Lời cảm ơn
Trong bài viết của em tuy chưa được hoàn hảo, nhưng cũng góp một
phần nói lên được thực trạng nguồn nhân lực tại công ty cổ phần phát triển
phần mềm ASIA và em cũng đã đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục những
vấn đề còn thiếu sót và chưa làm được của công ty về nguồn nhân lực.
Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS : Phạm Quý Thọ và các anh chị
trong công ty cổ phần phát triển phần mềm ASIA đã giúp đỡ em hoàn thành
bài chuyên đề thực tập lần này.
Chuyên đề thực tập: Hoàn thiện công tác tạo động lực cho người lao động tại công ty….
Lời mở đầu
Việt Nam đang trên đà hội nhập tổ chức thương mại WTO, chính vì
thế mà sự cạnh tranh nhau trên thị trường trong và ngoài nước về các mặt
hàng và các loại sản phẩm diễn ra khốc liệt.
Chính do điều này đã làm cho các tổ chức doanh nghiệp luôn phải tập
trung làm việc và làm sao để làm việc có hiệu quả tối ưu và năng suất lao
đông cao nhất. Do đó mà công tác tạo động lực cho người lao động ở các tổ
chức doanh nghiệp được được đưa lên hàng đầu.
Một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định sự thành bại của
doanh nghiệp là con người. Bởi vậy đối với mỗi một doanh nghiệp thì vấn đề
tìm người như thế nào, đào tạo người đó ra sa, làm cách nào để phát huy năng
lực trí tuệ của người lao động để họ có ích nhất cho mình là một câu hỏi mà
bất cứ doanh nghiệp nào cũng cố gắng tìm ra câu trả lời tốt nhất. Bên cạnh sự
phát triển của doanh nghiệp luôn có những doanh nghiệp khác hoạt động với
sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, sự cạnh tranh này không chỉ đơn thuần là
cạnh tranh về sản phẩm, dịch vụ hay khách hàng mà còn có cả sự cạnh tranh
về nguồn nhân lực. Cho nên khi doanh nghiệp có nguồn nhân lực trong tay
của mình thì cần phải biết cách sử dụng họ cho có hiệu quả, tạo được động
lực thúc đẩy họ làm việc. Để làm được điều đó thì doanh nghiệp đã sử dụng
người lao động.
Động lực là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm
việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Động lực được
biểu hiện qua sự nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu mà tổ chức
đưa ra cũng như bản thân người lao động.
Động lực lao động là sự khát khao tự nguyện của người lao động để
tăng cường sự nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức.
Người lao động khi có động lực thúc đẩy họ thì họ sẽ có thể làm việc hết với
những khả năng của mình, họ sẽ cố gắng vươn tới những điều mà họ muốn,
có thể là thăng tiến trong công việc hay có thể tăng thu nhập để đảm bảo cuộc
sống gia đình, nâng cao đời sống vật chất trong sinh hoạt hàng ngày.
Bản chất của động lực lao động được thể hiện qua nhiều khía cạnh:
Sv: Đặng Đình Thông Lớp: Kinh tế lao động 46B
Chuyên đề thực tập: Hoàn thiện công tác tạo động lực cho người lao động tại công ty….
Thứ nhất, động lực gắn liền với công việc, với tổ chức và môi trường
làm việc. Các công việc có thể khác nhau trong những tổ chức khác nhau sẽ
tạo ra các môi trường làm việc khác nhau. Người lao động từ đó mà có động
lực làm việc một cách hiệu quả hơn, năng suất lao động cao hơn.
Thứ hai, động lực lao động không phải đặc điểm mang tính cá nhân.
Động lực lao động ở đây đó là tạo động lực cho cả một tập thể làm việc có
hiệu quả, từ tập thể hiệu quả mà cả các cá nhân đều muốn cống hiến hết mình
cho tập thể đoàn kết cùng nhau xây dựng một kết quả cao trong công việc.
Thứ ba, động lực lao động là một trong những nhân tố quan trọng dẫn
tới tăng năng suất lao động, hiệu quả công việc. Nếu tạo được động lực làm
việc cho người lao động thì họ sẽ làm việc hết sức mình để có thể cống hiến
sức của họ cho tổ chức.
Thứ tư, người lao động nếu không có động lực vẫn có thể hoàn thành
công việc. Những người lao động dù thế nào đi chăng nữa thì họ vẫn cố gắng
hoàn thành công việc mà họ đã được giao, vì đây là yêu cầu tối thiểu trong
công việc. Chỉ khi họ có động lực để làm việc thì công việc mới có hiệu quả
mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các cá nhân trong xã hội ngày càng chặt
chẽ, vai trò của lợi ích xã hội ngày càng trở lên quan trọng. Nếu quá đề cao
lợi ích xã hội mà không chú trọng lợi ích cá nhân, tức là lợi ích chính đáng
của cá nhân không được thoả mãn thì sẽ dẫn đến việc mất đi tính hăng hái,
tích cực của người lao động. Trái lại khi lợi ích cá nhân cao hơn lợi ích tập
thể thì sẽ không có lợi cho tổ chức doanh nghiệp. Một khi lợi ích của cá nhân
được thoả mãn một cách chính đáng thì người lao động sẽ tích cực hơn và tạo
ra năng suất lao động tăng lên. Do đó mà giá trị của sức lao động sẽ tăng lên,
lợi ích của người sử dụng lao động cũng tăng lên.
Sv: Đặng Đình Thông Lớp: Kinh tế lao động 46B
Chuyên đề thực tập: Hoàn thiện công tác tạo động lực cho người lao động tại công ty….
Chính vì thế mà ta phải giải quyết hài hoà quan hệ lợi ích giữa cá nhân
và tập thể, tức là trước hết phải quan tâm đến lợi ích cá nhân là cơ sở động lực
trực tiếp cho sự phát triển của con người và xã hội. Tôn trọng và đảm bảo lợi
ích xã hội cũng là điều cần thiết để đảm bảo lợi ích cá nhân và tập thể.
Lợi ích tinh thần:
Các doanh nghiệp vừa phải đảm bảo lợi ích vật chất cho người lao động
thì cũng phải quan tâm đến lợi ích tinh thần của người lao động bởi vì khi tinh
thần của con người được thoải mái thì con người sẽ hoạt động tốt hơn. Khi họ
được hoạt động trong một tổ chức có điều kiện lao động tốt có chính sách thi
đua khen thưởng và kỷ luật rõ ràng…Đạt được lợi ích vật chất và lợi ích tinh
thần thì tính tích cực chủ động sáng tạo của họ sẽ được phát triển và trở thành
động lực thúc đẩy người lao động làm việc cho doanh nghiệp, làm cho nền
kinh tế xã hội ngày càng phát triển.
1.2. Mối quan hệ giữa động lực, nhu cầu và lợi ích
Trong cuôc sống thì con người có những nhu cầu rất khác nhau, cũng
chính vì vậy mà các nhu cầu của con người cũng rất phong phú và đa dạng,
không những thế nhu cầu của con người thường xuyên biến đổi và không
ngừng tăng lên. Một khi nhu cầu đó được thỏa mãn thì nhu cầu khác lại xuất
hiện với mức cao hơn. Có được sự thường xuyên biến đổi và tăng lên đó là do
ai. Do đó mà thái độ và biểu hiện trong công việc của họ khi làm việc cũng
hoàn toàn khác nhau.
Năng lực của từng người quyết định đến mức độ hiệu quả của công
việc mà họ đang làm có cao hay không? Năng suất làm việc của họ có đạt
được như mong muốn của chính họ và chính tổ chức đề ra hay không? Đây
Sv: Đặng Đình Thông Lớp: Kinh tế lao động 46B
Chuyên đề thực tập: Hoàn thiện công tác tạo động lực cho người lao động tại công ty….
cũng là một điều quyết định đến sự thăng tiến trong công việc để có thể thỏa
mãn hơn về chính bản thân mình.
1.3.2. Yếu tố thuộc môi trường làm việc
Yếu tố về công việc:
Bản chất đặc điểm công việc: khi công việc phù hợp với người lao
động thì điều đó sẽ giúp cho người lao động làm việc tốt hơn, hăng hái hơn.
Ngược lại công việc không phù hợp sẽ làm cho người lao động chán nản và
không hứng thú với công việc thậm chí không mún làm việc. Như thế sẽ làm
cho doanh nghiệp gặp phải nhiều khó khăn trong hoạt động kinh doanh.
Hệ thống công nghệ: Nếu có một hệ thống máy công nghệ thiết bị tốt
và hoàn chỉnh sẽ làm giảm mức độ nặng nhọc cho người lao động đỡ hao tốn
sức lực để có thể làm việc đạt năng suất cao nhất.
Kỹ năng về nghề nghiệp trong công việc thì đòi hỏi lớn nhất trong khi
làm việc là các thao tác cũng như kỹ năng làm việc. Phải có được một tay
nghề tốt để có thể đảm bảo được công việc mà mình phải làm.
Mức độ chuyên môn hóa công việc phải được đề cao để có thể nâng
cao được những sản phẩm đạt chất lượng tốt, các nhân công lao động làm
đúng với nghề nghiệp của họ, không bị trái ngành. Mặt khác, họ còn được
chuyên sau vào một lĩnh vực cụ thể được coi là chuyên môn của họ.
Mức độ phức tạp công việc được biểu hiện qua các độ khó của các công
việc khác nhau, các giai đoạn khác nhau trong cùng một công việc. Những lao
động lành nghề và có trình độ cao được làm những công việc phức tạp hơn để
đảm bảo tính chính xác của các chi tiết, các sản phẩm.
mình nằm ở vị trí nào trong tổ chức đó. Có như thế thì họ mới có thể xác định
được chính xác mình đang ở đâu, được làm gì, không được làm gì?
Sv: Đặng Đình Thông Lớp: Kinh tế lao động 46B
Chuyên đề thực tập: Hoàn thiện công tác tạo động lực cho người lao động tại công ty….
1.4. Sự cần thiết về tạo động lực cho người lao động
Con người ai cũng có nhưng nhu cầu khác nhau cả về vật chất và tinh
thần, nhu cầu vật chất để có thể nuôi sống bản thân và chính gia đình họ có
một cuộc sống ấm no sung túc và hạnh phúc,cũng từ đây mà tinh thần của họ
cũng được cải thiện để phù hợp với cách sống hiện tại của con người.Họ
muốn được thoả mãn những gì mà họ đã bỏ công sức ra. Những gì mà họ
cống hiến sẽ thuộc về họ.
Lợi ích của người lao động là rất quan trọng, các nhà quản lý đã kích
thích họ làm việc bằng cách kích thích tinh thần và cả vật chất. Có như thế thì
con người mới có được động lực để làm việc với tất cả những khả năng của
mình. Họ có tinh thần làm việc thoải mái, lợi ích mà họ thu được đủ để trang
trải cuộc sống hàng ngày của gia đình.
Tất cả những việc người lao động đã làm thì họ chỉ mong được thoả
mãn nhu cầu và lợi ích từ các công tác tạo động lực từ cấp lãnh đạo. Bởi cấp
lãnh đạo luôn là người hoạch ra cho họ con đường giúp họ đến sự thành công
trong cuộc sống cũng như trong công việc.
2. Các học thuyết tạo động lực trong lao động
2.1. Hệ thống nhu cầu của Maslow
Maslow cho rằng con người có rất nhiều nhu cầu khác nhau mà họ khao
khát được thoả mãn. Maslow chia các nhu cầu đó thành năm loại và sắp xếp
theo thứ bậc như sau:
- Các nhu cầu sinh lý là các đòi hỏi cơ bản về thức ăn, thức uống, chỗ ở
và ngủ và các nhu cầu cơ thể khác.
- Nhu cầu an toàn là nhu cầu được ổn định, chắc chắn, được bảo vệ khỏi
các điều bất trắc hoặc nhu cầu tự bảo vệ.
Sv: Đặng Đình Thông Lớp: Kinh tế lao động 46B
Đó là các yếu tố thuộc về công việc và về nhu cầu bản thân của người
lao động. Khi các nhu cầu này được thoả mãn thì tạo nên động lực và sự thoả
mãn trong công việc.
Nhóm 2: bao gồm các yếu tố thuộc về môi trường tổ chức như:
- Các chính sách và chế độ quản trị công ty
- Sự giám sát công việc
- Tiền lương
- Các quan hệ con người
- Các điều kiện làm việc
Theo Herzberg, các yếu tố này mang tính chất tích cực thì sẽ có tác
dụng ngăn ngừa sự thoả mãn trong công việc. Tuy nhiên, nếu chỉ riêng sự
hiện diện của chúng thì không đủ để tạo ra động lực và sự thoả mãn trong
công việc.
Học thuyết này chỉ ra được một loạt các yếu tố tác động tới động lực và
sự thoả mãn của người lao động, đồng thời cũng gây được ảnh hưởng cơ bản
tới việc thiết kế và thiết kế lại công việc ở nhiều công ty. Tuy nhiên, các nhà
nghiên cứu phê phán học thuyết này không hoàn toàn phù hợp với thực tế vì
trên thực tế, đối với một người lao động cụ thể, các yếu tố này hoạt động
đồng thời chứ không tách rời nhau như vậy.
2.3. Học thuyết kỳ vọng của Victor Vroom
Victor Vroom nhấn mạnh mối quan hệ nhận thức: con người mong đợi
cái gì? Theo học thuyết này, động lực là chức năng của sự kỳ cọng của cá
nhân rằng: một sự nỗ lực nhất định sẽ đem lại một thành tích nhất định và
thành tích đó sẽ dẫn đến những kết quả hoặc phần thưởng như mong muốn.
Học thuyết này gợi ý cho nhà quản lý rằng cần phải làm cho người lao động
hiểu được mối quan hệ trực tiếp giữa nỗ lực – thành tích; thành tích - kết quả/
Sv: Đặng Đình Thông Lớp: Kinh tế lao động 46B
Chuyên đề thực tập: Hoàn thiện công tác tạo động lực cho người lao động tại công ty….
phần thưởng cũng như cần tạo nên sự hấp dẫn của các kết quả / phần thưởng
đối với người lao động.
điểm xảy ra hành vi và thời điểm thưởng / phạt càng ngắn bao nhiêu thì càng
có tác động tích cực, loại trừ những hành vi ngoài ý muốn của ngưởi quản lý
nhưng có thể gây ra những hiệu quả tiêu cực, do đó đem lại ít hiệu quả hơn so
với thưởng. Để tạo được động lực cho người lao động, người quản lý cần
quan tâm đến các thành tích tốt và thưởng cho thành tích đó. Sự nhấn mạnh
các hình thức thưởng sẽ đem lại hiệu quả cao hơn sự nhấn mạnh các hình thức
phạt.
3. Các phương hướng tạo động lực trong lao động
3.1. Xác định nhiệm vụ và tiêu chuẩn thực hiện công việc cho nhân viên
3.1.1. Xác định mục tiêu hoạt động của tổ chức và làm cho người lao
động hiểu rõ mục tiêu đó
Với mỗi tổ chức doanh nghiệp nào cũng vậy, họ cần đặt ra những mục
tiêu rõ ràng. Có đạt được mục tiêu thì mới thành công được trong kinh doanh,
chính vì thế mà tổ chức doanh nghiệp cần làm cho người lao động nắm rõ về
những mục tiêu này, những người lao động cần hiểu họ sẽ phải làm gì cho
doanh nghiệp hay là họ có thể đóng góp được gì cho tổ chức doanh nghiệp.
Một khi họ hiểu được mục tiêu của công ty, hiểu được mình cần phải
làm những gì, làm như thế nào để có thế đóng góp vào cho tổ chức doanh
nghiệp thì họ sẽ chủ động làm việc hết theo năng lực của họ để có thể đóng
góp công sức của mình cho tổ chức doanh nghiệp.
3.1.2. Xác định nhiệm vụ cụ thể và các tiêu chuẩn thực hiện công việc cho
người lao động
Sv: Đặng Đình Thông Lớp: Kinh tế lao động 46B
Chuyên đề thực tập: Hoàn thiện công tác tạo động lực cho người lao động tại công ty….
Đặt ra nhiệm vụ cụ thể cho người lao động để cho họ có tinh thần trách
nhiệm hơn trong khi làm việc cũng như bắt buộc họ phải thực hiện những
công việc được giao từ trước và đồng thời có điều kiện làm việc tốt hơn cũng
như các vấn đề có liên quan .
Không những thế mà người lao động còn phải hiểu và nắm rõ những
tiêu chí cụ thể về số lượng và chất lượng của công việc để mình có thể biết và
những biện pháp nhằm đảm bảo được những nguồn chi phí hợp lý mà không
xảy ra tình trạng thâm hụt ngân sách của tổ chức. Các khoản chi phí phải phù
hợp với những chức năng chính, tránh lãng phí những thiết bị làm việc không
cần thiết.
3.2.2. Cần tuyển chọn và bố trí người phù hợp để thực hiện công việc
Mỗi người trong tổ chức đều có những khả năng làm việc khác nhau,
họ có trình độ có thể giống nhau nhưng khi làm việc thì mỗi người có những
sở trường làm việc khác nhau, do đó mà người quản lý cần tuyển chọn người
cho hợp lý để tránh tình trạng kém hiệu quả của người lao động.
Phải bố trí đúng chỗ cho người lao động thực hiện công việc để họ có
thể căn cứ vào những yêu cầu của công ty mà làm việc có hiệu quả tốt hơn.
Chính vì điều này mà tổ chức doanh nghiệp sẽ động viên được người lao động
có được sự đóng góp của người lao động ở mức cao nhất.
3.3. Kích thích lao động
3.3.1. Sử dụng tiền công/tiền lương như một công cụ cơ bản để kích thích
vật chất đối với người lao động
3.3.1.1. Kích thích vật chất thông qua tiền lương
Tiền lương là một khoản tiền mà người lao động nhận được từ người sử
dụng lao động sau khi hoàn thành một công việc nhất định đã được giao.
Sv: Đặng Đình Thông Lớp: Kinh tế lao động 46B
Chuyên đề thực tập: Hoàn thiện công tác tạo động lực cho người lao động tại công ty….
Toàn bộ tiền lương của đơn vị, công ty, xí nghiệp trả cho người lao động
là động lực vốn có tạo ra năng suất lao động cao, hiệu quả làm việc tốt, vươn
tới tầm cao của tài năng, của năng lực sáng tạo góp phần thúc đẩy nhân tài
phát triển. Khi tiền lương quá thấp sẽ không tạo được động lực cho người lao
động làm việc thì họ có thể rời bỏ công ty và tìm một công ty có mức lương
cao hơn. Trong nền kinh tế thị trường thì sức lao động chính là hàng hoá,
người lao động bán sức lao động của mình cho người sử dụng lao động và
nhận lại từ người lao động một khoản tiền gọi là tiền lương hay tiền công.
Tiền lương có vai trò rất lớn trong việc tạo động lực trong lao động và cũng là
đúng với sức lao động mà người lao động đã bỏ ra, bảo đảm tính công bằng
với mọi thành viên trong tổ chức doanh nghiệp.
3.3.1.2. Kích thích vật chất thông qua tiền thưởng
Hệ thống tiền thưởng đóng một vai trò quan trọng trong việc kích thích
người lao động làm việc tốt hơn, đạt hiệu quả cao hơn trong lao động. Người
lao động một khi hoàn thành nhiệm vụ của mình thì họ có thể có những nỗ
lực hơn nữa của bản thân để làm sao có thể nâng cao hơn những hiệu quả
công việc. Như thế sẽ làm cho họ có được sự tin tưởng trong công việc mà họ
đang làm. Không những thế, chính sách tiền thưởng cho họ nếu hoàn thành
xuất sắc công việc được giao đã thúc đẩy họ làm việc với tất cả những gì mà
họ có thể làm.
Tiền thưởng là số tiền mà doanh nghiệp tổ chức trả cho người lao động
hoàn thành mức công việc ngoài mức quy định. Tiền thưởng thường được
doanh nghiệp tổ chức trả vào cuối năm để ghi nhận những thành tích xuất sắc
cho từng cá nhân cũng như là tập thể hoàn thành vượt mức quy định. Đây
cũng được coi là thu nhập thêm của người lao động để họ có thể đảm bảo
cuộc sống tốt hơn. Như thế sẽ làm cho mức công bằng và tính hợp lý trong
Sv: Đặng Đình Thông Lớp: Kinh tế lao động 46B
Chuyên đề thực tập: Hoàn thiện công tác tạo động lực cho người lao động tại công ty….
doanh nghiệp được nâng cao. Có thưởng nhưng cũng không phải là không
phạt với người đã vi phạm nội quy công ty, có như thế mới làm cho nề nếp
trong công ty được đề cao hơn.
3.3.1.3. Kích thích thông qua các khoản phụ cấp
Phụ cấp là khoản tiền mà tổ chức doanh nghiệp trả cho người lao động
do họ đảm nhận thêm trách nhiệm hoặc do họ phải làm việc trong những điều
kiện khắc nghiệt và không ổn định. Mỗi một công ty có những điều kiện làm
việc khác nhau, ở những môi trường làm việc cũng khác nhau. Thậm chí là ở
trong một doanh nghiệp thì môi trường làm việc cũng hoàn toàn khác nhau.
Những người lao động thì được làm trong văn phòng sang trọng mát mẻ,
nhưng cũng có những người lao động làm việc dưới môi trường độc hại hay
khoản mà bắt buộc người lao động phải làm theo để bảo đảm quyền lợi và tài
sản của mình, đó là tài sản về con người và tài sản về vật chất. Nó đảm bảo
cho người lao động có thể yên tâm cống hiến hết sức mình cho tổ chức doanh
nghiệp.
Phúc lợi tự nguyện là phúc lợi mà các tổ chức doanh nghiệp đưa ra tuỳ
vào khả năng kinh tế của người lao động cũng như sự quan tâm của các cấp
lãnh đạo trong tổ chức doanh nghiệp đó. Đây là các khoản mà nhà tổ chức
đưa ra để khuyến khích người lao động có thể làm việc có hiệu quả và đạt
năng suất cao hơn như họ mong muốn. Vì thế mà các nhà lãnh đạo phải làm
sao cho người lao động hiểu được đây là chỗ mà mình có thể công hiến hết
mình vì đã có những phúc lợi dành riêng cho mình và mình có thể dựa vào đó
để an tâm trong công việc đã được giao.
3.3.3. Sử dụng hợp lý các hình thức khuyến khích phi tài chính
Sv: Đặng Đình Thông Lớp: Kinh tế lao động 46B
Chuyên đề thực tập: Hoàn thiện công tác tạo động lực cho người lao động tại công ty….
Các hình thức khuyến khích phi tài chính nhằm để thoả mãn các nhu
cầu tinh thần làm việc hàng ngày của người lao động, đó cũng là một cách tạo
động lực cho người lao động làm việc hăng say tích cực hơn, hiệu quả hơn và
đạt năng suất cao hơn.
Chúng ta có thể dùng các hình thức khuyến khích tinh thần như:
Thứ nhất, tạo cơ hội cho người lao động học tập, phát triển con người
cho chính họ. Người lao động có rất nhiều nhu cầu muốn được thoả mãn, họ
cũng muốn có thể làm việc một cách hiệu quả cao nhất, như thế họ phải
không ngừng học tập và rèn luyện để nâng cao tay nghề của họ. Có thế thì họ
mới có thế làm việc để cố gắng làm sao có được lợi ích tốt nhất. Vì vậy mà
tạo cơ hội cho người lao động học tập và phát triển cũng là một phương pháp
tạo động lực cho người lao động có thể làm việc theo đúng sức của họ để họ
có thể đạt được những mong muốn của chính họ, có thể mong muốn đó là nhỏ
nhưng lại rất chính đáng với họ.
Thứ hai, đó là tạo cơ hội thăng tiến cho người lao động. Đây là động lực
Con người ai cũng có nhu cầu và những nhu cầu của họ là cực kỳ phong
phú, họ làm việc để thoả mãn hai nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của
mình. Khi người lao động được thoả mãn nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh
thần mà cảm thấy xứng đáng với những gì công sức mình bỏ ra thì họ sẽ cảm
thấy như được thoả mãn cái mà mình đã làm, từ đó tạo động lực cho họ trong
công việc kích thích sản xuất. Ngược lại nếu người lao động không cảm thấy
thoả mãn thì họ sẽ không cố gắng trong công việc và nhiều khi còn sao nhãng
trong công việc hay bỏ bê công việc giữa chừng.
Lợi ích của chính mình là vấn đề rất quan trọng đối với người lao động.
Do đó các nhà quản lý cần động viên người lao động bằng các kích thích vật
Sv: Đặng Đình Thông Lớp: Kinh tế lao động 46B
Chuyên đề thực tập: Hoàn thiện công tác tạo động lực cho người lao động tại công ty….
chất và kích thích tinh thần nhằm tạo động lực cho người lao động tạo ra
những sản phẩm đạt năng suất và chất lượng sản phẩm tốt hơn góp phần nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
4. Vai trò, mục đích và ý nghĩa của tạo động lực
Vai trò:
Đối với người lao động: giúp người lao động có thể hoàn thiện mình
hơn trong công việc. Nắm bắt được thời cơ để có thể tồn tại và phát triển của
chính con người.
Đối với tổ chức doanh nghiệp: giúp cho doanh nghiệp có một nguồn
nhân lực dồi dào và chất lượng cao. Hiệu quả từ việc tạo động lực mang lại
cao, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm tốt hơn, có thể tiết
kiệm được các chi phí phát sinh. Tạo cơ sở giảm giá thành sản phẩm để có thể
cạnh tranh được trên thị trường trong nước cũng như ngoài nước.
Đối với xã hội: góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh và bền
vững hơn. Từ đây mà có thể xây dựng một đất nước phát triển theo xu hướng
của thời đại.
Mục đích:
Mục đích cơ bản và quan trọng nhất của tạo động lực là biết cách sử
Hiện nay với gần 100 cán bộ quản lý, kĩ sư trải trên ba miền đất nước,
kết hợp với hàng chục đối tác là các công ty lớn trên toàn quốc, ASIA đã và
đang khẳng định sức mạnh của mình trên các phương diện:
- Đầu tư phát triển các sản phẩm phần mềm
Sv: Đặng Đình Thông Lớp: Kinh tế lao động 46B