1
Luận văn
Kết hợp xoá đói, giảm nghèo với
phát triển kinh tế - xã hội ở nông
thôn tỉnh Vĩnh Long
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xoá đói, giảm nghèo trở thành vấn đề toàn cầu, là mục tiêu của thiên
niên kỷ XXI và thế giới đã lấy ngày 17 tháng 10 hàng năm là “Ngày Thế giới
xoá đói, giảm nghèo”. Có thể nói, nghèo đói đã và đang diễn ra trên khắp các
châu lục với những mức độ khác nhau. Đặc biệt là ở các nước lạc hậu, chậm phát
triển, kể cả các nước đang phát triển và nước giàu có; nghèo đói đang là vấn đề
nhức nhối, thách thức đối với sự phát triển hay tụt hậu của một quốc gia.
Ở nước ta, ngay từ những ngày đầu khi Cách mạng tháng Tám năm
1945 vừa thành công, Chính phủ Cách mạng lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí
Minh đứng đầu vừa được thành lập, ngày đêm phải lo đối phó với thù trong,
giặc ngoài, nhưng vẫn dành sự quan tâm sâu sắc đến việc chăm lo cuộc sống
cho nhân dân vừa thoát khỏi cảnh nô lệ, bị áp bức, bóc lột. Chủ tịch Hồ Chí
Minh đặc biệt chú ý đến vấn đề đói. Người kêu gọi toàn dân cùng Chính phủ
tập trung lực lượng để chống ba thứ giặc là: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại
xâm, trong đó giặc đói được Người đặt lên hàng đầu, với lý do: Ngày nay
chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Nhưng nếu nước
ta được độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc, thì độc lập đó
chẳng có ý nghĩa gì.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn chăm lo đến đời sống nhân dân,
Người nói: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom
người/km2, là một trong những tỉnh có mật độ dân số cao nhất khu vực đồng
bằng sông Cửu Long.
Trong những năm qua, Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Long rất quan tâm
đến công tác xoá đói, giảm nghèo, thực hiện nhiều chính sách và các dự án
xoá đói, giảm nghèo mang lại hiệu quả thiết thực, với sự nỗ lực của các
ngành, các cấp và bản thân của các hộ nghèo đã phấn đấu góp phần hạ thấp tỷ
lệ hộ nghèo của tỉnh từ 13,8%, với 27.677 hộ năm 1994 giảm xuống còn
3,51%, với 8.089 hộ vào cuối năm 2005 (theo tiêu chí cũ), với kết quả này đã
về đích trước thời hạn so với Nghị quyết của Tỉnh đề ra là 5%. Tuy nhiên về
lợi thế so sánh tài nguyên thiên nhiên, Vĩnh Long không có biển, không có
5
núi, không có rừng. Mặt khác Vĩnh Long là một tỉnh diện tích đất hẹp người
đông, trình độ dân trí còn hạn chế, kết cấu hạ tầng còn thấp, kinh tế phát triển
chưa đồng đều giữa các vùng. Thu nhập bình quân đầu người còn thấp, tỷ lệ
hộ đói nghèo của tỉnh còn cao, theo tiêu chí mới, đến cuối năm 2007 còn
9,86% so tổng số hộ toàn tỉnh, trong đó tỷ lệ hộ nghèo là người dân tộc khmer
còn rất cao, chiếm 50,50% so tổng số hộ khmer trong tỉnh, tập trung ở 4
huyện Tam Bình, Bình Minh, Trà Ôn, Vũng Liêm. Có gần 92% hộ nghèo sống
ở nông thôn và toàn tỉnh còn 5 ấp và 3 xã đặc biệt khó khăn. Do vậy, vấn đề đặt
ra cho Tỉnh Vĩnh Long trong việc kết hợp xoá đói, giảm nghèo với phát triển
kinh tế - xã hội trên địa bàn không chỉ có ý nghĩa thực hiện mục tiêu chung của
cả nước mà còn có vai trò thúc đẩy kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển, vươn lên
tránh tụt hậu so với các tỉnh trong khu vực, đồng thời đáp ứng yêu cầu trong
tiến trình hội nhập và phát triển. Trước yêu cầu đó, việc nghiên cứu, lý giải một
cách đầy đủ có cơ sở lý luận và thực tiễn vấn đề kết hợp xoá đói, giảm nghèo
với phát triển kinh tế - xã hội, trước hết là ở nông thôn để đưa ra các giải pháp
phù hợp với thực tiễn của địa phương Vĩnh Long là yêu cầu cấp thiết, cho nên
- Hội thảo khoa học về xoá đói, giảm nghèo do Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội phối hợp với Tạp chí Cộng sản, tổ chức tháng 4 năm 2006.
- Hội thảo “Đồng bằng sông Cửu Long với công cuộc xoá đói, giảm
nghèo thông qua phát triển du lịch cộng đồng” do Bộ Văn hoá, Thể thao và
Du lịch phối hợp với UBND tỉnh Vĩnh Long, đăng cai tổ chức tại Thị xã Vĩnh
Long tháng 10/2007.
- Phân tích hiện trạng nghèo đói Đồng bằng sông Cửu Long, năm 2005.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đã tiếp cận và nghiên cứu
vấn đề xoá đói, giảm nghèo ở nhiều góc độ, nhiều địa phương khác nhau và
gợi mở ra hướng nghiên cứu mới bổ ích. Đây là những tư liệu quý sẽ được
tiếp thu có chọn lọc trong quá trình viết luận văn này.
Song cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu xoá đói, giảm
nghèo gắn với phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn. Đặc biệt là ở Vĩnh Long
7
chưa có một công trình nào nghiên cứu như đã nêu dưới góc độ kinh tế chính
trị. Vì vậy, đề tài mà tác giả lựa chọn để nghiên cứu không trùng với các công
trình nghiên cứu đã được công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Làm rõ thực trạng đói nghèo và việc thực hiện xóa đói, giảm nghèo gắn
với phát triển kinh tế - xã hội nông thôn ở tỉnh Vĩnh Long từ năm 2001 đến
nay. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần thực hiện tốt công tác
xóa đói, giảm nghèo gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn ở
tỉnh Vĩnh Long đến 2010 và dự báo đến 2015.
3.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về kết hợp xoá đói, giảm nghèo với phát
triển kinh tế - xã hội ở nông thôn.
đề nghiên cứu và rút ra các kết luận cần thiết.
6. Những đóng góp của luận văn
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về quan hệ giữa xóa đói, giảm nghèo với
phát triển kinh tế - xã hội nông thôn.
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc kết hợp xóa đói, giảm nghèo với
phát triển kinh tế - xã hội nông thôn ở tỉnh Vĩnh Long. Nêu rõ những thành công,
những khó khăn, hạn chế và những vấn đề đặt ra cần thiết phải xoá đói, giảm
nghèo trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
- Luận văn đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm kết hợp xóa đói, giảm
nghèo với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Vĩnh Long.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương, 6 tiết.
9
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ KẾT HỢP XOÁ ĐÓI, GIẢM NGHÈO VỚI PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI Ở NÔNG THÔN
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾT HỢP X0Á ĐÓI, GIẢM NGHÈO
VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở NÔNG THÔN
1.1.1. Đói, nghèo và nguyên nhân của đói, nghèo
1.1.1.1. Quan niệm về đói, nghèo
Những năm gần đây, vấn đề đói nghèo đã thu hút sự quan tâm to lớn
của cộng đồng quốc tế, đồng thời khẳng định cần có sự nỗ lực toàn cầu trong
giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội và xóa đói, giảm nghèo.
Tuyên bố Thiên niên kỷ và các mục tiêu phát triển, đã tạo đà và tầm
(i) Nhu cầu cơ bản của con người bao gồm: ăn ở, mặc, y tế, giáo dục,
văn hoá, đi lại và giao tiếp xã hội.
(ii) Nghèo khổ thay đổi theo thời gian: Thước đo nghèo khổ sẽ thay đổi
theo thời gian, kinh tế càng phát triển, thì nhu cầu cơ bản của con người cũng
sẽ thay đổi theo và có xu hướng ngày một cao hơn.
(iii) Nghèo khổ thay đổi theo không gian: Thông qua định nghĩa này đã
chỉ cho chúng ta thấy rằng hiện tại thì chưa nhưng trong tương lai sẽ có chuẩn
nghèo chung cho tất cả các nước, vì nó phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia, từng vùng. Xu hướng chung là các nước đang phát
triển ngưỡng đo nghèo đói ngày càng cao.
Nhà kinh tế học người Mỹ Galbraith chia sẽ với quan niệm này cho
rằng con người bị coi là nghèo đói khi mà thu nhập của họ, ngay dù khi thích
đáng để họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập của cộng đồng.
Khi đó, họ không thể có những gì mà đa số trong cộng đồng coi như cái cần
thiết tối thiểu để sống một cách đúng mức.
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại
Copenhagen, Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một quan niệm cụ thể hơn về
11
nghèo đói như sau: “người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn
dưới 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua
những sản phẩm thiết yếu để tồn tại” [21].
Ông Abapia Sen, một chuyên gia hàng đầu của Tổ chức lao động quốc
tế (ILO) - người được giải thưởng Nôben về kinh tế năm 1998, cho rằng:
Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của
cộng đồng. Xét cho cùng sự tồn tại của con người nói chung và người giàu,
người nghèo nói riêng, cái khác nhau cơ bản để phân biệt họ chính là cơ hội
lựa chọn của mỗi người trong cuộc sống, thông thường người giàu có cơ hội
lựa chọn nhiều hơn, người nghèo có cơ hội lựa chọn ít hơn.
12
Một số người khác thì trả lời nghèo đói đồng nghĩa với nhà ở bằng
tranh tre, nứa, lá tạm bợ, xiêu vẹo, dột nát; không đủ đất đai để sản xuất,
không có trâu, bò, không có ti vi, con cái thất học, ốm đau không có tiền đi
khám chữa bệnh…
Các quan niệm về đói nghèo nêu trên phản ánh 3 khía cạnh của người nghèo.
(i) Không được hưởng thụ những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành
cho con người.
(ii) Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư.
(iii) Thiếu cơ hội lựa chọn, tham gia trong quá trình phát triển cộng đồng.
Để đánh giá đúng mức độ nghèo, người ta chia nghèo thành hai loại:
Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối.
Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng
và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống (nhu cầu về
ăn, mặc, nhà ở, chăm sóc y tế, giáo dục...).
Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới
mức trung bình của cộng đồng tại địa phương, ở một thời kỳ nhất định.
Những quan niệm về đói nghèo nêu trên, phản ánh ba khía cạnh chủ
yếu của người nghèo là: Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức
tối thiểu dành cho con người; có mức sống thấp hơn mức sống cộng đồng;
thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.
Nghèo tuyệt đối chủ yếu phản ánh tình trạng một bộ phận dân cư không
được thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu của con người, trước hết là ăn, mặc,
ở...; Nghèo tương đối lại phản ánh sự chênh lệch về mức sống của một bộ
phận dân cư khi so sánh với mức sống trung bình của cộng đồng địa phương
trong một thời kỳ nhất định. Do đó, có thể xóa dần nghèo tuyệt đối, còn nghèo
tương đối luôn xảy ra trong xã hội, vấn đề quan tâm ở đây là rút ngắn khoảng
ít được tham gia vào quá trình ra quyết định... Qua nghiên cứu chúng ta nhận
thấy đói nghèo có nguồn gốc căn nguyên từ kinh tế; nhưng với tư cách là hiện
tượng tồn tại phổ biến ở các quốc gia trong tiến trình phát triển, đói nghèo
14
thực chất là hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp, chứ không thuần túy chỉ là
vấn đề kinh tế cho dù các tiêu chí đánh giá của nó trước hết và chủ yếu dựa
trên các tiêu chí về kinh tế. Vì vậy, khi nghiên cứu những tác động ảnh hưởng
đến thực trạng, xu hướng, cách thức giải quyết vấn đề đói nghèo cần phải
đánh giá những tác động của nhân tố chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc
phòng có như vậy mới đề ra được các giải pháp đồng bộ cho công tác xoá đói,
giảm nghèo ở nước ta.
Quan niệm về hộ nghèo, xã nghèo là những thuật ngữ đã được người
dân Việt Nam sử dụng từ ngàn đời xưa, còn thuật ngữ “xoá đói, giảm nghèo”
chỉ mới xuất hiện trong những năm gần đây. Trong cuộc sống cộng đồng làng
xã, người dân cũng đã có những nhận xét, so sánh về tình trạng, mức độ
nghèo đói của các hộ gia đình, họ đánh giá nhà này giàu có, nhà kia khá giả,
nhà nọ nghèo khổ…sự nghèo khó khá giả hoặc nghèo khổ theo cách nghĩ,
cách đánh giá của người dân chủ yếu dựa vào các yếu tố quan sát được hoặc
hiểu biết được các thông tin qua trao đổi hoặc giao tiếp hằng ngày. Các yếu tố
mà họ sử dụng làm căn cứ cho những nhận xét chủ yếu là nhà ở, tài sản, tư liệu
sản xuất, thu nhập, chi tiêu và đồ dùng sinh hoạt hằng ngày; đặc biệt là chi tiêu
cho ăn mặc, khám chữa bệnh và học hành của con cái hoặc là nhà ở, tài sản và
thu nhập hàng tháng hoặc hàng năm của các hộ gia đình. Cũng có khi họ chỉ
nhìn vào chi tiêu của cuộc sống sinh hoạt hàng ngày hoặc thu nhập hàng tháng,
hàng năm của hộ gia đình mà không cần quan sát yếu tố nhà ở, tài sản, trong
trường hợp họ thấy nhà cửa, tài sản cũng không có gì đáng giá. Với cách đánh
giá như vậy người ta gọi là đánh giá định tính của người dân và sau này hình
Đối với Việt Nam, dù là trong ký ức của người dân hay trong các tài
liệu của chính phủ trước đây, quan niệm về cái nghèo chưa bao giờ được coi
đơn thuần là vấn đề thu nhập vật chất. Cái nghèo ở đây luôn hàm chứa cả sự
nghèo nàn về đạo đức, học vấn, truyền thống…
Tuy nhiên, hiện nay khi nền kinh tế chuyển đổi sang nền kinh tế thị
trường với sự gia tăng các nguồn viện trợ từ nước ngoài (kể cả chính phủ và
phi chính phủ) thì những khái niệm về giàu nghèo dựa trên thu nhập hiện
16
đang được chính phủ và nhân dân sử dụng ngày càng nhiều, để xác định ai
"giàu" và ai "nghèo".
Đối với nước ta đã 5 lần điều chỉnh chuẩn nghèo từ 1993 đến 2006.
* Giai đoạn 1993 - 1995:
. Hộ đói: bình quân thu nhập đầu người quy gạo/tháng dưới 13 kg đối
với thành thị, dưới 8 kg đối với khu vực nông thôn.
. Hộ nghèo: bình quân thu nhập đầu người quy gạo/tháng dưới 20 kg
đối với thành thị, dưới 15 kg đối với khu vực nông thôn.
* Giai đoạn 1995 - 1997:
. Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một
tháng quy ra gạo dưới 13 kg, tính cho mọi vùng.
. Hộ nghèo là hộ có thu nhập như sau:
+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng.
+ Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20 kg/người/tháng.
+ Thành thị: dưới 25kg/người/tháng.
* Giai đoạn 1997 - 2000 (Công văn số 1751/LĐTBXH):
. Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một
tháng quy ra gạo dưới 13 kg, tương đương 45.000 đồng (giá năm 1997, tính
cho mọi vùng).
Phương pháp xác định chuẩn nghèo [7]: có 2 phương pháp xác định
chuẩn nghèo.
* Phương pháp xác định chuẩn nghèo dựa vào nhu cầu chi tiêu
Đây là phương pháp do các chuyên gia Ngân hàng thế giới (WB) khởi
xướng và cũng là phương pháp được nhiều quốc gia cũng như các tổ chức
quốc tế công nhận và sử dụng trong việc xác định chuẩn nghèo ở cấp quốc gia
hoặc sử dụng trong các dự án lớn. Nội dung cơ bản của phương pháp này là
dựa vào nhu cầu chi tiêu để bảo đảm các nhu cầu cơ bản của con người về ăn,
ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hoá, đi lại và giao tiếp xã hội.
18
Bước một là xác định nhu cầu chi tiêu cho lương thực thực phẩm
(nhu cầu ăn uống để tồn tại). Để xác định được nhu cầu này người ta xác
định rổ hàng hoá để bình quân hàng ngày một người có được 2.100Kcal, rổ
hàng hoá khoảng 40 mặt hàng. (rổ hàng hoá tính cho Việt Nam cũng 40
mặt hàng và xếp thành 16 nhóm hàng hoá: gạo các loại; lương thực khác
quy gạo; thịt các loại; mở, dầu ăn; tôm cá; trứng gia cầm các loại; đậu phụ;
đường, mật, sữa, bánh kẹo mức; nước mắm, nước chấm; chè, cà phê; rượu,
bia; đồ uống khác; đỗ các loại; lạc, vừng; rau các loại; quả chín); từ rổ hàng
hoá này người ta xác định được số tiền cần thiết chi tiêu cho lương thực
thực phẩm. Tuy nhiên, giá cả của rổ hàng hoá ở thành thị, nông thôn và các
vùng rất khác nhau, vì vậy người ta phải lấy giá trị trung bình của rổ hàng
hoá này.
Bước hai là xác định nhu cầu chi tiêu lương thực thực phẩm (7 nhu cầu
cơ bản còn lại). Thông thường chi cho lương thực, thực phẩm chung của dân
cư chiếm khoảng 60% tổng chi tiêu, còn 40% là nhu cầu phi lương thực thực
phẩm. Đối với nhóm giàu tỷ lệ tương ứng là 50% và 50%; đối với nhóm
nghèo 70% chi tiêu cho nhu cầu lương thực, thực phẩm, còn 30% chi tiêu cho
Mỹ và Nhật Bản còn chia cụ thể cho các đối tượng khác nhau, cụ thể chuẩn
nghèo vào năm 2001 ở Mỹ đối với người sống một mình, không có người ăn
theo dưới 65 tuổi là 8,494 USD; đối với gia đình 9 người là 39,223 USD; đối
với gia đình 4 người là 7,940 USD [22].
Tuy nhiên có tài liệu khác do trung tâm phát triển nguồn nhân lực Châu
Á phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu dân số và Nguồn lao động, Bộ
LĐTB&XH cho rằng “theo quan niệm chung của nhiều nước, hộ nghèo có
mức thu nhập thấp dưới 1/3 mức trung bình của xã hội", theo chuẩn này thì
vào năm 1993 cả thế giới có 1,1 tỷ người nghèo [6].
20
Theo đề tài Phương pháp xác định chuẩn nghèo, do Bộ Thương binh
Lao động và xã hội thực hiện năm 2005, thì việc lấy chuẩn nghèo bằng 1/2
hay 1/3 thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình là phụ thuộc vào
trình độ phát triển của mỗi nước, song biên độ dao động của chuẩn nghèo sẽ
nằm trong 1/2 và 1/3 mức thu nhập bình quân, nước phát triển (nước giàu) thu
nhập cao, chi phí đắt đỏ có thể lấy mức 1/2, nước chậm phát triển có thể lấy
mức 1/3; nước đang phát triển có thể lấy ở khoảng giữa của 1/2 và 1/3 mức
thu nhập bình quân đầu người. Nước ta được xếp vào nhóm nước đang phát
triển, vào thời điểm năm 2002 thu nhập bình quân đầu người là 4.281 nghìn
đồng, thì chuẩn nghèo là 1.875 nghìn đồng, tương đương với 156,250 nghìn
đồng/người/tháng. Năm 2005 ước tính thu nhập bình quân đầu người của các
hộ gia đình là 5.183 nghìn đồng/người/năm (tính theo tốc độ tăng bình quân
của thời kỳ 1998 - 2002 là 6,58% một năm) thì chuẩn nghèo là 2.159 nghìn
đồng/năm, tương đương 179,9 nghìn đồng/tháng.
Công thức tính cụ thể cho nước ta như sau [7]:
CNj = (TNj /2 + TNj /3): 2
Trong đó:
Thiếu đất đai ảnh hưởng đến việc bảo đảm an ninh lương thực của người
nghèo cũng như khả năng đa dạng hóa sản xuất, để hướng tới sản xuất các
loại cây trồng với giá trị cao hơn. Đa số người nghèo lựa chọn phương án sản
xuất tự cung, tự cấp, họ vẫn giữ các phương pháp sản xuất truyền thống, thiếu
cơ hội thực hiện các phương án sản xuất mang lợi nhuận cao hơn. Do vẫn
thực hiện theo phương pháp sản xuất truyền thống nên giá trị sản phẩm và
năng suất các loại cây trồng, vật nuôi còn thấp, thiếu tính cạnh tranh trên thị
trường và vì vậy đã đưa họ vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo khó.
Bên cạnh đó, đa số người nghèo chưa có nhiều cơ hội tiếp cận với các
dịch vụ sản xuất như khuyến nông, khuyến ngư, bảo vệ động, thực vật; nhiều
yếu tố đầu vào sản xuất như: điện, nước, giống cây trồng, vật nuôi, phân
bón... đã làm tăng chi phí, giảm thu nhập tính trên đơn vị sản phẩm.
Người nghèo cũng thiếu khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng. Sự hạn
chế của nguồn vốn là một trong những nguyên nhân trì hoãn khả năng đổi
mới sản xuất, áp dụng khoa học công nghệ, giống mới... Một mặt, do không
có tài sản thế chấp, những người nghèo, phải dựa vào tín chấp với các khoản
22
vay nhỏ, hiệu quả thấp đã làm giảm khả năng hoàn trả vốn. Mặt khác, đa số
người nghèo không có kế hoạch sản xuất cụ thể, hoặc sử dụng các nguồn vốn
vay không đúng mục đích, do vậy họ khó có điều kiện tiếp cận các nguồn vốn
và cuối cùng sẽ làm cho họ càng nghèo hơn.
Bên cạnh đó, việc thiếu các thông tin, đặc biệt là các thông tin về pháp luật,
chính sách và thị trường, đã làm cho người nghèo ngày càng trở nên nghèo hơn.
Thứ hai, trình độ học vấn thấp, việc làm thiếu và không ổn định
Những người nghèo phần lớn là những người có trình độ học vấn thấp,
ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt, ổn định. Mức thu nhập của họ hầu như
chỉ bảo đảm nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu và do vậy không có điều kiện để
về lao động rất thiếu, đây cũng chính là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng
nghèo đói của họ.
Thứ tư, nguy cơ dễ bị tổn thương do ảnh hưởng của thiên tai và các rủi
ro khác.
Các hộ gia đình nghèo rất dễ bị tổn thương bởi những khó khăn hàng
ngày và những biến động bất thường xảy ra đối với cá nhân, gia đình hay cộng
đồng. Do nguồn thu nhập của họ rất thấp, bấp bênh, khả năng tích luỹ kém nên
họ khó có khả năng chống chọi với những biến cố xảy ra trong cuộc sống (mất
mùa, mất việc làm, thiên tai, dịch hoạ, mất nguồn lao động, mất sức khỏe...). Với
khả năng kinh tế mong manh của các hộ gia đình nghèo trong khu vực nông thôn,
những đột biến này sẽ tạo ra những bất ổn lớn trong cuộc sống của họ.
Các rủi ro trong sản xuất kinh doanh đối với người nghèo cũng rất cao,
do họ không có trình độ tay nghề và thiếu kinh nghiệm làm ăn. Khả năng đối
phó và khắc phục các rủi ro của người nghèo cũng rất kém do nguồn thu nhập
hạn hẹp làm cho hộ gia đình mất khả năng khắc phục rủi ro và có thể còn gặp
rủi ro hơn nữa.
Mặt khác, tình trạng số hộ tái đói nghèo trong tổng số hộ vừa thoát khỏi
đói nghèo vẫn còn xảy ra, do không ít số hộ đang sống bên ngưỡng đói nghèo và
rất dễ bị tác động bởi các yếu tố rủi ro như thiên tai, mất việc làm, ốm đau,...
Thứ năm, bất bình đẳng giới ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của phụ
nữ và trẻ em.
24
Bất bình đẳng giới làm sâu sắc hơn tình trạng nghèo đói trên tất cả các
mặt. Ngoài những bất công mà cá nhân phụ nữ và trẻ em gái phải chịu đựng
do bất bình đẳng thì còn có những tác động bất lợi đối với gia đình.
Phụ nữ có ít cơ hội tiếp cận với công nghệ, tín dụng và đào tạo, thường
gặp nhiều khó khăn do gánh nặng công việc gia đình, thiếu quyền quyết định
và khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với thực hiện xoá đói, giảm nghèo.
1.1.2. Mối quan hệ giữa xoá đói, giảm nghèo với phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn nước ta
1.1.2.1. Các quan điểm chủ yếu xoá đói, giảm nghèo gắn phát triển
kinh tế - xã hội
* Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
C.Mác và Ph.Ăngghen khi nghiên cứu, phân tích xã hội tư bản để chỉ ra
những quy luật vận động và phát triển của nó, đồng thời đã đề cập một cách
khá toàn diện và sâu sắc tình cảnh nghèo đói và bị bóc lột đến cùng cực của
giai cấp vô sản và những người làm thuê trong chủ nghĩa tư bản. Trong các
tác phẩm của mình, Mác và Ăngghen đã mô tả cặn kẽ, xác thực tình cảnh
nghèo đói của những người vô sản phải bán sức lao động cho chủ tư bản để
kiếm sống. Phụ nữ và trẻ em phải làm việc đến kiệt sức trong các xưởng thợ;
nông dân bị cưỡng đoạt ruộng đất, mất hết tư liệu sản xuất...Họ trở thành nạn
nhân của tình trạng bị bóc lột giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư
tuyệt đối của các chủ tư bản trong các thời kỳ tích lũy nguyên thủy và thời kỳ
cạnh tranh tự do của chủ nghĩa tư bản. Cũng theo Mác và Ăngghen, nguồn
gốc trực tiếp dẫn đến tình trạng nghèo đói ở đây là phương thức phân phối giá
trị thặng dư trong xã hội một cách bất công giữa nhà tư bản và người lao
động, hai ông cũng chỉ ra rằng chỉ có xóa bỏ chế độ tư hữu, bóc lột mới có thể
giải phóng giai cấp vô sản và quần chúng lao động khỏi cảnh nghèo đói lầm
than, làm cho họ trở thành người lao động tư do và làm chủ, tiến tới một xã
hội công bằng, văn minh.
Kế tiếp, V.I.Lênin đã phân tích những mâu thuẫn kinh tế xã hội gay gắt
trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản độc quyền cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX; qua