nguy cơ cao phải tham gia các lao
động trẻ em tồi tệ.
- Quan tâm đến hoàn cảnh đặc biệt của trẻ em gái.
- Tiến hành hợp tác quốc tế và trợ giúp lẫn nhau trong việc thự hiện công ước.
2.4. Luật bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em việt nam:
2.4.1. Sự ra đời của luật:
Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em được QH khóa 11 thông qua ngày
15/6/2004. luật gồm 5 chương và 60 điều.
2.4.2. Cấu trúc của luật
Chương 1: Những quy định chung ( điều 1 – điều 10).
Chương 2: Các quyền cơ bản và bổn phận của trẻ em ( điều 11 – điều 22).
Chương 3: Trách nhiệm bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em ( điều 23 – điều 39).
Chương 4: Bảo vệ chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ( điều 40 – điều 58).
Chương 5: Hiệu lực thi hành
2.4.3. Nội dung của luật
2.4.3.1.Quyền của trẻ em được quy định trong luật:
- Quyền được khai sinh và có quốc tịch
Khoản 1 điều 11 luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định: “Trẻ em
có quyền được khai sinh và có quốc tịch”. Quyền được khai sinh là điều kiện tiên
quyết để khẳng định mỗi trẻ em sinh ra một công dân của một quốc gia, một công
dân bình đẳng, có những quyền và nghĩa vụ như những công dân khác.
- Quyền sống chung với cha mẹ

Điều 21: Luật bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em năm 2004 quy định:
1. Yêu quý, kính trọng, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ; kính trọng thầy giáo, cô
giáo; lễ phép với người lớn, thương yêu em nhỏ; đoàn kết với bạn bè; giúp đỡ
người già yếu, người khuyết tật, tàn tật, người gặp hoàn cảnh khó khăn theo khả
năng của mình.
2. Chăm chỉ học tập, giữ gìn vệ sinh , rèn luyện thân thể , thực hiện trật tự
công cộng và an toàn giao thông, giữ gìn của công, tôn trọng tài sản của người
khác, bảo vệ môi trường.
3. Yêu lao động , giúp đỡ gia đình làm những việc vừa sức mình.
2.5. Pháp luật dành cho trẻ em trong lĩnh vực lao động, dân sự và tố tụng dân
sự
- Về năng lực pháp luật dân sự: Trẻ em và người lớn bình đẳng về năng lực
pháp luật dân sự
- Về năng lực hành vi dân sự và tố tụng dân sự: trẻ em chưa đủ 6 tuổi được coi
là chưa có năng lực hành vi dân sự, mọi giao dịch phải do người đại diện theo pháp
luật xác lập, thực hiện.
- Quyền được khai sinh và có quốc tịch là một trong những quyền cơ bản đầu
tiên của trẻ em và là cơ sở cho việc thực hiện các quyền khác.
- Quyền được đối xử bình đẳng: trẻ em không phân biệt gái, trai, con trong hay
ngoài giá thú, con đẻ, con nuôi… không phân biệt dân tộc tôn giáo đều được bảo vệ
chăm sóc và giáo dục.
- Quyền được chăm sóc nuôi dưỡng trong gia đình: Trẻ em có quyền được
sống chung với cha mẹ, được thương yêu, trông nom, chăm sóc, được chăm lo việc
22


học tập và giáo dục để phát triển lành mạnh về thể chất trí tuệ, tinh thần và đạo đức
trở thành người con hiếu thảo trong gia đình, công dân có ích cho xã hội.
- Quyền được giám hộ: Khi trẻ em không còn cha mẹ, không xác định được
cha, mẹ hoặc cha mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự… thì trẻ được giám hộ

+ Không phải là người đang bị hạn chế một số quyền của cha mẹ đối với con
chưa thành niên hoặc bị kết án mà chưa được xóa án tích…
- Quyền có tài sản riêng trẻ em có quyền có tài sản riêng. Thu nhập của trẻ có
thể từ nguồn được tặng cho, được thừa kế hay do lao động của trẻ em mà có. Tuy
nhiên trong nhiều trường hợp cha mẹ là người có quyền quản lý ( Khi con dưới 15
tuổi). Trẻ em đủ 15 tuổi trở lên có quyền định đoạt tài sản riêng, nếu tài sản đó có
giá trị không quá lớn.
2.6. Vai trò của cán bộ xã hội trong thực hiện quyền trẻ em:
23


2.6.1 Biện pháp bảo vệ quyền trẻ em trong gia đình
- Tiếp nhận thông tin; kiểm tra, đánh giá nguy cơ sơ bộ; thực hiện các biện
pháp bảo đảm an toàn tạm thời cho trẻ em trong tình trạng khẩn cấp.
- Thu thập thông tin, xác minh và đánh giá nguy cơ cụ thể đối với trẻ em bị
bạo lực, bị xâm hại tình dục.
- Xây dựng và thông qua kế hoạch can thiệp, trợ giúp trẻ em bị bạo lực, bị xâm
hại tình dục.
- Thực hiện hoạt động can thiệp, trợ giúp.
- Rà soát, đánh giá nguy cơ sau can thiệp, trợ giúp và báo cáo kết quả can
thiệp, trợ giúp.
2.6.2 Các vấn đề bảo vệ quyền trẻ em trong các cơ sở chăm sóc
- Cán bộ bảo vệ, chăm sóc trẻ em cấp xã có trách nhiệm tiếp nhận thông tin
của mọi công dân, tổ chức về các vụ việc trẻ em bị bạo lực, bị xâm hại tình dục.
- Khi tiếp nhận thông tin về vụ việc trẻ em bị bạo lực, bị xâm hại tình dục, cán
bộ bảo vệ, chăm sóc trẻ em cấp xã có trách nhiệm:
- Ghi chép kịp thời, đầy đủ thông tin về vụ việc.
- Báo cáo với chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã và phối hợp với các cá nhân, cơ
quan, tổ chức có liên quan, gia đình, trường học, hàng xóm, bạn bè của trẻ em nạn
nhân kiểm tra tính xác thực của thông tin, đồng thời bổ sung các thông tin liên quan

Trẻ em có quyền sống chung với cha mẹ. Không ai có quyền buộc trẻ em phải
cách ly cha mẹ, trừ trường hợp vì lợi ích của trẻ em. Các trường hợp trẻ em buộc
phải cách ly cha mẹ được pháp luật quy định, gồm:
- Cha và mẹ đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang phải chấp hành hình phạt tù.
- Cha mẹ bị Tòa án quyết định hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa
thành niên hoặc quyết định không cho cha mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Trẻ em bị quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục…
Khi phải sống cách ly cha mẹ, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em được
bảo đảm như sau:
- Trong trường hợp, cha và mẹ đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang phải chấp
hành hình phạt tù, thì trẻ em phải sống cách ly cha, mẹ và được các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền và các tổ chức chính trị - xã hội chăm sóc, nuôi dưỡng thay
thế, trừ trẻ em dưới ba mươi sáu tháng tuổi.
- Trong trường hợp bị Tòa án quyết định hạn chế quyền của cha mẹ đối với
con chưa thành niên, thì trong thời gian thi hành quyết định của Tòa án, trẻ em
được giúp đỡ, bảo vệ lợi ích; Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ
điều kiện trực tiếp nuôi con, thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo
quy định của Bộ luật Dân sự.
2.6.5 Khái niệm về xây dựng năng lực cho ủy ban nhân dân hiểu về quyền trẻ
em, luật pháp, xâm hại trẻ em và bảo vệ trẻ em.
Để bảo đảm quyền trẻ em cán bộ xã hội phải tuyên truyền, vận động, tham
mưu với cấp ủy chính quyền và các đoàn thể địa phương làm tốt các nội dung sau:
- Bảo đảm cho trẻ em được chăm sóc sức khỏe, học tập đào tạo nghề, hưởng
an sinh xã hội, có các điều kiện vui chơi giải trí.
- Bảo vệ trẻ em khỏi bị bóc lột tình dục, lao động ngược đãi, bỏ mặc, bắt
cóc…
- Hỗ trợ gia đình bằng cách tôn trọng quyền, trách nhiệm trong việc bảo vệ
chăm sóc trẻ em của gia đình…
- Chăm sóc đặc biệt cho trẻ em tàn tật, trẻ em tỵ nạn, trẻ em là người dân tộc
thiểu số…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status