Chương 6
VËn dông nguyªn t¾c TÝNH §¶NG, TÝNH KHOA HäC
TRONG NGHI£N CøU, GI¶NG D¹Y LÞCH Sö §¶NG CỘNG SẢN VIỆT
NAM
Vấn đề tính đảng, tính khoa học, mối quan hệ giữa chúng trong
nghiên cứu, giảng dạy lịch sử nói chung, Lịch sử Đảng nói riêng là chủ
đề của nhiều cuộc thảo luận, có nhiều ý kiến khác nhau. Có người nêu
lên mâu thuẫn giữa tính đảng và tính khoa học, có người lại khẳng định
mối quan hệ giữa hai phạm trù này, thậm chí có cả ý kiến muốn phủ định
tính đảng trong nghiên cứu lịch sử... Vì thế vấn đề này cần phải được
giải quyết khách quan, khoa học.
6.1. Quan niệm về tính đảng, tính khoa học trong khoa học Lịch sử
Đảng
6.1.1. Tính đảng
a..Khái niệm
Các học giả tư sản không thừa nhận “tính đảng” trong nghiên cứu
khoa học. Họ cho rằng, nói đến tính khoa học mà lại kèm theo “tính đảng”,
khoa học mang tính đảng thì khoa học sẽ không còn là khoa học nữa, khi đó
các sự kiện lịch sử, quá trình lịch sử sẽ bị phản ánh méo mó, không đúng sự
thật. Trên thực tế, mặc dù giai cấp tư sản không thừa nhận tính đảng trong
nghiên cứu khoa học, nhưng tất cả các ngành khoa học, đặc biệt là khoa học
xã hội (sử học, chính trị học, luật học, triết học, kinh tế học, văn học nghệ
thuật...) của chủ nghĩa tư bản đều mang đậm dấu ấn của giai cấp tư sản, bảo
vệ lợi ích của giai cấp tư sản.
Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định, trong xã hội có giai cấp và đấu
tranh giai cấp, không một khoa học nào, đặc biệt là khoa học xã hội lại
không mang đậm dấu ấn của giai cấp thống trị. Điều này đã được V.I Lênin
khẳng định như một chân lý: mong chờ một nhà khoa học vô tư trong xã hội
của chế độ nô lệ làm thuê thì thật là một điều ngây thơ ngu xuẩn. Nó chẳng
cấp vô sản trong nghiên cứu khoa học. Tính đảng được thể hiện trong cuộc
đấu tranh trên nhiều lĩnh vực khác nhau để hiểu biết chân lý, phục vụ những
lợi ích của giai cấp vô sản một cách có ý thức. Tính đảng cộng sản thể hiện ở
việc công khai bảo vệ lợi ích của quần chúng nhân dân và giai cấp tiên tiến
nhất – giai cấp vô sản. Tính đảng mácxít cho phép chúng ta nêu lên một
cách tất yếu khách quan, đầy đủ mối quan hệ giữa các thời kỳ và vị trí của
mỗi thời kỳ trong quá trình lịch sử.
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam là một môn khoa học trình bày quá
trình phát sinh, phát triển của Đảng, về hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo cách
mạng của Đảng qua các thời kỳ, các giai đoạn cách mạng. Nghiên cứu lịch
sử Đảng để phát hiện bản chất, quy luật của các sự kiện, quá trình lịch sử,
giúp chúng ta nhận thức một cách đầy đủ, chính xác lịch sử cách mạng Việt
Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng; tham gia vào quá trình cải tạo và thúc đẩy
xã hội phát triển. Khoa học Lịch sử Đảng biểu hiện bản chất giai cấp công
nhân, tính Đảng Cộng sản sâu sắc nhất.
Tính đảng nói chung là nói tính giai cấp, nhưng cần phân biệt tính
đảng trong nghiên cứu khoa học, tính đảng trong tuyên truyền, dạy - học và
tính đảng trong sinh hoạt Đảng.
Tính đảng trong nghiên cứu khoa học không nhất thiết đòi hỏi người
nghiên cứu phải thuộc đảng phái nào. Họ tự do sáng tạo, tự do tư tưởng, mục
tiêu cuối cùng là phát hiện ra chân lý. Tuy vậy, trong xã hội có giai cấp thì
mọi sự vật, hiện tượng đều in dấu giai cấp, V.I.Lênin chỉ rõ: “ Tính đảng...
nghĩa là bắt buộc chúng ta mỗi khi đánh giá một sự kiện phải trực tiếp công
khai đứng trên quan điểm của một tập đoàn xã hội nhất định” 2. Tính Đảng
Cộng sản đòi hỏi người nghiên cứu phải đứng trên lập trường quan điểm của
2
V.I.Lªnin, Toµn tËp, TËp 2, Nxb TiÕn bé, M.1974, tr 524
Yêu cầu đặt ra đối với người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy Lịch
sử Đảng là, phải nhận thức đúng lập trường, quan điểm, mục tiêu đấu tranh
của giai cấp công nhân; trung thành với lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, thể
hiện ở việc cố gắng tìm được chân lý lịch sử khách quan, đấu tranh chống
mọi biểu hiện, xu hướng, những cuộc tấn công vào quyền lợi, lý tưởng của
giai cấp công nhân thông qua việc xuyên tạc, bóp méo lịch sử; đồng thời
phải biết tiếp thu có chọn lựa, chọn lọc những thành tựu, di sản văn hoá của
nhân loại.
Hai là, nhận thức, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh để nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử Đảng. Bởi vì, chủ
nghĩa Mác – Lênin là một học thuyết tiên tiến nhất, cách mạng nhất, khoa
học nhất và không phiến diện. Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả vận dụng
và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước
ta, kế thừa và phát triển truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa
văn hoá nhân loại. Vì thế, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội khẳng định: Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh luôn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của
Đảng, giữ vai trò chỉ đạo trong đời sống tinh thần của toàn xã hội. Đối với
nhà sử học, việc nhận thức, vận dụng đúng đắn, linh hoạt và sáng tạo chủ
nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ giúp họ có được quan điểm,
phương pháp đúng đắn trong nghiên cứu, xem xét, đánh giá các sự kiện và
quá trình lịch sử; là cơ sở để đấu tranh chống lại các quan điểm, nhận thức
sai trái.
Yêu cầu đặt ra đối với nhà sử học là, phải nắm vững bản chất cách
mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nắm
vững phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để
phân tích, lý giải các sự kiện, quá trình lịch sử, tìm ra mối liên hệ, quy luật
vận động phát triển của lịch sử; chống giáo điều, rập khuôn, chống xuyên
ci to xó hi, lm ch i sng, lm ch lch s. ú l lnh vc, ú l tỏc
dng cỏch mng t tng vn hoỏ, ca cỏc ngnh khoa hc xó hi rng ln
v phong phỳ: trit hc, kinh t hc, s hc...3.
Tớnh chin u trong khoa hc lch s ng ũi hi ngi nghiờn cu,
ging dy phi: nm vng nhng nguyờn lý ca ch ngha Mỏc Lờnin, t
tng H Chớ Minh, quan im ca ng ta tỡm ra chõn lý lch s, chng
mi hỡnh thc xuyờn tc lch s (õy l cuc u tranh rt phc tp hin nay,
nht l v ti liu, t liu, s kin v quan im lý lun); y mnh cỏc cuc
tranh lun khoa hc nõng cao trỡnh , khc phc nhng thiu sút ca bn
thõn, bi khụng cú tranh lun khoa hc thỡ khụng cú s phỏt trin ca khoa
hc; em kt qu nghiờn cu phc v trc tip cho s nghip cỏch mng,
cho s nghip xõy dng v bo v T quc Vit Nam xó hi ch ngha.
6.1.2. Tớnh khoa hc
a.Khỏi nim
Tớnh khoa hc trong Lch s ng l s dng cỏc phng phỏp khoa
hc phn ỏnh trung thc khỏch quan cỏc s kin, quỏ trỡnh lch s ca
cỏch mng Vit Nam di s lónh o ca ng.
b.Ni dung tớnh khoa hc trong khoa hc Lch s ng
Mt l, phn ỏnh khỏch quan trung thc cỏc s kin lch s, quỏ trỡnh
lch s. õy l c tớnh quan trng v l yờu cu hng u ca tớnh khoa hc
trong khoa hc lch s ng. thc hin ni dung ny, ngi nghiờn cu,
ging dy lch s ng phi tớch cc su tm, khai thỏc trit cỏc ngun t
liu, c bit l t liu gc (ú l cn c quan trng nht nghiờn cu,
phc dng li lch s nh nú ó din ra). Tỏi hin lch s vi tt c s a
dng, phong phỳ, c u im, c khuyt im, c thnh cụng v cha thnh
cụng... Nhng cng khụng vỡ th m lan man, vn vt, cn kt hp miờu t
vi khỏi quỏt, tỡm ra bn cht ca s kin, phỏt hin quy lut vn ng ca
3
Phạm Văn Đồng, Mấy nhiệm vụ cấp bách của khoa học xã hội nớc ta, trích theo Giáo trình Phơng pháp
một cách tự nhiên, không cần phải lên lớp”4. Từ đó đặt ra yêu cầu đối với
người làm công tác giảng dạy Lịch sử Đảng là, phải xuất phát từ thực tiễn
lịch sử, tôn trọng sự thật lịch sử, không tô hồng, bôi đen lịch sử; trình bày
lịch sử phải khách quan trung thực; dám tìm tòi đổi mới, khám phá lịch sự,
dám chịu trách nhiệm về những khái quát lịch sử của mình, góp phần nâng
cao chất lượng các công trình Lịch sử Đảng.
Bốn là, có năng lực tư duy sáng tạo trong nghiên cứu, giảng dạy Lịch
sử Đảng. Bởi vì, đối tượng của khoa học Lịch sử Đảng là nghiên cứu quy
luật ra đời, phát triển của Đảng cũng như quy luật về hoạt động lãnh đạo của
Đảng qua các thời kỳ lịch sử. Nhiệm vụ của khoa học Lịch sử Đảng là trình
bày đường lối, phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân dưới sự lãnh
đạo của Đảng, trình bày nhiệm vụ xây dựng Đảng, kinh nghiệm lãnh đạo của
Đảng qua các thời kỳ lịch sử. Quá trình đó bao gồm vô số các sự kiện, quá
trình lịch sử; chủ trương, chính sách và kinh nghiệm hoạt động lãnh đạo của
Đảng cũng rất phong phú. Do đó nếu không có năng lực tư duy sáng tạo,
không thể đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đề ra. Để đạt được điều đó, người làm
công tác nghiên cứu giảng dạy phải nắm chắc lịch sử, có trình độ tư duy khái
quát cao; có tâm huyết, say mê về nghề nghiệp... có như vậy mới tạo ra
những công trình khoa học có ý nghĩa chính trị cao, hàm lượng khoa học tốt,
tính giáo dục lớn.
6.1.3. Mối quan hệ giữa tính đảng, tính khoa học trong khoa
học Lịch sử Đảng
Hiện nay, còn có nhiều ý kiến khác nhau về mối quan hệ giữa tính
đảng và tính khoa học:
Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, tính đảng, tính khoa học là đồng nhất
với nhau. Quan điểm này dễ rơi vào khuynh hướng tuyệt đối hóa tính đảng,
4
thông qua lao động khoa học, năng lực trí tuệ, bản lĩnh chính trị và sự sáng
tạo của nhà sử học, của người nghiên cứu. Tính đảng, tính khoa học là khách
quan, khi thông qua chủ quan của mỗi người để biểu đạt lên. Trong những
con người khác nhau, sự biểu hiện tính đảng, tính khoa học có thể khác
nhau, điều đó phụ thuộc vào trình độ năng lực và ý thức chính trị của mỗi
người. Để đạt sự thống nhất cao giữa tính đảng, tính khoa học đòi hỏi nhà
khoa học không ngừng nêu cao trình độ của mình, đồng thời đứng vững trên
lập trường giai cấp công nhân để xem xét, đánh giá một vấn đề lịch sử, chỉ
có như thế mới có thể trở thành nhà khoa học chân chính.
Tính đảng, tính khoa học trong khoa học Lịch sử Đảng cơ bản là
thống nhất với nhau, nhưng giữa chúng cũng có sự khác nhau. Đây là hai
phạm trù khác nhau, mỗi phạm trù có yêu cầu nội dung, hình thức vận
động riêng.
Yêu cầu của tính đảng: khi nghiên cứu, trình bày Lịch sử Đảng phải
xuất phát từ yêu cầu, mục tiêu chính trị xã hội. Đứng vững trên lập trường
quan điểm tư tưởng của giai cấp công nhân để xem xét, đánh giá mọi hiện
tượng lịch sử. Tính đảng yêu cầu phát ngôn phải có nguyên tắc, công bố kết
quả nghiên cứu vào thời điểm nào, cho đối tượng nào, không thể tùy tiện
theo ý muốn chủ quan của người nghiên cứu, mà phải tuân theo những quy
định cụ thể.
Yêu cầu của tính khoa học: người nghiên cứu được tự do nghiên cứu,
tranh luận, cọ xát thực tế, kiểm tra thực nghiệm, để đánh giá kết quả nghiên
cứu. Tính khoa học đòi hỏi tự do sáng tạo của cá nhân, tự do tư tưởng, tự do
trong hoạt động sáng tạo khoa học, mục tiêu cuối cùng là phát hiện chân lý.
Tính đảng, tính khoa học đều thông qua chủ quan của con người để
phản ánh. Do vậy, kết quả công trình Lịch sử Đảng còn phụ thuộc vào trình
độ, năng lực chủ quan của tập thể hoặc cá nhân các nhà khoa học.
tuyên truyền cho sự tất thắng của chủ nghĩa tư bản. Tính chất quyết liệt,
phức tạp trong cuộc đấu tranh này còn biểu hiện ở chỗ, lực lượng chống chủ
nghĩa Mác - Lênin, chống chủ nghĩa xã hội không phải chỉ các thế lực phản
động công khai, mà còn có một bộ phận cơ hội, xét lại trong phong trào cộng
sản và công nhân quốc tế. Những kịch bản quen thuộc từ phủ định lịch sử, đi
đến phủ định hiện thực và tương lai của các nước xã hội chủ nghĩa; những
chiêu bài "dân chủ”, "nhân quyền"; đòi đa nguyên, đa đảng; đòi tư nhân hoá
toàn bộ nền kinh tế. . . đã được họ lợi dụng triệt để và sự thật họ đã đạt được
ở một số nước, làm cho chủ nghĩa xã hội ở đó bị sụp đổ, Đảng Cộng sản ở
đó mất vai trò lãnh đạo xã hội. Điều đó có tác động, ảnh hưởng xấu đến Việt
Nam.
Công cuộc đổi mới vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội trên đất
nước ta do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội VI (1986) đến nay, đã
giành được nhiều thành tựu to lớn, đưa nước ta bước sang thời kỳ phát triển
mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Bên cạnh những
thành tựu do công cuộc đổi mới đem lại, đất nước ta cũng đang đứng trước
nhiều nguy cơ, thử thách mới. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động
quốc tế đang tìm mọi cách chống phá, thủ tiêu mọi thành quả của cách mạng
xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy,
tính chất của cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay gay go, quyết liệt hơn
bất cứ thời kỳ lịch sử nào.
Trong những năm qua công tác nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử Đảng
đã có bước phát triển mới, đáng được trân trọng. Bên cạnh những thành tựu
cơ bản có ý nghĩa quan trọng, các công trình nghiên cứu về Lịch sử Đảng
của các cơ quan Trung ương, địa phương, các nhà sử học vẫn còn những hạn
chế nhất định. Một số công trình chất lượng chưa cao, còn nặng về mô tả sự
kiện, chưa phân tích nhiều chiều, quan điểm lịch sử chưa được quán triệt đầy
lãnh đạo của Đảng, phủ định con đường phát triển tất yếu của lịch sử cách
mạng Việt Nam. Do đó, cũng không có cơ sở để đưa ra những nhận định
chính xác về hiện tại và khả năng phát triển của đất nước trong tương lai.
Quán triệt nguyên tắc tính đảng, tính khoa học trong nghiên cứu, giảng dạy
lịch sử Đảng không nên tuyệt đối hóa mặt nào, đồng thời cũng không đồng
nhất tính đảng, tính khoa học làm một. Một công trình lịch sử Đảng nếu chất
lượng khoa học thấp, thì không thể có tính đảng cao và ngược lại. Nghiên
cứu, giảng dạy lịch sử Đảng, nếu coi thường sự thật lịch sử, không xuất phát
từ hiện thực khách quan để trình bày thì không những làm giảm đi hàm
lượng khoa học của công trình, mà còn vi phạm nguyên tắc tính đảng, gây
tác hại đến quá trình nhận thức, giải thích lịch sử.
Quán triệt nguyên tắc tính đảng, tính khoa học trong dạy học lịch sử
Đảng cần chống bệnh đơn giản, không coi trọng tư liệu, sử liệu, như thế sẽ
dẫn đến giải thích sự kiện lịch sử giản đơn, suy diễn theo ý muốn chủ quan
của mình. Phương pháp đó không có sức thuyết phục người nghe, họ phải
tiếp nhận miễn cưỡng, gò ép, gây tình trạng nhàm chán trong quá trình tiếp
thu lịch sử. Quán triệt nguyên tắc tính đảng, tính khoa học còn đòi hỏi phải
chống bệnh chủ nghĩa minh họa lịch sử. Thực chất của căn bệnh này là
không bắt đầu từ việc nghiên cứu các sự kiện, quá trình lịch sử để rút ra
những kết luận khoa học có sức thuyết phục, mà lại lấy một số mệnh đề có
sẵn trong các tác phẩm kinh điển Mác - Lênin, Hồ Chí Minh, buộc mọi
người thừa nhận, cách làm ấy dẫn đến bệnh giáo điều sách vở, sao chép máy
móc “gọt chân cho vừa giày”, không có sức thuyết phục đối với người đọc.
Nguyên tắc tính đảng, tính khoa học không cho phép hiện đại hoá lịch
sử, không nắm vững quan điểm lịch sử trong nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử
Đảng. Bởi mỗi sự kiện lịch sử bao giờ cũng gắn với một điều kiện lịch sử cụ
thể, do đó nó có tác dụng trong hoàn cảnh lịch sử ấy. Nghiên cứu lịch sử
không thể hiện đại hoá lịch sử, không được lấy những kết luận hôm nay để