THƠ CA DÂN TỘC HMÔNG - TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN HIỆN ĐẠI - Pdf 35

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

NGUYỄN KIẾN THỌ

THƠ CA DÂN TỘC HMÔNG - TỪ TRUYỀN THỐNG
ĐẾN HIỆN ĐẠI

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 62.22.34.01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Việt Trung

THÁI NGUYÊN, NĂM 2012


CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI:
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Trần Thị Việt Trung
Phản biện 1: ...................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................

Phản biện 2: ...................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................

Luận án sẽ được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án họp tại:
Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên

1.3. Nghiên cứu thơ ca dân tộc Hmông một cách hệ thống và
toàn diện là một đóng góp đáng kể phục vụ cho công tác giảng dạy,
học tập và nghiên cứu thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam trong các
trường phổ thông, các trường đại học, cao đẳng... Đặc biệt là đối với
Đại học Thái Nguyên - chiếc nôi đào tạo ra những thầy cô giáo,
1


những nhà khoa học, những nhà nghiên cứu là con em các dân tộc
trên địa bàn, trong đó có con em đồng bào dân tộc Hmông; góp phần
rèn luyện lòng tự tôn, tự hào dân tộc để gìn giữ và bảo lưu các giá trị
văn hoá truyền thống trong bối cảnh đất nước ta đang trên con đường
hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ và sâu sắc.
Từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn Thơ ca dân tộc
Hmông- từ truyền thống đến hiện đại làm đề tài nghiên cứu cho
luận án của mình.
2. Lịch sử vấn đề
2.1.Từ vấn đề nghiên cứu thơ ca Hmông truyền thống...
Việc sưu tầm, nghiên cứu chuyên biệt về văn học dân tộc
Hmông cho tới nay cũng đã đạt được một số kết quả nhất định. Có
thể coi Doãn Thanh là một trong những người đầu tiên có công trong
việc sưu tầm và biên dịch dân ca Hmông. Năm 1967, Nhà xuất bản
Văn học in tập Dân ca Mèo (Lào Cai) của Doãn Thanh. cuốn sách đã
tập hợp được hầu hết các bài dân ca tiêu biểu nhất và phổ biến nhất
của người Mèo, sắp xếp một cách hệ thống theo 4 chủ đề chính bao
gồm: Tiếng hát mồ côi (gầu tú giua), tiếng hát làm dâu (gầu ua
nhéng), tiếng hát tình yêu (gầu plềnh), tiếng hát cúng ma (gầu tuờ).
Năm 1984, cuốn sách nói trên được tái bản với tên gọi Dân ca
Hmông cho đúng với tên gọi mới của người Mèo được Nhà nước qui
định. Cuốn sách do Hoàng Thao tuyển, chỉnh lý. Ngoài phần chính

một số các công trình, bài viết tiêu biểu như: "Tiếng hát làm dâu, tiếng
hát yêu thương, tiếng hát căm hờn, ngàn đời của người phụ nữ Mèo"
của Tô Hoài (Tạp chí Văn học, số 2 năm 1965), "Tâm hồn và tiếng hát
Hmông" của Chế Lan Viên (Lời giới thiệu cuốn Dân ca Hmông, Nxb
Văn học, 1984). Một số đề tài luận văn thạc sĩ về thơ ca dân gian
3


Hmông đã được bảo vệ thành công tại trường đại học Sư phạm, Đại học
Quốc gia Hà Nội như: "Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện thơ
Hmông về đề tài tình yêu "của Nguyễn Thị Thu Yến, "Thơ ca dân gian
Hmông" của Hùng Thị Hà (2003), "Dân ca giao duyên và lễ hội Gầu
tào của dân tộc Mông" của Nguyễn Văn Tiệp (2003), Khảo sát nghi lễ
cúng ma dân tộc Hmông" của Hoàng Thị Thuỷ (2004), "Giải mã biểu
tượng lanh trong dân ca Hmông" của Đặng Thị Oanh (2006)...
Những công trình nghiên cứu nói trên là những gợi ý và định
hướng quan trọng cho tác giả luận án trong việc tiếp cận, nghiên cứu văn
học dân tộc Hmông, nhất là thơ ca Hmông từ truyền thống đến hiện đại.
2.2. Đến vấn đề nghiên cứu thơ ca Hmông thời kì hiện đại
Nếu như việc sưu tầm và nghiên cứu thơ ca dân gian Hmông
đã có được một số thành tựu đáng kể thì việc nghiên cứu về thơ ca
hiện đại dân tộc Hmông, vẫn còn hết sức khiêm tốn, nhỏ lẻ và tản
mạn. Về phương diện này, có thể coi Minh Khương (1920-2001) là
một trong những người có công đầu trong việc đưa thơ ca Hmông
thời kỳ hiện đại đến với bạn đọc cả nước. Năm 1977, cuốn Mặt trời
hoa mây (Luz hnuz păngx huôz) được Ty Văn hoá Hoàng Liên Sơn
xuất bản, giới thiệu thơ của 18 tác giả với 26 bài thơ, trong đó có 17
bài thơ của 11 tác giả dân tộc Hmông (do Minh Khương dịch ra tiếng
Phổ thông). Đây là những sáng tác phản ánh tình cảm chân thành biết
ơn Đảng, biết ơn lãnh tụ. Ca ngợi tinh thần dũng cảm, khắc phục khó

tác giả, cho đến nay, vẫn là hướng tiếp cận dưới góc độ văn hoá (cụ
thể là giải mã các biểu tượng văn hoá trong đời sống văn hoá, nghệ
thuật của dân tộc Hmông).
Thứ ba, nghiên cứu về thơ ca dân tộc Hmông, theo khảo sát
của chúng tôi, mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu đặc điểm thơ ca
dân gian hoặc thơ ca hiện đại một cách riêng biệt, chưa có một công
5


trình nào tập trung nghiên cứu về thơ ca dân tộc Hmông một cách
qui mô, hệ thống từ dân gian đến hiện đại, nhằm chỉ ra các đặc điểm
nổi bật mang tính bản sắc của dân tộc Hmông; đồng thời chỉ ra được
quá trình hình thành và phát triển, tiếp biến của thơ ca Hmông trong
suốt chiều dài lịch sử. Đó chính là tính truyền thống và hiện đại như
một nét đặc trưng và đặc sắc của dân tộc Hmông được thể hiện một
cách sinh động qua thơ ca.
Việc nghiên cứu về thơ ca dân tộc Hmông một cách toàn diện,
quy mô, hệ thống và đặt trong sự vận động từ truyền thống đến hiện đại
chưa được giới nghiên cứu quan tâm đã tạo ra một khoảng trống trong
việc nhìn nhận, xem xét, đánh giá về những thành tựu và hạn chế của
thơ ca dân tộc Hmông trong nền thơ ca các dân tộc thiểu số, cũng như
nền thơ Việt Nam. Chúng tôi cho rằng, việc triển khai thực hiện luận án:
Thơ ca dân tộc Hmông- từ truyền thống đến hiện đại là một nỗ lực để
lấp đầy (hoặc thu hẹp lại) khoảng trống đó. Thiết nghĩ, đó là một công
việc cần thiết, hữu ích cho nghiên cứu văn học, đặc biệt là văn học các
dân tộc thiểu số Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Triển khai thực hiện đề tài luận án: Thơ ca dân tộc Hmông- Từ
truyền thống đến hiện đại, chúng tôi lựa chọn cách tiếp cận nghiên

mang tính bản sắc trong thơ ca dân tộc Hmông, từ thơ ca dân gian (truyền
thống) đến thơ ca hiện đại.
5.2. Qua việc nghiên cứu một số phương diện nội dung và
nghệ thuật của thơ ca dân tộc Hmông, luận án làm nổi bật quá trình
vận động và phát triển, sự kế thừa và tiếp biến của thơ ca Hmông từ
truyền thống đến hiện đại.
5.3. Bằng việc đánh giá thực trạng và đưa ra một số ý kiến,
kiến nghị, luận án sẽ góp một tiếng nói vào việc bảo tồn, gìn giữ,
7


phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Hmông với tư cách là một thành tố
tạo nên sự thống nhất, phong phú và đa dạng của văn hoá các dân tộc
Việt Nam. Đặc biệt là trong bối cảnh đất nước ta đang trên con
đường hội nhập quốc tế ngày càng sâu sắc.
6. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục,
nội dung chính của luận án được triển khai thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về dân tộc Hmông
Chương 2: Quá trình vận động của thơ ca Hmông nhìn từ
phương diện nội dung phản ánh
Chương 3: Quá trình vận động của thơ ca Hmông nhìn từ
phương diện cấu trúc nghệ thuật
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC HMÔNG
1.1. Lịch sử tộc người - những cuộc thiên di đầy nước mắt và máu
Dân tộc Hmông (còn có các tên gọi khác như Na Mẻo, Mèo,
Mẹo, Miếu Ha, Mán Trắng), là một dân tộc có số dân tương đối đông
(trên 9 triệu người), cư trú ở nhiều nước khác nhau trên thế giới. Ở

Kinh tế của người Hmông hoàn toàn không có tính cộng đồng,
càng không phải là nền tảng cho sự cố kết và thống nhất. Đó là một trở
ngại rất lớn cho sự phát triển kinh tế của dân tộc này trong bối cảnh
nền kinh tế trong nước và thế giới đang trong công cuộc hội nhập ngày
càng mạnh mẽ và sâu sắc.
1.3. Đời sống văn hóa- "Tâm hòn và tiếng hát Hmông"
1.3.1. Nhà ở- nét độc đáo trong kiến trúc của người Hmông
Người Hmông thường ở nhà đất trình tường lợp ngói, hay nhà
gỗ lợp mái tranh phên vách. Cấu trúc chung của ngôi nhà Hmông
truyền thống gồm 3 gian, gian giữa có cửa chính nhìn về phía trước
nhà. Đây là gian tiếp khách. Vách sau của gian giữa là chỗ thiêng. Ở
9


gian bên cạnh có buồng ngủ và bếp. Đầu hồi nhà có một cửa phụ
nhưng đó mới chính là lối ra vào. Hàng ngày, người trong gia đình
chủ yếu đi lại bằng cửa này.
Nhà của người Hmông không chỉ phù hợp với điều kiện và đặc
trưng cuộc sống của họ, mà còn biểu hiện những quan niệm riêng về
tín ngưỡng của cộng đồng.
1.3.2. Trang phục- nét đặc trưng thẩm mĩ của người Hmông
Trang phục hiện diện trong đời sống hàng ngày của người
Hmông. Trang phục vừa là của cải vật chất vừa có ý nghĩa vượt qua
giá trị của vật chất thông thường để thể hiện sâu sắc những giá trị
văn hoá, xã hội của người Hmông từ trong lịch sử. Trong xã hội đầy
biến động của đời sống hiện tại, điều kiện kinh tế và sự giao lưu văn
hoá đã dẫn tới việc người Hmông dần mất đi trang phục truyền thống
của mình, nhất là trang phục của người đàn ông Hmông. Vì vậy, việc
khích lệ, động viên và tạo điều kiện thuận lợi để người Hmông giữ
lại và sử dụng trang phục cổ truyền của mình là một sự bảo lưu

thế giới đã thống nhất cùng một loại. Người Hmông trên khắp thế
giới cùng thống nhất được một tiếng nói, đó là tiếng Hmông Đơ
(Hmông Trắng). Bởi người Hmông ở các nước có nền văn hoá phát
triển như Thái Lan, Mỹ, Pháp, Úc, Lào... đều là người Hmông Trắng
Người Hmông có một kho tàng thơ ca phong phú được hính thành và
không ngừng phát triển trong suốt chiều dài lịch sử. Thơ ca Hmông
là sự phản ánh trung thực đời sống và tâm hồn dân tộc Hmông từ quá
khứ đến hiện tại với những nét đặc trưng, giàu bản sắc.
Tiểu kết
Cuộc sống ở trên núi cao với những hoàn cảnh, điều kiện hết
sức khắc nghiệt đã sản sinh ra một dân tộc Hmông với đời sống kinh
tế, phong tục tập quán, đời sống xã hội, đời sống tâm linh...đầy cá
11


tính và bản sắc. Đó chính là chất men, là ngọn nguồn của cảm hứng
sáng tạo thơ ca, góp phần tạo nên một giọng điệu thơ ca nhất quán
từ thơ ca dân gian tới thơ ca hiện đại của dân tộc Hmông.
CHƯƠNG 2
QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA THƠ CA HMÔNG NHÌN TỪ
PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG PHẢN ÁNH
2.1. Giới thuyết về một số khái niệm cơ bản
2.1.1. Khái niệm "thơ ca" trong nội dung "thơ ca dân gian Hmông"
Thơ ca là một khái niệm sử dụng kết hợp cả hai thành tố Hán
và Việt. Thơ chính là âm Việt của Thi, là một "thể văn có âm vận rõ
ràng"; Ca trong âm Hán Việt có nghĩa là hát. Thơ ca chính là từ hợp
nghĩa của cả hai khái niệm thơ và ca. Trong văn học truyền thống
của dân tộc Hmông chỉ có dân ca chứ không có ca dao, bởi tất cả các
bài "có âm vận rõ ràng" được viết ra đều để hát. Cho nên, chúng tôi
nghiên cứu dân ca Hmông thực chất là nghiên cứu phần lời của các

nhiên. Từ việc coi thiên nhiên là khung cảnh, là nền cho tâm
trạng và hành động của con người đến chỗ coi thiên nhiên là đối
tượng thẩm mĩ, cùng với đó là sự mở rộng về không gian và
điểm nhìn. Thiên nhiên đặc trưng của người Hmông góp phần
hình thành, tạo nên tâm hồn và tính cách Hmông.
2.2.2. Tình yêu và cuộc sống -những giai điệu tâm hồn mạnh
mẽ, quyết liệt
Thơ ca Hmông khắc họa con người và cuộc sống của dân tộc
Hmông trên hai phương diện: đời sống vật chất (những sinh hoạt
hàng ngày) và đời sống tinh thần (những cung bậc tình cảm). Từ đó,
bức tranh toàn cảnh về con người và cuộc sống của người Hmông
được hiện lộ một cách sinh động, đầy bản sắc.
13


2.3. Thơ ca Hmông và những mạch nguồn cảm hứng
2.3.1. Từ cảm hứng cảm thương- bi kịch...
Cảm hứng cảm thương- bi kịch trong thơ ca Hmông là sự soi
chiếu những bi kịch cay đắng nghiệt ngã của dân tộc Hmông từ trong
lịch sử. Đó là bi kịch của số phận dân tộc, số phận cộng đồng và số
phận cá nhân với tất cả những hệ luỵ của nó.
2.3.2. Đến cảm hứng trữ tình- ngợi ca
Cảm hứng trữ tình - ngợi ca không chỉ mới xuất hiện trong thơ
ca Hmông thời kì hiện đại mà đã được biểu hiện trong thơ ca dân
gian Hmông rất rõ nét. Tuy nhiên, chỉ đến sau cách mạng tháng Tám,
khi đồng bào dân tộc Hmông thoát khỏi những cảnh đời tăm tối để
xây dựng một cuộc sống mới, một tương lai mới cho dân tộc mình.
thì cảm hứng trữ tình-ngợi ca mới thực sự nổi nổi trội. Đó là khúc ca
về cuộc sống mới do Cách mạng, Đảng và Bác Hồ đem lại.
2.3.3. Cảm hứng suy tư- chiêm nghiệm với lối tư duy, diễn đạt

PHƯƠNG DIỆN CẤU TRÚC NGHỆ THUẬT
3.1. Sự vận động ở phương diện cấu trúc thể loại
3.1.1.Từ cấu trúc thể loại thơ Hmông truyền thống...
Thơ ca dân gian Hmông là sự biểu hiện đặc sắc của lối giãi bày trực
tiếp, thể hiện một nhu cầu giao tiếp và chia sẻ tình cảm. Thông qua
hai hình thức cơ bản là độc thoại và đối thoại, thơ ca dân gian
Hmông có ưu thế để biểu hiện trong những môi trường diễn xướng.
Với hình thức đối đáp, thơ ca dân gian Hmông chủ yếu sử
dụng phép đối, từ cấu trúc câu thơ đến ý thơ, lời thơ, vừa tạo ra sự
cân đối hài hoà, vừa chuyển tải những thông điệp tình cảm đẽ ghi
nhớ, khắc sâu vào lòng người, có sức lôi cuốn và ám ảnh.
15


3.1.2. Đến xu hướng đổi mới cấu trúc thể loại
Bên cạnh xu hướng kết cấu thơ chịu ảnh hưởng của thơ ca truyền
thống, thơ ca hiện đại Hmông còn mang những đặc điểm của cấu
trúc thơ hiện đại. Điều này thể hiện rất rõ trong việc sử dụng các thể
thơ, cách dồn nén câu chữ, đặc biệt là cách gieo vần, ngắt nhịp trong
các câu thơ, bài thơ.
3.2. Sự vận động ở phương diện cấu trúc câu thơ
3.2.1. Cấu trúc câu trong thơ Hmông truyền thống
Trong cấu trúc câu thơ Hmông truyền thống thường ít có sự
biến động về số lượng chữ giữa các vế câu. Yếu tố nhịp điệu được
đảm bảo bằng sự cân đối thanh điệu và hình ảnh. Câu thơ cùng một
lúc diễn tả được hai hành động, hai tâm trạng của hai nhân vật trữ
tình. Cấu trúc này chiếm vị trí khá lớn trong dân ca Hmông. Cách
ngắt nhịp trong câu thơ Hmông cũng rất linh hoạt. Nhịp trong thơ
Hmông dường như không được quyết định ở câu thơ mà là ở khổ
thơ. Hay nói cách khác, cấu trúc của khổ thơ chính là nhịp thơ được

sống tâm hồn của dân tộc Hmông. Thế giới biểu tượng là sợi dây gắn
kết giữa truyền thống và hiện đại trong thơ ca dân tộc Hmông.
3.4. Sự vận động của cấu trúc ngôn ngữ trong thơ ca Hmông
3.4.1. Từ ảnh hưởng của ngôn ngữ thơ ca truyền thống...
Sự tiếp thu, ảnh hưởng và phát triển sáng tạo mạch thơ ca dân
gian truyền thống tạo cho thơ hiện đại dân tộc Hmông có một sắc thái
riêng và cả một sự thống nhất ở cấu trúc ngôn ngữ, ở hình thức thơ và
sự vận dụng vốn văn hoá, văn học truyền thống.
3.4.2. Đến xu hướng hiện đại và việc thể hiện cá tính sáng tạo
Trong thơ Hmông hiện đại, ngôn ngữ giao tiếp, lời ăn tiếng
nói hàng ngày của đồng bào được các tác giả đưa vào thơ một cách
17


rất nhuần nhị, tự nhiên. Cấu trúc ngôn ngữ mang tính hiện đại, góp
phần thể hiện cá tính sáng tạo của các tác giả.
Tiểu kết
Nhìn từ phương diện cấu trúc nghệ thuật, thơ ca dân tộc
Hmông mang những đặc điểm riêng, đầy bản sắc. Đó là một quá
trình vận động từ truyền thống đến hiện đại. Ở đó, có những giá trị
của thơ ca truyền thống được ổn định, bảo lưu và tiếp biến để trở
thành những giá trị đặc trưng của thơ hiện đại.
Thơ Hmông hiện đại là một thứ thơ chân mộc, giản dị. Ngôn
ngữ thơ giàu hình ảnh và nhạc điệu. Cấu trúc thơ vừa chịu ảnh hưởng
của cấu trúc thơ ca truyền thống dân tộc Hmông, vừa phát triển theo
xu hướng cấu trúc mang tính nghệ thuật của thơ hiện đại. Lối tư duy
biểu đạt vừa gần gũi với cách nghĩ, cách cảm, cách thể hiện của
người dân tộc thiểu số, vừa bộc lộ rõ đặc trưng bản sắc của dân tộc
Hmông. Các nhà thơ Hmông đã không ngừng sáng tạo, tự đổi mới
cho thơ, làm cho thơ Hmông ngày càng tiệm cận những chuẩn mực

tạo ngôn ngữ, hình ảnh của thơ ca truyền thống cùng với xu
hướng tìm tòi, khám phá, thể nghiệm, cách tân trong tư duy và
biểu hiện, tạo cho thơ Hmông vừa mang đậm cốt cách truyền
thống, vừa có được những đặc trưng nghệ thuật của thơ hiện đại,
tiệm cận và bước đầu bắt nhịp, chan hoà vào dòng chảy chung của
đời sống thơ ca đương đại.
4.Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu tất đáng trân trọng được
tạo nên từ bản sắc, cá tính, trên cả hai phương diện là nội dung và
nghệ thuật, thơ ca Hmông vẫn còn bộc lộ một số những hạn chế nhất
định: Đó là đội ngũ sáng tác còn mỏng và không đồng đều; nội dung
phản ánh còn chưa thật sự phong phú và toàn diện; những phong tục
19


tập quán, đời sống tinh thần, đời sống tâm linh... của dân tộc Hmông
chưa được chuyển tải vào thơ ca như sự phong phú và thi vị vốn có
của nó; những sinh hoạt cộng đồng mang đậm nét bản sắc dân tộc
chưa được các nhà thơ quan tâm đề cập đúng mức. Mặt khác, tư duy
nghệ thuật trong thơ ca dân tộc Hmông thời kỳ hiện đại còn chịu ảnh
hưởng nặng nề của thơ ca truyền thống; chưa định hình được phong
cách, cá tính của các nhà thơ một cách rõ rệt; chưa có được những tác
phẩm thật sự có giá trị đối với thơ ca dân tộc thiểu số nói riêng cũng
như thơ ca Việt Nam hiện đại nói chung.
5.Quá trình vận động từ truyền thống tới hiện đại trong thơ ca
của các dân tộc thiểu số nói chung là một quá trình mang tính qui luật,
biểu hiện một cách sinh động đời sống văn hóa, tâm hồn của các dân
tộc thiểu số trong sự vươn lên, tiến tới đời sống ngày càng no ấm, hạnh
phúc, loại bỏ dần nhửng hủ tục, phát huy những yếu tố tích cực để làm
giàu cho văn hóa dân tộc thông qua sự kế thừa, tiếp biến và giao lưu,
hội nhập trong nước và quốc tế ngày càng sâu sắc. Tuy nhiên, chúng

hiện nay là vừa phải bắt nhịp được với đời sống thơ ca đương đại, có
những sáng tác có giá trị so với mặt bằng thơ ca chung của cả nước,
vừa phải giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống mang tính
bản sắc của dân tộc Hmông, tức là phải có được (hay đạt tới) một thứ
thơ vừa truyền thống vừa hiện đại. Trước tiên, nó phải thật sự là hoa
trong vườn hoa thơ ca của các dân tộc Việt Nam nhưng đồng thời
phải là một thứ hoa lạ, độc đáo về màu sắc và hương thơm. Tuy
nhiên, xu hướng tiếp thu cái mới, biểu hiện cái mới trong tư duy
nghệ thuật của các tác giả Hmông lại gắn liền với việc thoát ly những
giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, làm cho thơ Hmông hiện đại
có xu hướng “Kinh hoá” trong lối tư duy và biểu đạt. Để khắc phục
21


tình trạng này, theo chúng tôi, trước hết phải có những chính sách
và biện pháp nhằm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ tác giả thơ người
Hmông, nhất là giới trẻ. Quan tâm phát hiện những học sinh
người Hmông có năng khiếu để bồi dưỡng. Bên cạnh đó, các Hội
Văn học Nghệ thuật Trung ương và Địa phương cần tăng cường tổ
chức các đợt tham quan, học tập, giao lưu văn học nghệ thuật, mở
các trại sáng tác cho những văn nghệ sĩ người Hmông, khuyến
khích các tác giả người Hmông cũng như các tác giả dân tộc khác
viết về cuộc sống của người Hmông; Xuất bản và phổ biến các
sáng tác văn học nghệ thuật, sáng tác thơ ca của các tác giả
Hmông nhằm tạo điều kiện cho thơ ca Hmông đến được với độc
giả cả nước. Việc giữ gìn và phát triển triển tiếng nói và chữ viết
của dân tộc Hmông (như việc tăng cường dạy chữ Hmông, tiếng
Hmông trong các trường phổ thông vùng núi) cũng là những vấn
đề can hệ đến sự phát triển của văn hoá Hmông nói chung, của
văn học Hmông và thơ ca Hmông nói riêng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status