Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Nga - PTNT & KN 51
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận
này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được chỉ rõ
nguồn gốc và mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận đều đã được cảm ơn.
Sinh viên
Nguyễn Thị Nga
i
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Nga - PTNT & KN 51
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập tốt nghiệp vừa qua, để hoàn thành được khóa
luận, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp
đỡ của các tập thể, cá nhân trong và ngoài trường.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy, cô giáo trong khoa
Kinh tế và Phát triển nông thôn, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tạo mọi
điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS. Nguyễn Viết Đăng đã
dành nhiều thời gian, tâm huyết và tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá
trình thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn ThS. Tạ Văn Tuấn, Điều phối viên dự án
CCHC/DANIDA cùng các anh, chị cán bộ dự án trong nhóm Dự án
iv
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Nga - PTNT & KN 51
DANH MỤC CÁC HỘP
v
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Nga - PTNT & KN 51
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AAV
ActionAid Việt Nam
BQ
Bình quân
BQLDA
Ban quản lý dự án
CCHC
PTNT
Phát triển nông thôn
UBND
Ủy ban nhân dân
VHVN - TDTT
Văn hóa văn nghệ - Thể dục thể thao
vi
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Nga - PTNT & KN 51
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngày nay, thông tin được coi là một nhu cầu thiết yếu trong đời sống xã
hội. Thông tin là công cụ để điều hành, quản lý, chỉ đạo của mỗi quốc gia, là
phương tiện hữu hiệu để mở rộng giao lưu hiểu biết giữa các quốc gia, dân tộc,
là nguồn cung cấp tri thức mọi mặt cho công chúng và là nguồn lực phát triển
kinh tế - xã hội. Việc thiếu thông tin sẽ gây khó khăn trong quá trình đưa ra các
quyết định hoặc các quyết định sẽ bị sai lệch, thiếu cơ sở khoa học, không thực
tiễn và trở nên kém hiệu quả. Thành công hay thất bại của một quốc gia tuỳ
thuộc rất lớn vào khả năng làm chủ, chiếm được lợi thế thông tin. (Chiến lược
phát triển thông tin đến năm 2010).
người dân nên hiệu quả mang lại chưa cao.
Kiốt thông tin là một trong số những sáng kiến về mô hình tiếp cận thông
tin nằm trong khuôn khổ dự án “Tăng cường sự tham gia của người dân trong
quá trình Cải cách Hành chính công ở Việt Nam - Dự án Thí điểm”, do tổ chức
phi chính phủ ActionAid Việt Nam (AAV) cùng các đối tác địa phương xây
dựng và triển khai tại 4 tỉnh Đắk Lắk, Điện Biên, Lai Châu và Hà Tĩnh bắt đầu
từ năm 2008. Đây là một mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng và là mô hình
truyền thông hai chiều, không chỉ hỗ trợ cho người dân tiếp cận thông tin theo
quyền hạn của mình mà còn là nơi tiếp nhận ý kiến phản hồi của người dân. Tuy
nhiên, vai trò của các kiốt thông tin có được phát huy hết hay không còn phụ
thuộc rất nhiều vào sự phù hợp của mô hình với từng địa phương.
Huyện mới Lộc Hà là một trong những huyện nghèo của tỉnh Hà Tĩnh.
Thành lập và vận hành các kiốt thông tin trên địa bàn huyện là việc làm rất thiết
thực đối với người dân nhưng cũng sẽ gặp không ít trở ngại trong quá trình triển
khai hoạt động. Để tìm hiểu việc thành lập và vận hành các kiốt thông tin trên
địa bàn huyện có phù hợp hay không chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu nhu cầu và thực trạng tiếp cận thông tin qua kiốt thông tin của
người dân huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh”.
2
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Nga - PTNT & KN 51
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu nhu cầu và thực trạng tiếp cận thông tin qua các kiốt thông tin của
người dân huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh từ đó đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu
PHẦN II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Khái niệm về thông tin
Khái niệm "thông tin" được bắt nguồn từ chữ La tinh informetio, gốc của
từ tiếng Anh information. Theo Philipppe Breton và Serge Proulx: “Khái niệm
này có hai hướng nghĩa: Thứ nhất là, nói về một hành động cụ thể để tạo ra một
hình thái (frome), thứ hai là, nói về sự truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm
hay biểu tượng. Hai hướng nghĩa này cùng tồn tại, một nhằm vào sự tạo lập cụ
thể, một nhằm vào sự tạo lập kiến thức và truyền đạt. Nó thể hiện sự gắn kết của
hai lĩnh vực kỹ thuật và kiến thức”.
Theo Phạm Thành Hưng : “Từ góc độ nhận thức luận, thông tin là kết quả
của sự phản ánh hiện thực khách quan, được biểu hiện bằng các hệ thống ngôn
từ, ký hiệu, hình ảnh v.v. Thông tin đồng nghĩa với các hình thái tri thức mới mẻ,
có giá trị phát triển sự hiểu biết của con người. Từ góc độ khoa học kỹ thuật,
thông tin là số liệu, dẫn liệu mà ta có thể lấy ra phân tích, so sánh, phân loại, giải
thích, khái quát, tổ chức lại, từ đó mà rút ra được những ý nghĩa, giá trị nào đó
về tính chất, đặc trưng của các sự vật, hiện tượng nào đó cũng như các quy luật
tồn tại và vận động của chúng”.
2.1.2 Vai trò của thông tin
Theo Chiến lược phát triển thông tin đến năm 2010: “Thông tin được coi
là một nhu cầu thiết yếu trong đời sống xã hội, là công cụ để điều hành, quản lý,
chỉ đạo của mỗi quốc gia, là phương tiện hữu hiệu để mở rộng giao lưu hiểu biết
giữa các quốc gia, dân tộc, là nguồn cung cấp tri thức mọi mặt cho công chúng
và là nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội”.
4
Khóa luận tốt nghiệp
5
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Nga - PTNT & KN 51
Truyền thông là quá trình trao đổi thông tin giữa các thực thể. Thông tin
có thể được trao đổi thông qua hệ thống các ký hiệu hoặc không cần đến ký hiệu.
(Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, 2010)
2.1.6 Khái niệm thư viện
- Danh từ thư viện (bibliotheque) xuất phát từ tiếng Hy Lạp biblio là sách
và thêka là bảo quản, vậy nghĩa đen của thư viện là nơi tàng trữ và bảo quản sách
báo. (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, 2010)
- Thư viện công cộng là thư viện phục vụ cho tất cả mọi người trong cộng đồng.
Tuyên ngôn năm 1994 của UNESCO về thư viện công cộng đã khẳng
định: “...các thư viện có chức năng giúp mọi người tiếp cận một cách tự do,
không hạn chế đến các tư tưởng, văn hoá, văn minh”.
2.1.7 Khái niệm kiốt thông tin
Mô hình kiốt thông tin ở đây có thể hiểu là một thư viện công cộng thu
nhỏ đã có sự ứng dụng Công nghệ Truyền thông Thông tin cho Phát triển.
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.2.1 Kinh nghiệm về truyền thông nông nghiệp, nông thôn trên thế giới
Việc thiết lập một khu vực thông tin chuyên biệt cho nông thôn và những
nhà quản lý nông nghiệp nông thôn đã được thực hiện ở rất nhiều nước trên thế
giới. Ở Thái Lan, từ rất lâu đã có một kênh truyền hình chuyên biệt dành cho
nông dân, Brazil có 2 kênh truyền hình về khoa học kỹ thuật nông nghiệp dành
riêng cho nông dân, Australia cũng có những kênh truyền hình về nông nghiệp
của các tập đoàn tư nhân...
2.2.1.1 Mỹ
thường xuyên gặp gỡ và trao đổi trực tiếp với nông dân. Các ý tưởng nghiên cứu
của Trung tâm đều dựa trên nhu cầu của người nông dân. Người nông dân sẽ trả
tiền và sử dụng những kết quả từ các cuộc nghiên cứu này. Có nhiều kênh để
Trung tâm có thể tiếp cận với nhu cầu về nghiên cứu của người nông dân:
- Thu thập ý kiến từ Ban Xúc tiến nghiên cứu
- Các nhân viên khuyến nông thăm dân tại nhà
- Thăm đồng, xem xét cây trồng
7
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Nga - PTNT & KN 51
- Thu thập ý kiến thông qua điện thoại, thư
- Tổ chức điều tra về nhu cầu của nông dân
Sau đó nghiên cứu viên sẽ viết đề xuất, đề xuất sẽ được duyệt bởi các lãnh
đạo của Trung tâm và Ban Xúc tiến nghiên cứu. Khách hàng chủ yếu của Trung
tâm là nông dân. Nông dân đóng góp thông qua chương trình “check-off”: với
mỗi 20kg thóc bán ra, người nông dân đóng góp 1.5 cents.
2.2.1.1.2 Thư viện công cộng
Cuộc khảo sát gần đây của Hội thư viện Hoa kỳ đã hé mở một số thực tế
sau đây về sự sử dụng thư viện công cộng ở Hoa Kỳ:
- 92% tin rằng các thư viện sẽ cần đến trong tương lại ngay khi tất cả
thông tin đều có sẵn trên Internet.
- Gần hết đồng ý rằng thậm chí nếu họ không phải là người sử dụng
thường xuyên của thư viện, rằng thư viện đóng một vai trò quan trọng trong việc
đem lại cho mọi người một cơ hội để thành công vì các thư viện khuyến khích
giáo dục công cộng và học tập suốt đời.
ngoài việc phản ánh, cập nhật thông tin về nông thôn nông nghiệp, còn là một
phương tiện quan trọng và chính thức phục vụ chủ trương đào tạo nghề cho nông
dân của chính phủ Trung Quốc.
Cùng với việc thực hiện nghị quyết “Tam nông”, hệ thống thông tin cho
nông dân cũng đã được xây dựng một cách đồng bộ với sự phối hợp chặt chẽ của
nhiều cơ quan quản lý cấp chính phủ như Bộ Nông nghiệp, Bộ Giáo dục, Bộ Lao
động... Bắt đầu từ 1982, bên cạnh những phương tiện truyền thông đại chúng
như Đài tiếng nói, tờ rơi, loa phóng thanh tại xã phường, Trung Quốc đã đầu tư
một hệ thống truyền hình chuyên biệt có tới 4 kênh dành riêng cho nông dân
được phát 24/24 giờ với các nội dung về khoa học kỹ thuật và đào tạo nghề cho
nông dân và hàng loạt các chương trình truyền hình về nông nghiệp, nông thôn,
nông dân được phát sóng thường xuyên trên các kênh truyền hình Trung ương và
địa phương. Đặc biệt hệ thống truyền hình nông nghiệp được đặt trong hệ thống
giáo dục đào tạo nông dân do Bộ Nông nghiệp Trung Quốc thực hiện.
9
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Nga - PTNT & KN 51
Nội dung về nông nghiệp nông thôn phát trên Đài truyền hình Trung ương
Trung Quốc và toàn bộ nội dung của 4 kênh truyền hình chuyên biệt, đều do
"Trường Phát thanh truyền hình nông nghiệp Trung ương - Trung tâm đào tạo
giáo dục khoa học kỹ thuật cho nông dân” thuộc Bộ Nông nghiệp Trung Quốc
sản xuất. Thông qua biện pháp xây dựng chương trình như thế này, Chính phủ
Trung Quốc thể hiện rõ quan điểm coi Truyền hình là kênh đào tạo chuyên
nghiệp về khoa học kỹ thuật nông nghiệp, về chuyển đổi nghề và phổ biến kiến
thức về thị trường, chính sách cho nông dân. Người nông dân tham gia học từ xa
quốc cũng vì vậy mà có nhiều sự lựa chọn trong việc học ở đâu, tham khảo thông
tin từ nguồn nào và từ kênh truyền hình nào. Cùng một lúc đầu tư nhiều kênh
truyền hình từ Trung ương, tỉnh, và huyện chính là việc cùng một lúc cung cấp
nhiều thông tin, nhiều nguồn tin và nhiều cách chuyển tải thông tin, nông dân
chính vì vậy cũng sẽ tiếp cận thông tin dễ dàng hơn. Đây cũng là sự đầu tư có
chủ đích chứ không phải là thiếu tính toán.
Nhưng mô hình này của Trung Quốc cũng có những hạn chế. Với 4 kênh
truyền hình chuyên biệt của "Trường Phát thanh truyền hình nông nghiệp Trung
ương - Trung tâm đào tạo giáo dục khoa học kỹ thuật cho nông dân” thuộc Bộ
Nông nghiệp Trung Quốc được phát trên một hệ thống vệ tinh riêng và bốn kênh
truyền hình này phải thu tín hiệu qua các trạm thu vệ tinh nhỏ đặt tại các địa
phương, cũng vì vậy, nông dân sẽ phải đến các điểm trạm này để xem chương
trình, nếu không thuận tiện sẽ không thu hút được nhiều khán giả. Lý do mà họ
đưa ra là họ muốn tập trung vào đối tượng chỉ là nông dân, nếu quảng bá đại
chúng giống như các kênh của truyền hình trung ương Trung Quốc thì sẽ có một
lượng lớn khán giả tại các thành phố không cần thiết phải xem.
Tuy vậy, có thể khẳng định rằng, truyền hình đã có vai trò đặc biệt quan
trọng trong việc nâng cao nhận thức, giáo dục, đào tạo và chuyển tải thông tin
cho nông dân của Chính phủ Trung Quốc. Trong những năm qua, đã có tới hàng
triệu nông dân được đào tạo qua truyền hình và trở thành những nông dân nòng
cốt tại các địa phương. Con số không chính thức tại Bắc Kinh cho thấy có tới
hơn 30% nông dân cho biết thích được học nghề qua các kênh truyền hình. Con
11
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Nga - PTNT & KN 51
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Nga - PTNT & KN 51
2.2.2.1.1 Truyền thông trung ương
Hiện nay, truyền thông trong lĩnh vực nông nghiệp, nông dân và nông
thôn được thực hiện qua các phương tiện chủ yếu là: báo chí, truyền thanh,
truyền hình, mạng Internet, các chương trình khuyến nông, hoạt động của các
hội, đoàn thể, các công ty vật tư nông nghiệp và các hình thức khác.
a) Kênh truyền thông phổ thông
- Báo
Báo là một loại hình cung cấp thông tin phổ biến trong xã hội, phục vụ từ
các nhà quản lý cho đến những người dân nông thôn. Một số báo mang tính tổng
hợp trong lĩnh vực kinh tế và thương mại có liên quan đến thông tin thị trường là
“Thời báo kinh tế Việt Nam”, “Đầu tư” và “Thương mại”, “Diễn đàn doanh
nghiệp”, “Thời báo kinh tế Sài Gòn”... với các chuyên mục sinh động, thông tin
phong phú về thị trường, khoa học kỹ thuật, văn hóa và xã hội, chính sách, đã
phần nào hướng đến hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Các báo chuyên ngành trong lĩnh vực nông nghiệp như “Nông nghiệp Việt
Nam”; “Nông thôn ngày nay”, cung cấp cho người dân nông thôn các thông tin
thời sự trong nước, trước đây tập trung vào các nội dung kỹ thuật nuôi trồng sản
xuất, nông học, thì hiện nay đã dành nguồn lực cho các chuyên mục mới về thị
trường - giá cả. Chuyên mục ”Hỏi gì Đáp nấy” của Báo Nông nghiệp Việt Nam,
tư vấn cho bà con nông dân với sự hỗ trợ nội dung của GS. TS. Nguyễn Lân
Dũng ra đời đã trụ vững trong nhiều năm qua, khẳng định được tính hữu ích của
chuyên mục này. Trong năm 2008, hưởng ứng Nghị quyết 24 của Trung ương và
Nghị quyết 26 của Chính phủ về phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân,
Báo Nông thôn Ngày nay đã kịp thời ra mắt chuyên trang Đối thoại Chính sách,
thực sự mở ra diễn đàn trao đổi và thu hút được sự tham gia đông đảo của các
giai tầng xã hội.
đến cho người dân, chủ yếu là để phổ biến văn bản, chủ trương chính sách mới
ban hành. Các doanh nghiệp cũng không tiếc tiền đầu tư website riêng để phục
vụ cho các hoạt động của mình: nghiên cứu, phân tích phát triển thị trường, xúc
tiến thương mại và quảng bá thương hiệu…
14
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Nga - PTNT & KN 51
; www.vnn.vn ... là những trang web giàu thông
tin, có chuyên mục kinh doanh, chủ yếu đưa ra các thông tin ngắn về thị trường
và các sự kiện kinh tế nổi bật, chính sách kinh tế xã hội chung.
là trang web “đầu tư” của Bộ kế hoạch và đầu tư
nhằm cung cấp thông tin về thị trường, sản xuất; thương hiệu; xuất khẩu và hội
nhập. Trang này cũng có một chuyên mục riêng cung cấp các tin tức sự kiện,
thời sự trong lĩnh vực nông nghiệp là “thị trường nông lâm sản”
của Trung tâm tin học và thống kê, Bộ
NN&PTNT, thường xuyên cập nhật thông tin thị trường; tìm kiếm đối tác; thông
tin khoa học kỹ thuật, phát triển nông thôn; các chủ trương chính sách của Bộ; hệ
thống cơ sở dữ liệu về nông nghiệp và nông thôn.
là một trang báo điện tử của Bộ Nông nghiệp và
phát triển nông thôn chủ yếu chỉ cập nhật các báo cáo và văn bản ban hành mới
và chính sách của Bộ.
của Trung tâm Thông tin - Viện Chính sách và
Chiến lược PTNNNT, cung cấp cả những tin tức cập nhật và các phân tích dự báo
chuyên gia theo các thị trường và ngành hàng, tích hợp hệ thống và cung cấp cơ
sở dữ liệu mang tính hệ thống như giá cả theo chuỗi và phân tích thị trường định
trình phục vụ quảng đại khán giả, thì khu vực nông thôn cũng được dành một sự
quan tâm phục vụ đáng kể, sau chương trình “Làng vui chơi, Làng ca hát”, “Tre
xanh”, hiện nay VTV3 đang duy trình chương trình “Làng Việt” với nội dung
phong phú, phản ánh đời sống tinh thần của người nông dân trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chương trình này với tổng thời lượng phát sóng 1 năm
là 2.808 giờ, phát sóng vào tối thứ 7 hàng tuần.
Trong tổng thể việc thực hiện nhiệm vụ thông tin tuyên truyền về lĩnh vực
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn của Đài truyền hình quốc
gia, kênh Thời sự chính trị tổng hợp VTV1 được xem là một mũi nhọn. Theo kết
quả khảo sát nhu cầu và khả năng sử dụng thông tin nông nghiệp nông thôn của
người dân nông thôn do IPSARD thực hiện năm 2009, người dân đánh giá rất cao
16
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Nga - PTNT & KN 51
hiệu quả của các chương trình phục vụ nông nghiệp, nông thôn, nông dân phát
sóng trên VTV1. Trên kênh này, chương trình “Nông thôn ngày nay” với thời
lượng 25 phút một tuần được duy trì 20 năm nay và đang tiếp tục được cải tiến nội
dung và hình thức thể hiện để phù hợp với những thị hiếu thông tin của người
nông dân Việt Nam. Ba năm 2006, 2007 và 2008 đánh dấu sự ra đời của hàng loạt
các chương trình truyền hình phục vụ khu vực nông nghiệp nông thôn, chuyên
mục “Nhà nông làm giàu” ra đời năm 2006 phát sóng hàng ngày trong chương
trình “Chào buổi sáng”, với thời lượng 8 - 10 phút với các tiểu mục: Thông tin thị
trường Nông sản, Phóng sự về gương nông dân sản xuất giỏi, Mách nhỏ bà con đã
rất nhanh chóng được người nông dân đón xem và có tác dụng nhanh chóng, trực
tiếp đến khu vực nông nghiệp, nông thôn.
tuần với sự tham gia của các chuyên gia phân tích thị trường đã mang tới các
thông tin phân tích sâu về cung, cầu, giá cả thị trường nông sản thế giới và Việt
Nam, đáp ứng nhu cầu thông tin của cả người sản xuất và kinh doanh nông sản.
Như vậy, trên Đài truyền hình Việt Nam, tính bình quân, thời lượng sóng
chuyên biệt dành cho nông nghiệp nông thôn hiện nay là 30 - 40 phút/ngày. Mặc
dù chương trình về vấn đề nông thôn, nông nghiệp đã được quan tâm, phát triển
tốt về hình thức, nội dung, thời lượng, song những chương trình này vẫn còn
nhiều hạn chế: Được phát phân tán, rải rác trên các khung giờ, các kênh truyền
hình khác nhau, và thực tế là còn thấp so với thời lượng của các chương trình
dành cho các đối tượng tại thành thị.
- Truyền thanh
Hơn nửa thế kỷ, Đài Tiếng nói Việt Nam (TNVN) đã có bước phát triển
vượt bậc, chuyên nghiệp hơn, hiện đại hơn, thể hiện được vai trò và tầm vóc của
một Đài phát thanh quốc gia, là cơ quan tuyên truyền mũi nhọn của Đảng và Nhà
nước. Với sự ra đời của 5 hệ phát thanh và các phương tiện truyền thông hỗ trợ
như: Báo Điện tử VOVNews, Báo Tiếng nói Việt Nam và mới nhất là Hệ phát
thanh có hình (VOVTV), Đài TNVN đã tạo ra bước ngoặt khi hội tụ đầy đủ 4
loại hình báo chí: Báo nói, báo in, báo điện tử và báo hình, cung cấp thông tin
nhanh chóng, đa dạng, hấp dẫn tới công chúng, tạo nên sức mạnh tổng hợp, phản
18
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Nga - PTNT & KN 51
ánh kịp thời và chuẩn mực các sự kiện chính trị, văn hóa, xã hội trong và ngoài
nước. Bắt đầu được phát sóng từ ngày 7/9/2008, nhiều chương trình của VOVTV
được người xem ghi nhận. Từ thời lượng phát sóng 7h/ngày, VOVTV đã tăng