1
LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ta hiện nay, điện
năng giữ một vai trò vô cùng quan trọng. Để đáp ứng được sự phát triển của kinh tế
xã hội, yêu cầu về điện năng đòi hỏi ngày càng cao cả về số lượng cũng như chất
lượng. Ngày nay, nền kinh tế nước ta đang phát triển mạnh mẽ, đời sống nhân dân
cũng được nâng cao, nên nhu cầu sử dụng điện năng trong các lĩnh vực tăng trưởng
không ngừng. Hiện nay, hầu hết các nguồn tài nguyên thiên nhiên để sản xuất ra
điện năng ngày càng trở nên khan hiếm do khai thác, sử dụng không hợp lý. Mặt
khác, do điều kiện kinh tế kỹ thuật của nước ta chưa phát triển mạnh nên các nhà
máy phát điện chưa đáp ứng nhu cầu sử dụng điện năng, đặc biệt vào mùa hè, do
nước sông cạn nên các nhà máy thuỷ điện không phát hết công suất tối đa, cộng với
tình hình sử dụng điện năng lãng phí tại các hộ tiêu thụ, cộng với việc sử dụng các
máy móc thiết bị không đạt chuẩn chỉ tiêu kỹ thuật, đã quá thời hạn sử dụng gây
hao tổn điện năng góp phần rất lớn dẫn đến tình trạng thiếu điện nghiêm trọng.
Thiếu điện - dẫn tới phải luân phiên cắt điện tại nơi tiêu thụ làm ngưng trệ việc sản
xuất gây tổn hao rất lớn về kinh tế. Trước tình hình đó việc thực hiện “ Tiết kiệm
điện năng’’ đã trở thành vấn đề hết sức nóng bỏng và cấp thiết.
Nhận được đề tài: “Nghiên cứu các giải pháp tiết kiệm điện năng trong nhà máy
luyện gang của tập đoàn Hòa Phát”, với sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo
TS. Trần Quang Khánh, cùng với sự nghiên cứu, tìm hiểu của bản thân, em đã
hoàn thành đồ án được giao. Do kiến thức còn hạn chế nên đồ án không tránh khỏi
sự thiếu sót, vì vậy em rất mong nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ của thầy cô để đồ án
này được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn !.
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Huy Đạt.
2
hiệu quả.
4
Tuy Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả có hiệu lực thi hành từ
ngày 1/1/2011 là văn bản luật có tính pháp lý cao, nhưng nhìn chung, hệ thống các
văn bản chính sách về tiết kiệm năng lượng còn chưa đồng bộ. Các văn bản pháp
luật cũng còn thiếu một số quy định, quy chuẩn, tiêu chuẩn hướng dẫn kỹ thuật về
tiết kiệm năng lượng nói chung và các công trình xây dựng nói riêng.
Ý thức về tiết kiệm năng lượng của người sử dụng còn hạn chế, nhưng chưa
có chế tài xử lý các hành vi vi phạm về sử dụng lãng phí năng lượng.
Việc định giá năng lượng còn nhiều bất cập (còn bù lỗ, bù chéo lớn giữa các
nhóm khách hàng…), gây bất lợi cho phát triển sản xuất, kinh doanh và không phù
hợp với xu hướng chính sách giá năng lượng của các nước trong khu vực và trên thế
giới.
Thiết bị máy móc, dây chuyền công nghệ sản xuất của các doanh nghiệp còn
lạc hậu, các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, hiệu suất còn thấp và gây ô nhiễm môi trường.
Sâu xa của vấn đề này là do ý thức về việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu
quả của doanh nghiệp còn chưa tốt, vì thế, đầu tư cho phát triển năng lượng còn
thấp. Hơn nữa, trong quá trình tiếp cận với các giải pháp tiết kiệm năng lượng,
doanh nghiệp gặp phải nhiều khó khăn, trong đó rào cản lớn nhất là vấn đề tài
chính.. Không ít doanh nghiệp còn e ngại, khi ứng dụng giải pháp tiết kiệm năng
lượng sẽ phải "khai báo" với đơn vị kiểm toán năng lượng về quy trình sản xuất,
thông tin kỹ thuật công nghệ, lượng và chất nhiên liệu. Số doanh nghiệp có cán bộ
chuyên trách về quản lý năng lượng hoặc có kinh nghiệm về quản lý năng lượng
còn ít.
1.2: Giải pháp tiết kiệm năng lượng ở Việt Nam
1.2.1: Quan điểm và chính sách năng lượng
Quan điểm và chính sách năng lượng của Việt Nam dựa trên sự hài hòa giữa
Mở rộng đầu tư và trao đổi hàng hoá, dịch vụ liên quan đến năng lượng. Có chính
sách ưu đãi về tài chính và mở rộng hợp tác quốc tế để tăng cường công tác tìm
kiếm thăm dò nhằm nâng cao trữ lượng và khả năng khai thác than, dầu, khí đốt,
năng lượng mới và tái tạo.
Thứ hai, cần coi trọng vai trò của quy hoạch phát triển ngành công nghiệp và
quy hoạch xây dựng đô thị trong sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Theo
6
đó, cần xây dựng một quy hoạch chung nhằm đảm bảo an ninh năng lượng quốc
gia.
Thứ ba, đẩy mạnh phát triển nguồn năng lượng tái tạo, như: mặt trời, gió,
thủy điện, sinh học, đại dương…
Thứ tư, vướng mắc lớn nhất của các doanh nghiệp hiện nay đó là việc huy
động vốn để đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị theo hướng tiết kiệm năng lượng. Vì
vậy, Bộ Công Thương cần phối hợp với các sở, ban, ngành, các trung tâm tiết kiệm
năng lượng tạo cơ chế nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn khi thực
hiện các hoạt động tiết kiệm năng lượng. Đồng thời, hỗ trợ các doanh nghiệp giảm
thiểu tối đa chi phí năng lượng trong bối cảnh sản xuất khó khăn và chi phí năng
lượng đang tăng cao.
Thứ năm, ngoài việc tuyên truyền rộng rãi, tăng cường tư vấn để người dân
và doanh nghiệp có ý thức và nắm vững các giải pháp tiết kiệm năng lượng, Chính
phủ phải có chế tài xử lý nghiêm minh, kiểm tra, giám sát tiêu thụ điện ở các doanh
nghiệp. Có chính sách giá bán điện hợp lý theo giờ cao điểm, thấp điểm; giá điện
theo mùa và theo nhóm đối tượng sử dụng.
Thứ sáu, từng bước loại bỏ rào cản về thể chế, cơ chế tài chính cho đầu tư
năng lượng mới và tái tạo, khai thác hiệu quả nguồn thu từ cơ chế phát triển sạch.
Đẩy mạnh tăng cường hợp tác quốc tế, xây dựng chính sách, giải pháp thích hợp
cho chương trình sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả.
tận, tiêu thụ điện năng nước ta luôn tăng trong những năm qua. Tuy vậy việc sử
dụng năng lượng vẫn thiếu hiệu quả và lãng phí. Chính vì vậy nước ta đang ở trong
tình trạng thiếu năng lượng ảnh hưởng rất nhiều tới quá trình phát triển đất nước và
sinh hoạt của nhân dân. Vì vậy việc tiết kiệm năng lượng cần thực hiện ngay ở mỗi
tổ chức, doanh ngiệp, mỗi gia đình và trở thành ý thức tự giác của mỗi thành viên,
mỗi thế hệ trong gia đình.
8
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NHÀ MÁY LUYỆN GANG CỦA TẬP ĐOÀN
HÒA PHÁT
2.1: Giới thiệu chung về nhà máy luyện gang khu liên hợp Hòa Phát
Khu liên hợp sản xuất gang thép Hòa Phát ( thuộc Công ty Cổ phần Tập
Đoàn Hòa Phát) được đầu tư xây dựng có trên diện tích 132 ha, Khu liên hợp gang
thép Hòa Phát tại Kinh Môn, Hải Dương bao gồm một tổ hợp khép kín từ Nhà máy
chế biến nguyên liệu, Nhà máy sản xuất than coke và nhiệt điện, Nhà máy luyện
gang, Nhà máy luyện thép đến Nhà máy cán thép và nhiều khu phụ trợ khác. Hệ
thống nhà máy trong khu liên hợp là một dây chuyền đồng bộ khép kín, sản phẩm
của nhà máy này là nguyên liệu đầu vào của nhà máy kia. Dự án được xây dựng
một cách đồng bộ nhằm tối ưu hóa chuỗi giá trị gia tăng trong các công đoạn của
chu trình luyện kim, được đánh giá là đầu tư một cách bài bản, có tính đồng bộ,
hiện đại và quy mô lớn nhất tại Việt Nam hiện nay.
Dự án có công suất 850.000 tấn/năm được chia thành 02 giai đoạn với tổng
mức đầu tư khoảng 8000 tỷ đồng. Trong đó giai đoạn I có công suất 350.000
tấn/năm đã chính thức cho ra lò sản phẩm thép xây dựng đầu tiên vào cuối năm
2009. Giai đoạn II có công suất khoảng 500.000 tấn/năm cho ra sản phẩm đầu tiên
vào tháng 10/2013. Sản phẩm của KLH là phôi thép, thép xây dựng thành phẩm các
loại (gồm cả thép thanh và thép cuộn) với mác thép cao lên đến D55.
Giai đoạn 1 của khu liên hợpđược triển khai năm 2007 bao gồm : Nhà máy
5
Phòng trộn
Bặng tải và gian sàng nguội
6
7
8
Nhà
hành
chính
Chức năng
Máy thiêu kết
Thiêu kết các loại quặng
Phối liệu và lọc bụi quặng Cấp than cho gian phối liệu, pha
hồi
trộn nguyên liệu và quặng không
đạt tiêu chuẩn mang phối liệu lại
3
9
10
11
12
Đúc
Máy đúc gang
15
16
17
Nhà điều hành
Nhà ăn
Garage ô tô
Đúc gang nóng thành gang thỏi và
lọc bụi khi ra gang
2.2: Thống kê phụ tải trong nhà máy
Nhà máy có một diện tích khá lớn bao gồm các phân xưởng và phụ tải được thống
kê như sau:
10
11
Bảng 2.2: Bảng thống kê phụ tải
STT
Tên phân xưởng và phụ tải
Pđ, kW
570
2250
5
Băng tải làm mát và gian sàng nguội
360
6300
6
Lọc bụi đầu máy
1280
7200
7
Lọc bụi đuôi máy
750
2700
8
12
Nạp liệu và lọc bụi trung chuyển
1090
9000
13
Bơm xối xỉ
320
1800
14
Máy đúc gang
140
4500
15
Nhà điều hành
150
Cho đến nay, Hòa Phát là doanh nghiệp thép xây dựng duy nhất ở Việt Nam
thành công với công nghệ lò cao liên động khép kín từ quặng sắt đến thép thành
phẩm, hay còn gọi là sản xuất thép từ thượng nguồn. Bộ phận lò cao có cấu trúc đặc
thù của một lò luyện kim bao gồm đỉnh lò thân lò và đáy lò. Chiều cao rung bình
của lò khoảng 45m dung tích chứa 350 m 3, trợ đốt bằng 3 lò gió nóng tạo áp lực gió
để hỗn hợp nguyên nhiên liệu quặng + than cốc + trợ dung lơ lửng trong không gian
lò và cháy đến khi quạng và xỉ lò cháy liên kết với nhau thành giọt lỏng gang + xỉ
sẽ rơi xuống đáy lò.
Có thể hiểu đơn giản quy trình sản xuất thép từ thượng nguồn qua 4 bước:
Đầu tiên quặng sắt thô các loại sẽ được đưa vào nhà máy chế biến nguyên liệu để
loại tạp chất, tăng hàm lượng sắt và viên thành dạng cục tròn; quặng sắt vê viên,
than cốc (coke), vôi và phụ gia khác được đưa vào lò cao để nấu lỏng thành nước
gang; Gang lỏng từ lò cao sẽ được chuyển sang các lò tinh luyện của Nhà máy
luyện thép để cho ra phôi đảm bảo tiêu chuẩn; và cuối cùng, phôi vừa ra lò được
13
chuyển ngay sang Nhà máy cán để cho ra thép xây dựng thành phẩm, hoàn thành
chu trình sản xuất khép kín.
Chế biến nguyên liệu:
Đầu tiên, quặng sắt được chế biến và tuyển lựa đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật.
Quặng tổng hợp các loại có độ hạt chưa phù hợp sẽ được đưa vào lò thiêu kết và vê
viên để tạo cục phù hợp trước khi đưa vào lò cao. Trong công đoạn tạo cục này, các
phụ gia như vôi, dolomite sẽ được thêm vào để tạo tính trợ dung cho phù hợp.
Luyện gang:
Sau khi quặng sắt được tạo cục, cùng với than coke được nạp qua đỉnh lò để đưa
vào lò cao. Gió lạnh được gia áp thổi qua lò gió nóng và được dẫn qua các mắt gió
phun vào lò cao. Một phần nhiên liệu được phun dẫn kết hợp thông qua các mắt gió
phun vào lò. Gió nóng kết hợp với than cốc và nhiên liệu phun tạo ra các phản ứng
Hình 2.3: Dây chuyền sản xuất gang khép kín của Công ty Hòa Phát
15
Hình 2.4: Quy trình công nghệ khu liên hợp gang thép Hòa Phát
2.3.2 : Phân tích đánh giá công nghệ
Xét về công nghệ, ưu điểm của công nghệ lò thổi ôxy (BOF) Hòa Phát đang
sử dụng là khả năng tiêu thụ điện năng thấp hơn so với công nghệ đang được đa số
doanh nghiệp ngành thép Việt Nam sử dụng, lò điện (EAF). Ước tính, điện năng
tiêu thụ trên mỗi tấn thép sản xuất từ công nghệ BOF thấp hơn từ 10-15% so với
công nghệ EAF. Ngoài ra, Hòa Phát có khả năng tự chủ được khoảng 40% nhu cầu
điện năng cho Khu liên hợp gang thép nên cũng ít bị ảnh hưởng bởi việc tăng giá
điện so với các công ty khác trong ngành. Do đó, mặc dù chi phí điện chỉ chiếm
chưa đến 5% giá thành sản xuất thép nhưng cũng góp phần cũng cố hơn nữa lợi thế
về giá thành của Hòa Phát so với các công ty khác trong ngành.
Hoặc với đặc thù luyện gang công nghệ lò cao và công nghệ lò thổi ô-xy sẽ
sinh ra một lượng lớn khí CO, toàn bộ khí CO này sẽ được thu hồi một cách triệt để
tích trữ trong hai bồn chứa có dung tích 80.000m3 nhằm quay lại sử dụng làm nhiên
liệu đốt thay vì sử dụng nhiên liệu LPG hay dầu FO cho các công đoạn sản xuất
khác, chẳng hạn nung vôi làm phụ gia tạo xỉ, sản xuất quặng vê viên (pellet)… Một
16
cải tiến khác là hầu hết các lò gia nhiệt phôi thường được đốt bằng dầu FO thì Hòa
Phát lại sử dụng hệ thống 10 lò khí hóa than để sản xuất khí CO từ than anthracite
làm nhiên liệu cung cấp cho các lò gia nhiệt của các nhà máy cán, tiết kiệm đến
50% chi phí nhiên liệu cho công đoạn cán thép.
không đáng kể về thiết bị và vốn đầu tư, vì vậy có hiệu quả rất cao. Khi phải đứng
trước sự lựa chọn thì các giải pháp này được ưu tiên hàng đầu.
3.1.1: Trang bị kiến thức vận hành hợp lý thiết bị cho các phân xưởng
Cũng như bất kì một thiết bị nào khác, các thiết bi máy móc dùng điện cần
phải được vận hành theo một quy trình kĩ thuật phù hợp, điều đó đòi hỏi người sủ
dụng cần phải được trang bị nhựng kiến thúc cơ bản về các phương pháp sử dụng
điện hợp lý, an toàn và tiết kiệm. Để có thể thực hiện tốt giải pháp này trước hết cần
phải :
-
có những tài liệu hướng dẫn, giáo trình dễ hiểu, đơn giản, hấp dẫn và đáp
ứng được đầy đủ những yêu cầu kỹ thuật cần thiết.
-
Xây dựng quy trình, quy phạm sử dụng điện phù hợp với quy trình công
nghệ sản suất và hướng dẫn cho người sử dụng thực hiện.
18
-
Thường xuyên tổ chức tập huấn tyên truyền thực hiện tiết kiệm điện, nâng
cao nhận thức cho người lao động. Quy định thời gian đóng ngắt cho các
thiết bị như quạt điện, đèn chiếu sáng khi hết ca, giờ ăn trưa.
-
Thực hiện giao khoán định mức sử dụng điện cho từng phân xưởng, công
19
đòng thời nâng cao hiệu quả sử dụng của các thiết bị đọc lập. Để san bằng đồ thị
phụ tải cần tăng cường sử dụng điện vào giờ thấp điểm và hạn chế sử dụng điện ở
những giờ cao điểm. Điều đó được thể thực hiện với các giải pháp sau:
-
Lắp đặt công tơ nhiều giá điện cho các hộ tiêu thụ điện. Giá điện rẻ áp dụng
đối với điện năng tiêu thụ ở giờ thấp điểm và giá cao cho giờ cao điểm. Đặc
biệt đối với các hộ dùng điện sản xuất, ngoài công tơ tác dụng cần phải lắp
thêm cả công tơ phản kháng.
-
Bố trí hợp lý các quy trình công nghệ sản xuất: Các thiết bị tiêu thụ công suất
lớn cần bố trí hoạt động vào các giờ thấp điểm.
-
Sắp xếp các quy trình theo ca sao cho có thể hạn chế sử dụng điện vào giờ cao
điểm. Các phân xưởng sản xuất phải lập kế hoạch ản xuất phù hợp, có sự liên
kết, hỗ trợ nhau để đạt được đồ thị san phẳng.
3.1.4: Giảm dòng điện rò trên đường dây
Sứ cách điện được coi là một phần tử chủ yếu của đường dây, trong quá tình
vận hành dưới sự tác động của các yếu tố khí hậu và môi trường, bề mặt dần dần bị
rạn nứt, bụi bẩn dẫn đến sự dò điện. Dòng điện rò có thể đạt giá trị lớn làm tăng tổn
thất điện năng. Vì vậy cần pahir kiểm tra định kì cách điện và làm vệ sinh, lau sạch
3.2.1: Tiết kiệm điện trong chiếu sáng
Yêu cầu chiếu sáng nhà xưởng
- Đủ độ sáng (độ rọi).
- Độ hoàn màu.
- An toàn điện.
- An toàn cháy nổ.
- Bền bỉ với môi trường sản xuất.
- Tiết kiệm, kinh tế.
Chi phí điện năng trong chiếu sáng chiếm khoảng trên 30% tổng chi phí điện
năng của các nhà máy, xí nghiệp. Việc lựa chọn hợp lý mức mức chiếu sáng là một
biện pháp tiết kiệm điện hữu hiệu.
Giải pháp đơn giản nhất là tận dụng các nguồn sáng tự nhiên, giảm thiểu việc
sử dụng thiết bị chiếu sáng. Tuy nhiên khi bắt buộc phải sử dụng nguồn sáng nhân
tạo thì phải có giải pháp để tiết kiệm điện năng trong chiếu sáng. Nhằm hạn chế
lãng phí điện năng, sử dụng điện năng tiết kiệm nhưng vẫn đảm bảo chiếu sáng
phục vụ sản xuất hệ thống đèn sợi đốt cũ không tiết kiệm điện đã được thay bằng hệ
thống đèn huỳnh quang, huỳnh quang compact , đèn LED tiết kiệm điện.
21
Sử dụng thiết bị chiếu sáng có hiệu suất phát sáng cao
Giải pháp này là giải pháp thay thế các thiết bị chiếu sáng bởi các thiết bị
chiếu sáng mới có tổn thất thấp hơn nhằm tiết kiệm năng lượng. Trong các thiết bị
chiếu sáng hiện đang được sử dụng thì các bóng đèn sợi đốt có hiệu suất phát sáng
thấp nhất. Nói cách khác nó có sự tổn thất cao nhất. Nguyên nhân chính của hiệu
suất phát sáng thấp là do đèn phát sáng dựa trên nguyên tắc đốt nóng của sợi đốt ở
nhiệt độ cao nên phần lớn điện năng bị biến thành nhiệt năng. Bóng đèn sợi đốt hiện
nay được khuyến cáo là không nên sử dụng cho mục đích chiếu sáng trừ các trường
của đèn. Khi phân tích hoạt động của đèn huỳnh quang dạng ống người ta nhận thấy
tính chất đặc biệt của đèn này sau khi mồi là giảm điện áp cấp vào đèn sẽ làm giảm
công suất tiêu thụ nhưng cường độ phát sáng thì giảm không đáng kể. Cụ thể là khi
điện áp giảm còn 80% điện áp định mức, công suất tiêu thụ sẽ giảm còn 70% định
mức trong khi cường độ sáng của đèn chỉ giảm 5% (còn 95% cường độ sáng định
mức), có nghĩa là hiệu suất phát sáng của đèn tăng lên. Dựa vào tính chất đặc biệt
này người ta đã chế tạo ra các bộ tiết kiệm điện sử dụng cho đèn huỳnh quang. Bộ
điều khiển này sẽ thực hiện việc giảm công suất tiêu thụ của đèn sau khi đèn mồi
xong. Có các bộ tiêu chuẩn chế tạo cho 10 , 20 và 50 đèn 40W. Nhược điểm lớn
nhất của phương án tiết kiệm điện cho đèn huỳnh quang dùng bộ điều khiển này là
hệ thống đèn phải được cấp điện riêng.
3.2.2: Sử dụng thiết bị tiết kiệm điện năng
a. Sử dụng biến tần
Biến tần (Inverter) là thiết bị dùng để điều khiển tốc độ động cơ. Trên thế
giới hiện nay, biến tần được áp dụng rộng rãi trong công nghiệp. Ngoài ý nghĩa về
mặt điều khiển, nó còn có nhiều chức năng khác như khởi động mềm, phanh, đảo
chiều, điều khiển thông minh…Trong đa số trường hợp, việc sử dụng biến tần còn
mang lại hiệu quả kinh tế, giúp tiết kiệm điện.
Hiện nay có rất nhiều hãng sản xuất biến tần, có nhiều loại khác nhau: Loại 1
pha, 3 pha và có nhiều dải công suất khác nhau.
Nguyên lý hoạt động.
Hình 3.1: Nguyên lý cấu tạo của bộ biến tần
23
Đầu tiên, nguồn điện xoay chiều 1 pha hay 3 pha được chỉnh lưu và lọc
thành nguồn 1 chiều bằng phẳng. Công đoạn này được thực hiện bởi bộ chỉnh lưu
cầu diode và tụ điện. Nhờ vậy, hệ số công suất cosphi của hệ biến tần đều có giá trị
24
tiết kiệm tới 50% điện năng tiêu thụ.Bộ biến tần điều tốc (variable speed drive VSD), còn gọi là bộ nghịch lưu, khi dùng cho động cơ cảm ứng xoay chiều sẽ giảm
được điện năng tiêu thụ và thực tế là cắt giảm tiền điện.
Bộ biến tần điều tốc tiết kiệm
đáng kể điện năng tiêu thụ và có thể
dùng cho hầu hết các các ứng dụng có sử dụng động cơ.
Nghe có vẻ đơn giản và thực tế các thiết bị này rất đơn giản và hiệu quả. Tất
cả các động cơ của quạt, bơm, hệ thống thông gió, sưởi ấm và điều hòa không khí
công suất trên 1,1 kW đều cần một bộ biến tần điều tốc.
Qua tính toán với các dữ liệu thực tế, với các chi phí thực tế thì với một động
cơ sơ cấp khoảng 100 kW, thời gian thu hồi vốn đầu tư cho một bộ biến tần là
khoảng từ 3 tháng đến 6 tháng. Hiện nay ở Việt nam đã có một số xí nghiệp sử dụng
máy biến tần này và đã có kết quả rõ rệt.
Nhờ tính năng kỹ thuật cao với công nghệ điều khiển hiện đại nhất (điều
khiển tối ưu về năng lượng) các bộ biến tần giúp tiết kiệm khoảng 44% điện năng.
Nhược điểm của biến tần là chi phí đầu tư , vận hành phức tạp và phát sinh
sóng hài... Do vậy biến tần chỉ nên áp dụng với đặc tính tải thay đổi như truyền
động băng tải , thường xuyên chạy non tải, công suất đủ lớn. Vậy nên việc sử dụng
bộ biến tần sẽ tiện lợi và hiệu quả nhất khi :
-
Trong quá trình sản xuất, phụ tải đầu vào luôn thay đổi.
-
Các thay đổi xảy ra trong quá trình xử lý.
-
máy công tác như cưa gỗ, khuấy trộn, nâng hạ...