Nghiên cứu một số mô hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ rau chế biến giữa một số công ty chế biến nông sản Bắc Giang và các hộ nông dân xã Quang Thịnh, - Pdf 35

PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi và giúp nhau xóa
đói, giảm nghèo ở các địa phương những năm gần đây đã có bước phát triển
mới, đạt được nhiều thành tựu đáng mừng, góp phần tích cực vào việc phát
triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới, làm thay đổi bộ mặt nông
thôn. Tuy nhiên, câu chuyện về “tìm cây gì, con gì” vẫn đang còn là vấn đề
đầy tính thời sự đối với trên 70% dân số cả nước đang sinh sống tại các làng
quê và chủ yếu bằng nghề nông, tạo nguồn thu nhập từ đất. Nhiều vấn đề liên
quan đến dịch vụ đầu vào và đầu ra đã và đang trở nên nóng bỏng.
Trong những năm qua, hiệu quả kinh tế của việc trồng rau, quả nguyên
liệu phục vụ chế biến từng bước được khẳng định, diện tích rau chế biến tăng
nhanh qua các năm (diện tích rau chế biến năm 2008 đã tăng gấp hơn 2 lần
năm 2005); góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống và tạo việc làm ổn
định tại chỗ cho nông dân, xây dựng và phát triển nông thôn mới theo hướng
ổn định, bền vững về kinh tế - xã hội.
Trước những khó khăn đặt ra về tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ khoa học,
kỹ thuật và nguyên liệu đầu vào, Chính phủ đã có chủ trương tăng cường sự
liên kết “bốn nhà” (Quyết định số 80/2002/QĐ - TTg ngày 24/6/2002) để
nhằm tháo gỡ khó khăn này cho nông dân. Chương trình liên kết “bốn nhà”
gồm: “Nhà quản lý, nhà khoa học, nhà nông và nhà doanh nghiệp” ra đời,
nhằm tạo mối liên kết mật thiết giúp nông dân tạo ra sản phẩm nông nghiệp
bảo đảm cả chất và lượng, để phục vụ cho thị trường trong nước và xuất
khẩu.
Thực hiện Quyết định số 80/2000/QĐ - TTg ngày 24/6/2002 của Thủ
tướng Chính phủ về Chính sách tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp

1





Nghiên cứu mô hình liên kết trong sản xuất, tiêu thụ rau từ đó đưa ra
một số giải pháp phát triển các mô hình liên kết bền vững có hiệu quả trong
thời gian tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về mô hình, liên kết kinh tế, mối liên kết,
mô hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ giữa công ty chế biến nông sản với
các hộ dân.
- Đánh giá mô hình liên kết của một số Công ty chế biến nông sản và
các hộ dân đối với sản xuất, tiêu thụ rau chế biến (Tập trung vào hai sản
phẩm là dưa chuột bao tử và cà chua bi).
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự liên kết bền vững giữa các
công ty chế biến nông sản trong tỉnh và các hộ dân.
- Đề xuất một số giải pháp để tạo nên mối liên kết bền vững nhằm
nâng cao hiệu quả sản xuất và tiêu thụ của công ty chế biến với các hộ nông
dân trong các mô hình liên kết trên.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Mô hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ của hai công ty chế biến
nông sản trên với các hộ nông dân hiện nay?
- Ưu nhược điểm của từng mô hình?
- Mô hình liên kết nào đem lại hiệu quả cao nhất? Nguyên nhân?
- Yếu tố nào tạo nên sự liên kết bền vững giữa công ty chế biến và hộ
dân?
- Các giải pháp nâng cao hiệu quả liên kết?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hai mô hình liên kết trong sản xuất, tiêu thụ rau chế biến là dưa chuột
bao tử, cà chua bi giữa các hộ dân xã Quang Thịnh, huyện Lạng Giang, tỉnh


khác nhau mà mô hình có những quan niệm, nội dung và cách hiểu riêng. Khi
tiếp cận về mặt vật lý học thì mô hình là vật đồng dạng nhưng được thu nhỏ
lại. Nếu tiếp cận sự vật để nghiên cứu có thể coi mô hình là sự mô phỏng cấu
tạo và hoạt động của một vật để nghiên cứu và trình bày. Khi mô hình hoá
đối tượng nghiên cứu thì mô hình sẽ đơn giản một vấn đề phức tạp, giúp cho
ta nhận biết được đối tượng nghiên cứu. Mô hình còn được coi là “hình ảnh
quy ước của đối tượng nghiên cứu” và còn là “kiểu mẫu” về một hệ thóng các
mối quan hệ hay tình trạng kinh tế” (Eastonc. and Sheherd A.W, 2001).
Theo Hoàng Đình Tuấn (1998) thì mô hình là sự phản ánh hiện thực
khách quan của đối tượng, sự hình dung, tưởng tượng đó bằng ý nghĩa của
người nghiên cứu.
Tác giả Hoàng Thọ Xuân (2007) cho rằng mô hình theo nghĩa phổ biến
là sự mô phỏng dưới một hình thức diễn tả thu gọn và cô đọng bằng những
ngôn ngữ nào đó có tính ước lệ nhằm đặc trưng cho những thuộc tính bản
chất và chúng nhất về cấu trúc và hành động của một khách thể (sự vật, hiện
tượng hoặc một quá trình) nào đó trong tổng thể tự nhiên và xã hội.
Các quan niệm trên khác nhau tuỳ theo góc độ tiếp cận và mục đích
nghiên cứu, nhưng khi sử dụng đều được dùng để mô phỏng đối tượng
nghiên cứu.

5


Mô hình được phân chia thành hai loại là mô hình vật chất và mô hình
lý thuyết, nhưng đều có ba đặc trưng sau:
- Tính tương tự: Mô hình phản ánh các thuộc tính cần nghiên cứu của
đối tượng nghiên cứu do đó kết quả nghiên cứu trên mô hình cũng giống như
kết quả nghiên cứu trên nguyên mẫu.
- Tính đơn giản: Khi xây dựng mô hình theo một mục đích nghiên cứu
nhất định, mô hình chỉ mang các thuộc tính và quan hệ, đặc trưng cơ bản của

kết đó phải được thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi, quản lý
dân chủ và hoạt động ttừ thấp đến cao. Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay,
liên kết kinh tế đang trỏ thành nhu cầu bức xúc cho việc phát triển kinh tế, xã
hội. Sau đây là một số quan điểm về liên kết kinh tế.
Trong hệ thống thuật ngữ kinh tế, từ tiếng Anh “integration” có nghĩa
là sự hợp nhất, sự phối hợp hay sát nhập của nhiều bộ phận thành một chỉnh
thể. Trước đây khái niệm này được biết đến với tên gọi là nhất thể hoá và gần
đây mới gọi là liên kết.
Trong từ điển kinh tế học hiện đại, David. W. Pearce (1999) cho rằng
“Liên kết kinh tế chỉ các tình huống khi mà các khu vực khác nhau của một
nền kinh tế thường là khu vực công nghiệp và nông nghiệp hoạt động phối
hợp với nhau một cách có hiệu quả và phụ thuộc lẫn nhau, là một yếu tố của
quá trình phát triển. Điều kiện này thường đi kèm với sự tăng trưởng bền
vững”.
Theo từ điển thuật ngữ kinh tế học của viện nghiên cứu và phổ biến
kiến thức bách khoa, xuất bản năm 2001, thì “Liên kết kinh tế là sự hợp tác,
phối hợp hoạt động do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành nhằm thúc đẩy
sản xuất kinh doanh phat triển theo hướng có lợi nhất trong kuôn khổ pháp
luật của nhà nước. Mục tiêu liên kết kinh tế là tạo ra sự ổn định của các hoạt
động kinh tế thông qua các quy chế hoạt động để tiến hành phân công sản
xuất, khai thác tốt các tiềm năng của các đơn vị tham gia liên kết để tạo ra
thij trường tiêu thị chung, bảo vệ lợi ích cho nhau”.

7


Điều 1 Quyết định số 38 HĐBT ngày 10/04/1989 về liên kết kinh tế
trong sản xuất, lưu thông, dịch vụ có ghi “Liên kết kinh tế là những hình thức
phối hợp hoạt động, do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành để cùng nhau
bàn bạc và để ra các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản

phí trung gian. Như vậy có thể hiểu liên kết dọc là liên kết giữa các tác nhân
ở các mắt xích liên tiếp nhau trong sản xuất một ngành hàng.
Liên kêt theo chiều ngang là hình thức liên kết mà trong đó mỗi tổ
chức hay cá nhân tham gia là một đơn vị hoạt động độc lập nhưng có quan hệ
với nhau thông qua một bộ máy kiểm soát chung. Trong liên kết này, mỗi
thành viên tham gia có sản phẩm hoặc dịch vụ cạnh tranh nhau nhưng họ liên
kết lại để nâng cao khả năng cạnh tranh cho từng thành viên nhờ phát huy
tính lợi ích kinh tế nhờ quy mô của tổ chức liên kết. Kết quả của liên kết theo
chiều ngang là hình thành nên những tổ chức liên kết như hợp tác xã, liên
minh, hiệp hội,… và cũng có thể dẫn đến độc quyền trong một thị trường
nhất định. Với hình thức liên kết này, ngành nông nghiệp có thể hạn chế được
sức ép cấp, ép giá nông sản của các cơ sở chế biến nhờ sự làm chủ thị trường
nông sản [Phạm thị Minh Nguyệt, 2006]. Có thể hiểu liên kết ngang là mối
liên kết giữa các tác nhân sản xuất như nhau ở cùng một cấp, cùng một giai
đoạn hay cùng một mắt xích của một ngành hàng.
2.1.2.2 Vai trò
Liên kết kinh tế là một hình thức đảm bảo đem lại lợi ích chắc chắn co
các bên liên quan.
- Liên kết kinh tế giúp các tác nhân khắc phục những hạn chế về qui
mô và linh vực hoạt động theo huớng hiệu quả hơn.
- Liên kết kinh tế giúp các tác nhân phản ứng nhanh với các thay đổi
của thị trường: (i) giúp nhà sản xuất có thể đáp ứng được nhu cầu thị truờng
luôn luôn thay đổi bằng cách đa dạng hóa mẫu mã và chủng loại sản phẩm;
(ii) giúp cho tiêu thụ sản phẩm được nhanh hơn thông qua liên kết của hệ
thống nhà thương mại và nhà sản xuất; (iii) giúp các chủ thể tiếp cận nhanh

9


chóng với các công nghệ kĩ thuật mới nhờ sự phối hợp với các nhà nghiên


Liên kết kinh tế đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của các
chủ thể tham gia không ngừng phát triển và đạt hiệu quả ngày càng cao. Đây
vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu của mọi hoạt động xuyên suốt của liên kết
kinh tế. Dù được tiến hành dưới hình thức và mức độ nào thì các quan hệ
kinh tế cũng phải đáp ứng được yêu cầu phát triển bền vững của các bên tham
gia.
Liên kết kinh tế phải được hình thành trên tinh thần tự nguyện tham gia
của các bên liên kết. Các liên kết chỉ thành công và hiệu quả khi được xây
dựng trên cơ sở tự nguyện của các bên tham gia để giải quyết những khó
khăn hoặc tìm kiếm lợi ích cao hơn thông qua liên kết. Chỉ khi tự nguyện
tham gia các chủ thể liên kết mới phát huy hết năng lực nội tại của mình xây
dựng nên mối quan hệ hiệu quả, bền chặt vì lợi ích chung đồng thời cùng
chịu trách nhiệm về những thất bại hay rủi ro trong liên kết. Mọi liên kết kinh
tế được thiết lập mang tính hình thức hay là kết quả của những quyết định
mang tính chủ quan, áp đặt sẽ không tồn tại và không thể đem lại lợi ích cho
các bên tham gia.
Các bên tham gia được dân chủ, bình đẳng trong các quyết định của
liên kết. Do các nguồn lực của liên kết được hình thành dựa trên sự đóng góp
của chủ thể tham gia, mặt khác các liên kết có liên quan chặt chẽ đến các lợi
ích của chủ thể tham gia nên hoạt động quản lý, điều hành, giám sát và phân
phối lợi ích trong liên kết phải đảm bảo dân chủ, bình đẳng. Dân chủ, bình
đẳng trong liên kết không có nghĩa là ngang bằng về quyền lợi và trách
nhiệm mà trên cơ sở đóng góp của mỗi bên. Để có sự bình đẳng và dân chủ
các quyết định liên kết phải đảm bảo tính công khai, minh bạch và được thực
hiện qua một cơ chế điều phối chung thống nhất giữa các bên ngay từ đầu.
Kết hợp hài hoà lợi ích kinh tế giữa các bên tham gia. Trong liên kết
thì lợi ích kinh tế là động lực thúc đẩy, là chất keo dán lâu dài các bên tham
gia. Việc chia sẻ hài hoà lợi ích có tầm quan trọng đặc biệt tới sự bền vững



12


- Người bán (bán buôn, bán lẻ): họ mua sản phẩm tại địa phương hoặc
từ các địa phương khác, sau đó bán cho những tổ chức, cá nhân có nhu cầu.
- Người tiêu dùng: là những người có nhu cầu về sản phẩm nào đó
nhưng không có điều kiện để sản xuất. Họ thường thu mua sản phẩm để tiêu
dùng cá nhân, gia đình.
Các tác nhân này thường có mối liên kết hợp tác với nhau trong các
kênh phân phối. Dựa theo vai trò, quan hệ kinh tế của các tác nhân từ sản
xuất đến tiêu dùng mà chia thành mối liên kết dọc và liên kết ngang.
2.1.3 Ý nghĩa kinh tế, xã hội trong liên kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu
thụ
Tăng cường liên minh công nông: việc chuyển đổi phương thức sản
xuất nông nghiệp từ tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa thì việc liên minh
công nông có ý nghĩa vô cùng quan trọng, giúp cho quá trình sản xuất, chế
biến và tiêu thụ đạt hiệu quả hơn.
Thực hiện quan hệ hợp tác: quá trình tăng cường quan hệ hợp tác giữa
các bên, giúp cho quan hệ cung cầu phù hợp và hiệu quả hơn.
Giải quyết quan hệ phân phối: thong qua liên kết vấn đề phân phối thu
nhập, trách nhiệm và quyền hạn của các bên tham gia liên kết được cụ thể
hóa hơ, sản phẩm đến người tiêu dùng nhanh hơn.
Thúc đẩy nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật: liên kết giúp cho việc vận
dụng, sử dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất sẽ đem lai hiệu quả cao hơn,
chất lượng sản phẩm làm ra tốt hơn.
Tạo sự gắn kêt giữa bốn nhà (nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh
nghiệp, nhà nông): khi các nhà cùng tham gia vào liên kết thì hiệu quả thu
được sẽ cao hơn, đồng bộ hơn trong thực hiện. Nhà nước tham gia sẽ hạn chế
tối đa tình trạng chồng chéo về cơ chế chính sách, thay vào đó là một chính

của khách hàng, tăng khả năng cung ứng và độ đồng đều của sản phẩm.
Chính vì thế, các hộ sản xuất có xu hướng phát triển như sau:
(1) Phát triển lên quy mô lớn, hiện đại để có thể chủ động giải quyết từ
khâu đầu đến khâu cuối của quá trình sản xuất, chế biến và tiêu thụ. Tuy

14


nhiên, đây chỉ là xu hướng phát triển của một số ít các hộ có khả năng vốn
lớn, trình độ kỹ thuật và quản lý cao. Trong khi đó, đại bộ phận các hộ sản
xuất hiện nay không đáp ứng được yêu cầu này.
(2) Các hộ sản xuất liên kết với nhau thành các tổ chức liên kết như
nhóm, hợp tác xã để nâng cao khả năng cạnh tranh của từng hộ. Từ đó các hộ
có thể thiết lập các liên kết với các tác nhân khác trong ngành.
(3) Các hộ liên kết với các doanh nghiệp cung ứng đầu vào hoặc các
doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ. Trong liên kết này, các bên tham gia đều có
được những liên kếtợi ích kinh tế do phát huy được thế mạnh của mình và bổ
sung cho nhau những hạn chế của mỗi bên.
Một nhân tố khác thúc đẩy sự liên kết trong sản xuất rau chế biến là do
đặc điểm của sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ và có nhiều rủi ro.
Trong đó rủi ro về dich bệnh và thị trường gây ra thiệt hại nhiều nhất. Để
giảm thiểu thiệt hại do những rủi ro đó gây ra thì một hộ sản xuất , một địa
phương không thể giải quyết được mà cần có những nỗ liên kết của nhiều
bên tham gia, liên kết sẽ hạn chế và chia sẻ rủi ro cho các tác nhân.
Để có sản phẩm cuối cùng đến tay người tiêu dùng, phải trải qua nhiều
giai đoạn với nhiều tác nhân khác nhau, do vậy, để nâng cao hiệu quả của cả
ngành hàng cần phải có sự liên kết của tất cả tác nhân trong ngành hành đó.
Xuất phát từ những lý do trên thì việc hình thành các mối liên kết trong
sản xuất, tiêu thụ rau chế biến là hết sức cần thiết. Khi đó, liên kết sẽ đem lại
chững lợi ích cho các tác nhân, cụ thể:

kinh tế; xuất phát từ nhu cầu tồn tại, phát triển của các tác nhân tham gia để
nâng cao khả năng cạnh tranh và đáp ứng đòi hỏi ngày càng khắt khe của thị
trường trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay.
2.2.2 Một số mô hình liên kết ở Việt Nam
2.2.2.1 Mô hình sản xuất, tiêu thụ chè
Chè là một trong những mặt hàng nông sản có sản lượng và kim ngạch
xuất khẩu lớn. Vì vậy nhằm phát triển vùng nguyên liệu chè bền vững, nhiều
mô hình liên kết đã được xây dựng và đưa vào sản xuất.

16


* Mô hình dây chuyền sản xuất chè xuất khẩu tại Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc
Tháng 11/2009, Trung tâm Khuyến công và tư vấn phát triển công
nghiệp (xã Yên Lập, Vĩnh Tường) phối hợp với Công ty Trách nhiệm hữu
hạn Thương mại xuất khẩu Phương Nam đã tổ chức hội nghị giới thiệu mô
hình dây chuyền sản xuất chè xuất khẩu.
Tổng mức đầu tư của mô hình là 8.818 triệu đồng, bao gồm xây dựng
xưởng sản xuất, nhà kho, mua sắm thiết bị máy móc và vốn lưu động. Trong
đó Trung tâm khuyến công hỗ trợ 110 triệu đồng còn lại là vốn của công ty
Trách nhiệm hữu hạn Thương mại xuất khẩu Phương Nam. Dây chuyền sản
xuất chè xuất khẩu của Công ty Phương Nam là dây truyền khép kín với các
loại máy móc thiết bị công nghệ hiện đại như: Máy sàng vòi, sàng rung, sàng
rật, sàng tách cẫng, Hút đầu sơ, Quạt phân cấp, Máy tách phân loại, Máy TC
senvec… công suất thiết kế 1000 tấn/ năm. Sản phẩm là các loại chè xanh và
chè đen gồm các chủng loại: chè OP, chè FBOP, chè P, chè PS, chè BPS…
chủ yếu là xuất sang các nước Trung Đông và một số nước châu Âu.
Hiệu quả của dây chuyền sản xuất chè xuất khẩu là tăng năng suất, sản
phẩm có chất lượng cao, giá thành thấp, nâng cao tính cạnh tranh của sản
phẩm chè cùng loại, tiết kiệm thời gian, nhân công, da dạng hóa các loại sản

Dự án “Xây dựng mô hình sản xuất thâm canh chè gắn với cơ sở chế
biến đạt hiệu quả kinh tế cao tại huyện Đại Từ” thuộc chương trình Xây dựng
mô hình ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ phục vụ phát triển
kinh tế xã hội nông thôn miền núi giai đoạn từ nay đến năm 2010 do Bộ
Khoa học & Công nghệ làm chủ quản chương trình; UBND tỉnh là chủ quản
dự án và Công ty Cổ Phần Xuất nhập khẩu Thái Nguyên là đơn vị chủ trì,có
tổng kinh phí thực hiện là 4 tỷ 350 triệu đồng. Mục tiêu của Dự án là Xây
dựng vùng chè nguyên liệu có năng suất cao, chất lượng tốt,tạo ra các loại
sản phẩm có chất lượng, có mẫu mã,kiểu dáng công nghiệp cho riêng mình,
gắn kết vùng nguyên liệu với chế biến, tiêu thụ sản phẩm. Bốn địa phương
của huyện Đại Từ nằm trong Dự án là La Bằng; Hoàng Nông; Phú Thịnh và
Phú Cường. Quy mô của Dự án là áp dụng các tiến bộ kỹ thuật xây dựng mô

18


hình thâm canh 100 ha chè trung du có năng suất từ 7 tấn/ha lên 9 tấn/ha sau
Dự án; xây dựng mô hình 50 ha trồng thâm canh và trồng cải tạo thay thế từ
vườn chè trung du già cõi bằng giống chè LDP1 và hệ thống tưới bằng vòi
cầm tay, đạt năng suất 3,5 tấn /ha chè 3 tuổi;10 tấn /ha chè 8 tuổi; Xây dựng
mô hình vườn nhân giống chè quy mô 10 vạn bầu/năm để vừa huấn luyện,
đào tạo người sản xuất kỹ thuật nhân giống chè, đồng thời hình thành mô
hình dây chuyền thiết bị đồng bộ chế biến chè xanh có công suất 1 tấn/ngày
và áp dụng kỹ thuật cải tiến trong công nghệ chế biến chè xanh nâng cao chất
lượng, đáp ứng nhu cầu thị trường.
Có thể nói đây là Dự án gắn kết giữa 4 nhà: Nhà nước, Nhà khoa học,
nhà Doanh nghiệp và nhà Nông trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, nhằm
nâng cao giá trị hàng hóa nông sản ,thu nhập đời sống của người dân. Do vậy
đòi hỏi cao hơn nữa vai trò cũng như khả năng của Công ty đối với Dự án.
Dự án Xây dựng mô hình sản xuất thâm canh chè gắn với cơ sở chế biến đạt

Đắc Nông đã phát huy hiệu quả.
Trên địa bàn huyện Đác Min có hệ thống sông, suối đầu nguồn thuộc
lưu vực sông Đồng Nai, sông Sêrêpốc như: suối Đác N’reng, Đác Sor, Đác
Mâm, Đác Gằn… nhưng hầu hết đều là suối nhỏ, thường cạn kiệt nước vào
mùa khô. Ngoài ra, trên địa bàn hiện có 11 công trình hồ đập chứa nước, với
tổng trữ lượng khoảng 15 triệu m 3 nước và 10 hồ chứa nhỏ do các nông, lâm
trường quản lý có tổng trữ lượng gần 1 triệu m 3 nước, với tổng năng lực của
hồ đập theo thiết kế có thể tưới cho diện tích 1.814 ha cây trồng toàn huyện,
nhưng hiện tại chỉ đáp ứng được khoảng 1.000 ha. Trong đó có 325 ha đất lúa
nước, hoa màu và khoảng 700 ha cây công nghiệp dài ngày, chủ yếu là cà
phê. Do khan hiếm nguồn nước mặt, trong mùa khô năm nay, người dân ở
các xã như Đác Sắc, Đác Gằn, Đác Minh, Đức Mạnh, Thuận An, Đác Lao…
tự đầu tư kinh phí đào giếng hoặc thuê khoan giếng với độ sâu hàng chục mét
để lấy nước ngầm tưới cà phê. Do việc khai thác lượng nước ngầm tưới cho

20


cây cà phê ngày càng lớn đã dẫn đến hiện tượng chảy tầng, tụt mạch nước
ngầm do khai thác không đúng quy trình…
Nguyên nhân do lượng mưa hàng năm ít đi, mùa khô kéo dài, diện tích
rừng ngày càng bị thu hẹp, lớp phủ bề mặt của đất cũng giảm, cộng với diện
tích các loại cây trồng cần nước tưới ồ ạt tăng nhanh, nhất là cây cà phê, nên
xảy ra tình trạng khai thác nguồn nước ngầm quá mức làm mực nước ngầm
tụt giảm từ 3 - 5m so với trước.
Do đó, trong nhiều phương án được huyện Đác Min đề ra như trồng
rừng và bảo vệ rừng, xây dựng hệ thống hồ chứa, củng cố kênh mương thủy
lợi... thì phương án khai thác, sử dụng hợp lý nguồn nước ngầm bằng giải
pháp canh tác tiết kiệm nước tưới, mang lại hiệu quả kinh tế cao và ít tác
động đến môi trường được các cấp chính quyền và hộ sản xuất cà phê ở

Hiện nay, Đác Min là huyện có diện tích cà phê lớn nhất tỉnh Đác
Nông với gần 20 nghìn ha và trong nhiều năm qua đã có hàng nghìn hộ nông
dân triển khai mô hình trồng cà phê tiết kiệm nước, góp phần giảm đáng kể
chi phí đầu tư, nhưng năng suất luôn đạt cao, bình quân đạt từ 2,5 – 3 tấn cà
phê nhân/ha, thậm chí nhiều hộ canh tốt đúng kỹ thuật đạt năng suất từ 5 - 6
tấn cà phê nhân/ha. Theo Hội Nông dân huyện Đác Min thì điều quan trọng
khi thực hiện mô hình trồng cà phê tiết kiệm nước tưới không chỉ nâng cao
hiệu quả kinh tế mà còn góp phần cải thiện, bổ sung chất dinh dưỡng cho đất,
hạn chế tình trạng khai thác nguồn nước tưới trong mùa khô… để quá trình
sản xuất được bền vững. Vì vậy, mô hình này cần được sớm nhân rộng ra địa
bàn toàn tỉnh và các tỉnh khác trong khu vực Tây Nguyên.
2.2.2.3 Mô hình sản xuất, tiêu thụ rau an toàn
Rau xanh là nguồn thực phẩm không thể thay thế trong bữa ăn hằng
ngày của người dân ở khắp mọi nơi. Hiện nay đã có không ít các vụ ngộ độc
thực phẩm đã xảy ra, gây tâm lý hoang mang, lo sợ, không tin tưởng cho
người sử dụng nhất là về nguồn gốc của các loại rau. Vì vậy, đã có nhiều mô
hình sản xuất rau sạch nhằm đáp ứng yêu cầu chất lượng của người dân.

22


* Mô hình sản xuất rau an toàn tại Củ Chi
“Trồng rau ăn lá an toàn theo chuẩn VietGap” đang là mô hình sản
xuất mà người dân các huyện ngoại thành Thành Phố Hồ Chí Minh nói
chung, và nông dân hai xã Thái Mỹ, Tân Thông Hội (Củ Chi) nói riêng đang
triển khai với qui mô rộng, đã và đang cho thu hoạch với kết quả khả quan.
Với xu thế hội nhập hiện nay, để được ổn định về giá cả sản phẩm
nông nghiệp cũng như ổn định thu nhập từ cây rau, thì sản phẩm rau sạch
phải đạt chất lượng và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Vì thế, sản xuất
rau theo chuẩn VietGap là điều kiện bắt buộc nếu như sản phẩm muốn tồn tại

và huyện Lạng Giang. Tuy nhiên qua hơn 5 năm triển khai, chương trình
chưa thực sự phát huy hiệu quả, người dân chưa được hưởng lợi, các hộ tham
gia chương trình chán nản do sản xuất rau an toàn chưa có lãi, tiêu thụ sản
phẩm khó khăn.
Mô hình sản xuất rau an toàn và chất lượng cao được thực hiện đến
tháng 10/ 2009, với tổng kinh phí hơn 800 triệu đồng, dự án đã xây dựng các
mô hình nhân giống các loại rau an toàn trong nhà lưới tại xã Đồng Sơn
(huyện Yên Dũng); sản xuất các loại rau an toàn trong nhà lưới với quy mô 1
ha tại xã Tân Tiến (huyện Yên Dũng); sản xuất rau an toàn ngoài đồng ruộng
với quy mô 12 ha tại xã Tân Tiến và xã Song Mai (thành phố Bắc Giang).
Các hộ tham gia dự án được hỗ trợ giống, thuốc bảo vệ thực vật, chế phẩm
sinh học và tập huấn chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật... Hiện nay, bà
con các địa phương trên trồng rau an toàn theo dự án với nhiều loại rau: cà
chua, su hào, bắp cải, súp lơ, hành ta, mướp, rau muống, các loại rau gia vị...
với quy mô mỗi vụ/ ha/ xã.
Qua tìm hiểu thực tế cho thấy, để thực hiện thành công dự án, trước hết
cần quy hoạch vùng sản xuất rau an toàn tập trung, việc triển khai dự án phải
được làm khẩn trương, kịp thời vụ gieo trồng; cần tập huấn thường xuyên và
đầy đủ cho các hộ tham gia dự án để giúp họ thuần thục các kỹ thuật gieo
trồng, chăm sóc, thu hái rau an toàn. Người trồng rau phải có cam kết thực
hiện đúng quy định quản lý và quy trình kỹ thuật sản xuất rau an toàn. Các

24


cán bộ kỹ thuật phải tăng cường kiểm tra, giám sát chặt chẽ quá trình sản xuất
từ khâu gieo trồng, chăm sóc đến khi thu hoạch; bảo quản, tiêu thụ sản phẩm.
Sản phẩm rau an toàn phải được cơ quan chức năng có thẩm quyền kiểm tra,
cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn trước khi được giới thiệu và tiêu thụ trên
thị trường, để người tiêu dùng yên tâm và sẵn sàng trả tiền cao hơn để mua


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status