Hoàn thiện hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty Cổ phần Đạt Phương - Pdf 10

LỜI MỞ ĐẦU
Lao động là quá trình hoạt động tự giác, hợp lý của con người, nhờ
đó con người làm thay đổi các đối tượng tự nhiên và làm cho chúng thích
ứng để thỏa mãn nhu cầu của mình. Lao động là điều kiện và cơ bản của sự
tồn tại của con người, vì thế sức lao động của con người giữ vai trò quan
trọng quyết định sự tồn tại của quá trình sản xuất. Tuy nhiên, người lao
động chỉ phát huy hết khả năng của mình khi mà công sức lao động của họ
bỏ ra được đền bù xứng đáng. Đó là số tiền mà người sử dụng lao động trả
cho người lao động, được gọi là tiền lương.
Đối với người lao động, tiền lương là khoản thu nhập chính nhằm
duy trì và nâng cao mức sống cho bản thân và gia đình họ. Còn đối với
doanh nghiệp, tiền lương là công cụ để duy trì và phát triển nhân sự có lợi
cho doanh nghiệp. Làm tốt công tác tiền lương sẽ tạo động lực thúc đẩy
người lao động mang hết tài năng và nhiệt tình phấn đấu vì lợi ích chung
của doanh nghịêp, tạo niềm tin giữa cấp trên với cấp dưới, và giữa các
thành viên trong doanh nghiệp. Gắn chặt với tiền lương là các khoản trích
theo lương, bao gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn.
Đây là các quỹ xã hội thể hiện sự quan tâm của toàn xã hội đến từng thành
viên.
Trong những năm qua, cùng với sự thay đổi mạnh mẽ của nền kinh
tế, Đảng và nhà nước ta có những câi cách về tiền lương như điều chỉnh
mức lương tối thiểu, xây dựng hệ thống thang lương, bảng lương. Mặc dù
vậy vẫn chưa theo kịp sự phát triển của nền kinh tế, thực tế còn nhiều bất
cập. Như vậy, hoàn thiện công tác tiền lương là một yêu cầu khách quan
đối với không chỉ các doanh nghiệp mà còn là vấn đề mà Đảng và nhà
nước rất quan tâm.
Qua thời gian tìm hiểu thực tế tại Công ty Cổ phần Đạt Phương, em
đã nhận thức và hiểu rõ hơn tầm quan trọng của công tác hạch toán tiền
lương và các khoản trích theo lương trong các doanh nghiệp. Với sự hướng
dẫn của thầy giáo Phạm Quang và các anh chị phòng Kế toán – Tài chính
Công ty Cổ phần Đạt Phương, em đã chọn đề tài: “Hoàn thiện hạch toán

Tiền lương có hai hình thức cơ bản: theo thời gian và theo sản phẩm.
Sự khác biệt về tiền lương cho các nhóm công nhân khác nhau dựa trên ba
yếu tố: sự khác biệt về trình độ chuyên môn, năng suất và hiệu quả của lao
động; sự khác biệt về ngành nghề, vị trí quan trọng, sản lượng và hiệu quả
cao thấp khác nhau; sự khác biệt về vùng kinh tế phát triển và thịnh vượng
khác nhau. Sự khác biệt về tiền lương trong một ngành, giữa các ngành và
giữa các vùng có tác dụng thúc đẩy tăng năng suất lao động, nâng cao sản
lượng, sự di chuyển lao động hợp lí giữa các ngành nghề và các vùng. Mặt
khác, sự khác biệt tiền lương cũng phản ánh sự kì thị chủng tộc và giới tính,
và sự đối đãi bất công của các giới chức nắm độc quyền.

Tiền lương
Trong một thị trường cạnh tranh, mức lương được quyết định bởi
quan hệ cung cầu về lao động (xem đồ thị). Đường cong D (nhu cầu lao
động) dốc xuống phản ánh giảm khả năng sản xuất cận biên của lao động khi
có nhiều người cùng lao động. Đường cong S (cung lao động) dốc lên chứng
tỏ mức lương càng cao thì số cung lao động càng lớn; vị trí và độ dốc của S
tuỳ thuộc vào trình độ chuyên môn của công nhân và khả năng di động sức
lao động về địa lí và nghề nghiệp. Mức lương cân bằng L
m
là nối hai đường
cong cung và cầu cắt nhau (E). Tác động của tiền lương vào cung cầu thị
trường lao động còn chịu ảnh hưởng các chính sách của các tập đoàn, Chính
phủ có thể tác động vào thị trường lao động bằng quy định mức lương tối
thiểu và thời gian ngày làm việc tối đa, hoặc chính sách giá và thu nhập. Khi
nền kinh tế vận hành thêo cơ chế thị trường và trong điều kiện cung lao động
lớn hơn cầu lao động thì những quy định về mức lương tổi thiểu là rất quan
trọng. Nhà nước quy định về mức lương tối thiểu nhằm đảm bảo quyền lợi
và lợi ích của người lao động, đây là quy định bắt buộc của người sử dụng
lao động. Tiền lương tối thiểu cần phải đảm bảo nhu cầu tối thiểu về sinh

giá cả sức lao động. Giờ đây, tiền lương không phải chỉ đơn thuần là giá cả
sức lao động nữa mà nó còn bao bao gồm nhiều yếu tố khác. Tiền lương
được hình thành thông qua sự thoả thuận giữa người lao động và người sử
dụng lao động. Khác với trao đổi hàng hoá thông thường, tiền lương là một
phạm trù thuộc lĩnh vực phân phối, do đó nó phải xuất phát từ yêu cầu của
xã hội và do các quy luật xã hội quyết định. Bởi vậy, nguyển tắc trả lương,
hệ số lương mà mức lương cụ thể của từng người lao động cao hay thấp
phụ thuộc vào trình độ phát triển của nền kinh tế trong thời kỷ lịch sử nhất
định. Khi xây dựng chính sách tiền lương phải xuất phát từ những yêu cầu
sau:
Một là: tiền lương phải được giải quyết trong phạm vi toàn bộ nền
kinh tế quốc dân cho tất cả các thành phần kinh tế theo yêu cầu của cơ chế
thị trường.
Hai là: trong sản xuất kinh doanh phải xem xét tiền lương ở hai
phương diện, tiền lương là sự biểu hiện bẳng tiền của chi phí sản xuất kinh
doanh do đó phải tính đúng, tính đủ các yếu tố hợp thành tiền lương. Mặt
khác tiền lương là một bộ phận thu nhập của doanh nghiệp phân phối cho
các thành viên trong doanh nghiệp do vậy tiền lương phải do chính các
doanh nghiệp tự tao ra từ kết quả hoạt động kinh doanh .
Việc trả lương phải kết hợp hài hoà ba lợi ích:
• Đảm bảo cho doanh nghiệp hoàn thành các nghĩa vụ đối với
nhà nước
• Đảm bảo duy trì và phát triển doanh nghiệp ( bảo tồn vốn, tái
tạo tài sản cố định…)
• Đảm bảo đời sống của người lao động
Công tác tổ chức tiền lương cần đảm bảo những yêu cầu sau:
• Đảm bảo tái sản xuất sức lao động và không ngừng nâng cao
đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động.
• Làm cho năng suất lao động không ngừng tăng lên
• Đảm bảo tính đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu

pháp kích thích tinhthần làm việc, tính sáng tạo đối với từng lao đông, phải
rạo cho họ có thu nhập ổn định, trả lương hợp lý gắn kết họ với doanh
nghiệp.
• Nguyên tắc 4: Đảm bảo mối qua hệ hợp lý về tiền lương giữa
những người lao động làm nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân.
Cơ sở của nguyên tắc này là đảm bảo sự công bằng bình đẳng xã hội kết
hợp hài hoà lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội. Muốn vậy công
tác tổ chức tiền lương cần xem xét đến các yếu tố sau:
Trình độ lành nghề bình quân của người lao động ở mỗi ngành nghề khác
nhau là khác nhau. Việc trả lương phù hợp với trình độ chuyên môn sữ
khuyến khích được người lao động tích cực học tập, rèn luyện, nâng cao
trình độ tay nghề và kỹ năng làm việc nhất là trong các ngành nghề đòi hỏi
kiến thức và kinh nghiệm.
Điều kiện lao động ở các ngành nghề khác nhau là khác nhau và sự
khác nhau này phải được phân biệt trong trả lương. Chẳng hạn những
người làm việc trong điều kiện nặng nhọc, độc hại được trả lương cao hơn
so với những người làm việc trong điều kiện bình thường.
Trong nền kinh tế quốc dân gồm rất nhiều ngành khác nhau và ý
nghĩa kinh tế của mỗi ngành phụ thuộc vào điều kện cụ thể trong từng thời
kỳ mà nhà nước có thứ tự ưu tiên nhất định. Nhà nước dùng tiền lương để
thu hút những người lao động trong các ngành có ý nghĩa kinh tế quan
trọng vì những ngành đó có tác động rất lớn tới sự phát triển chung của
toàn bộ nền kinh tế.
Mỗi ngành nghề có thể được phân bổ ở những khu vực địa lý khác
nhau kéo theo sự khác nhau về đời sông vật chất, tinh thần, tập quán sinh
hoạt, giá cả hàng hoá,… Để đảm bảo sự công bằng cần có chính sách
lương, phụ cấp lương xứng đáng.
Nhắc đến tiền lương thì không thể không nhắc tới các khoản trích
theo lương, đó là các khoản trợ cấp cho người lao động trong đó có BHXH.
BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người

và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khoẻ, khám bệnh và chữa bệnh cho
nhân dân. Việt Nam đã ban hành Nghị định số 299 ngày 15.8.1992 về
BHYT. BHYT áp dụng bắt buộc đối với cán bộ, công nhân viên chức, hưu
trí, nghỉ mất sức lao động trong các đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức
Đảng, đoàn thể xã hội, hội quần chúng có hưởng lương từ ngân sách nhà
nước, các doanh nghiệp quốc doanh, kể cả doanh nghiệp liên doanh trong
lực lượng vũ trang, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có thuê từ 10 lao
động trở lên, các doanh nghiệp có liên doanh với nước ngoài và tổ chức
quốc tế tại Việt Nam có thuê lao động là người Việt Nam. Các đối tượng
khác tham gia BHYT tự nguyện. Mức đóng BHYT do cơ quan doanh
nghiệp chịu trách nhiệm phần lớn (khoảng 2/3), cá nhân chỉ đóng phần nhỏ.
Người đóng BHYT được khám, chữa bệnh ở tất cả các cơ sở y tế. Không
được hưởng quyền lợi về BHYT trong trường hợp tự tử, say rượu, dùng
chất ma tuý, vi phạm pháp luật, bệnh lây qua đường sinh dục, v…v.
Quỹ BHYT được sử dụng để thanh toán các khoản tiền khám, chữa
bênh, viện phí thuốc thang…cho người lao động trong thời gian ốm đau,
sinh đẻ. Quỹ này được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ quy định trên
tổng số tiền lương của công nhân viên chức thực tế phát sinh trong tháng.
Tỷ lệ trích BHYT là 3%, trong đó 2% tính vào chi phí kinh doanh và 1%
trừ vào thu nhập của người lao động.
Ngoài ra để có nguồn chi phí cho hoạt động công đoàn, hàng tháng,
doanh nghiệp còn phải trích theo một tỷ lệ quy định với tổng số quỹ tiền
lương, tiền công và phụ cấp (phụ cấp chức vụ, phụ cấp trách nhiệm, phụ
cấp khu vực, phụ cấp thu hút, phụ cấp đắt đỏ, phụ cấp đặc biệt, phụ cấp độc
hại, nguy hiểm, phụ cấp lưu động, phụ cấp thâm niên, phụ cấp phục vụ
quốc phòng, an ninh) thực tế phải trả cho người lao động - kể cả lao động
hợp đồng tính vào chi phí kinh doanh để hình thành KPCĐ. Tỷ lệ trích
KPCĐ theo chế độ hiện hành là 2%.
1.2 Quỹ tiền lương, chế độ tiền lương và các hình thức trả lương của DN
1.2.1 Nội dung quỹ tiền lương

tình hình cụ thể trả lương cho người lao động sao cho vừa đảm bảo hiệu suất
lao động lại không lãng phí công, gây ảnh hưởng đến lợi nhuận chung của
doanh nghiệp.
Để trả lươnng theo thời gian căn cứ vào 3 yếu tố:
• Ngày công thực tế của người lao động
• Đơn giá tiền lương tính theo ngày công
• Hệ số tiền lương (hệ số cấp bậc công việc)
Có 2 chế độ trả lương theo thời gian: Trả lương theo thời gian giản
đơn và trả lương theo thời gian có thưởng.
 Hình thức trả lương theo thời gian giản đơn
Tiền lương theo thời gian giản đơn là tiền lương mà mỗi ngời lao
động nhận đựơc do mức lương cấp bậc cao hay thấp và thời gian làm việc
thực tế ít hay nhiều quyết đinh.
Công thức xác đinh: L
π
= L
cb
x T
Trong đó: L
π
: Tiền lương người lao động nhận được
L
cb
: Tiền lương cấp bậc tính theo thời gian
T : Thời gian làm việc thực tế
Tiền lương theo thời gian giản đơn có thể chia ra:
• Tiền lương tháng: tiền lương tháng là tiền lương trả cố định
hàng tháng trên cơ sở hợp đồng lao động.
• Tiền lương tuần: là tiền lương trả cho mợt tuần làm việc được
xác định trên cơ sở tiền lương tháng nhân (x) với 12 tháng và

1.2.2.2 Hình thức trả lương theo sản phẩm
Hình thức trả lương theo sản phẩm là hình thức tiền lương mà mức
lương căn cứ vào số lượng sản phẩm mà người lao động làm ra, trên cơ sở
đơn giá, và có tính đến chất lượng. Tiền lương theo sản phẩm tạo ra sự quan
tâm đầy đủ hơn về lợi ích vật chất của người lao động đối với kết quả lao
động của họ.
Hiện nay, hình thức này được áp dụng phổ biến vì nó có những ưu
điểm sau:
 Gắn thu nhập của nhân viên với kết quả thực hiện công việc,
đảm bảo sự công bằng làm theo năng lực hưởng theo lao động.
 Khuyến khích người lao động luôn học hỏi, nâng cao trình độ
chuyên môn, cải tiến kỹ thuật phát huy khả năng sáng tạo năng
lực của mỗi thành viên trong doanh nghiệp.
 Nâng cao và hoàn thện công tác quản lý, chủ động trong lao
động
Tuy nhiên khi áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm cần chú ý
tới những vấn đề sau:
 Phải xây dựng được mức lao động có căn cư khoa học. Đây
là điều kiện rất quan trọng, làm co sở để tính đơn giá tiền
lương, xây dựng kế hoạch quỹ lương và sử dụng hợp lý quỹ
tiền lương của doanh nghiệp.
 Đảm bảo tổ chức và phục vụ tốt nơi làm việc
 Làm tốt công tác kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm đảm bảo
sản phẩm sản xuất ra đúng chất lượng.
 Không ngừng giáo dục ý thức trách nhiệm cho người lao động
Có các loại trả lương theo sản phẩm: trả lương theo sản phẩm cho cá
nhân và trả lương theo sản phẩm cho tập thể (tổ, đội... ); trả lương theo sản
phẩm luỹ tiến và trả lương theo sản phẩm có thưởng.
 Trả lương theo sản phẩm cá nhân là hình thức trả lương
được áp dụng đối với những công nhân trực tiếp sản xuất, công việc của họ

lượng sản phẩm hay công việc một tập thể công nhân đã hoàn thành và đơn
giá của một đơn vị sản phẩm hay một đơn vị công việc. Chế độ trả lương
theo sản phẩm tập thể áp dụng cho những công việc đòi hỏi nhiều người
tham gia thực hiện, trong quá trình lao động công việc của mỗi cá nhân có
liên quan tới nhau.
Công thức tính:
Trong đó: L
t
: Tiền lương thực tế cả tổ (nhóm) nhận đựơc
Q
t
: Mức sản lượng hoàn thành thực tế của cả nhóm
Đg : Đơn giá tiền lương cả tổ
L
cb
: Lương cấp bậc của công nhân i
n : Số công nhân trong tổ
Tiền

phạt
Ưu điểm: Khuyến khích công nhân trong tổ, nhóm nâng cao trách
nhiệm trước tập thể, quan tâm đến kết quả sản xuất chung của tổ, nhóm.
Nhược điểm: Tính lương theo sản phẩm tập thể nên sản lượng của
mỗi công nhân không quyết định tiền lương của họ nên dễ dẫn đến tình trạng
chông chờ, ỷ lại.
 Trả lương theo sản phẩm luỹ tiến là việc trả lương trên
cơ sở sản phẩm trực tiếp, đồng thời căn cứ vào mức độ hoàn thành định mức
sản xuất. Mức độ hoàn thanh định mứ sản xuất càng cao thì suất lương luỹ
tiến càng lớn. Nhờ vậy, trả lương theo sản phẩm luỹ tiến sẽ kích thích được
người lao động tăng nhanh năng suất lao động. Trong trường hợp này, doanh

người lao động theo khối lượng và chất lượng công việc mà họ hoàn thành.
Hình thức này thường áp dụng với những công việc có tính chất tổng hợp,
gồm nhiều khâu liên kết, nếu chia thành các chi tiết bộ phận sẽ không có lợi
cho việc đảm bảo chất lượng thực hiện. Toàn bộ khối lượng công việc giao
khoán cho công nhân hoàn thành trong mộ khoảng thời gian nhất định. Tiền
lương được trả cho cá nhân hoặc tập thể dựa vào kết quả đạt được.
Ngoài những quy định về số lượng, chất lượng công việc còn quy
định về thời gian từ khi bắt đầu đến khi kết thúc công việc đó. Việc xác định
đơn giá tuỳ theo từng đối tượng khoán
• Nếu đối tượng khoán là tập thể, việc xác định đơn giá như hình
thức trả lương tập thể, tiền lương sẽ được phân phối cho người lao
động phụ thuộc vào số lượng và chất lượng lao động của họ.
• Nếu đối tượng nhận khoán là cá nhân thì xác định đơn giá như
hình thức trả lương sản phẩm cá nhân, tiền lương được trả bằng đơn
giá nhân với khối lượng công việc.
Trong thực tế hình thức này thường được áp dụng trong các dây
truyền lắp ráp, trong ngành xây dựng, sửa chữa cơ khí…
Ưu điểm: Người lao động có trách nhiệm cao đối với công việc, kích
thích tất cả nhân viên quan tâm đến kết quả cuối cùng của nhóm.
Nhược điểm: Dễ dẫn đến tình trạng người lao động chạy theo doanh
số mà lãng quên chất lượng. Vì vậy, doanh nghiệp phải ấn định thời gian
khoán cho phù hợp vừa đảm bảo số lượng vừa đảm bảo chất lượng công
việc.
Dù theo hình thức trả lương nào thì tiền lương mà công nhân được
nhận cũng bao gồm cả các khoản phụ cấp lương, nó có tác dụng bổ sung cho
chế độ tiền lương nhằm tính đến đầy đủ những yếu tố không ổn định thường
xuyên trong điều kiện lao động và điều kiện sinh hoạt mà khi xác định tiền
lương chưa tính hết. Chế độ phụ cấp lương theo quy định của nhà nước có
các loại sau:
- Phụ cấp khu vực: áp dụng đối với những nơi xa xôi, hẻo lánh, có

bảo đảm cho việc trả lương và BHXH đúng nguyên tắc, đúng chế độ, có tác
dụng khuyến khích người lao động nâng cao năng suất lao động, đồng thời,
tạo điều kiện tính và phân bổ chi phí tiền lương và các khoản trích theo
lương vào giá thành sản phẩm được chính xác. Chính vì vậy, kế toán tiền
lương và các khoản trích theo lương phải thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu
sau:
 Tổ chức ghi chép, phản ánh tổng hợp số liệu về số lượng lao động,
thời gian lao động, kết quả lao động của từng người, từng bộ phận
một cách chính xác, kịp thời.
 Tính và phân bổ chính xác tiền lương và các khoản trích theo lương
cho các đối tượng sử dụng;
 Hưóng dẫn, kiểm tra các nhân viên kinh tế phân xưởng và các
phòng, ban liên quan thực hiện đầy đủ việc hạch toán ban đầu về lao
động, tiền lương theo đúng quy định;
 Lập báo cáo về lao động và tiền lương kịp thời, chính xác;
 Tham gia phân tích tình hình quản lý, sử dụng lao động cả về số
lượng, thời gian, năng suất. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp
thích hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng lao động;
 Phân tích tình hình quản lý. sử dụng quỹ tiền lương, xây dựng
phương án trả lương hợp lý nhằm kích thích người lao động nâng
cao năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, nâng cao chất lượng sản
phẩm.
1.3.1 Thủ tục, chứng từ và tài khoản sử dụng
Để quản lý lao động về mặt số lượng, các doanh nghiệp sử dụng sổ
danh sách lao động. Sổ này do kế toán tiền lương lập (lập chung cho toàn
doanh nghiệp và lập riêng cho từng bộ phận) nhằm nắm chắc tình hình
phân bổ, sử dụng lao động hiện có trong doanh nghiệp. Bên cạnh đó, doanh
nghiệp còn căn cứ vào sổ lao động (mở riêng cho từng người lao động) để
quản lý nhân sự cả về số lượng và chất lượng lao động, về biến động và
chấp hành chế độ đối với lao động.

toán tiền thưởng” cũng được lập tương tự. Sau ki kế toán trưởng kiểm tra,
xác nhận và ký, giám đốc duyệt y, “Bảng thanh toán tiền lương”, “Bảng
thanh toán tiền làm thêm giờ”,…sẽ được làm căn cứ dể thanh toán lương và
các khoản khác cho người lao động. Thông thường, tại các doanh nghiệp,
việc thanh toán lương và các khoản khác cho người lao động được chia làm
hai kỳ: Kỳ 1 tạm ứng và kỳ 2 sẽ nhận số còn lại sau khi đã trừ các khoản
khấu trừ vào thu nhập. Các khoản thanh toán lương, thanh toán BHXH,
bàng kê danh sách những người chưa lĩnh lương cùng các chứng từ và báo
cao thu, chi tiền mặt phải chuyển cho kịp thời cho phòng kế toán để kiểm
tra, ghi sổ.
Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương của người lao động
sử dụng các tài khoản sau:
- Tài khoản 334 “Phải trả người lao động”: dùng để phản ánh tình
hình thanh toán với người lao động của doanh nghiệp về tiền lương, tiền
công, phụ cấp, BHXH, tiền thưởng và các khoản khác thuộc về thu nhập
của họ.
Bên Nợ:
• Các khoản khấu trừ vào tiền công, tiền lương của người lao động.
• Tiền lương, tiền công và các khoản khác đã trả cho người lao động.
Bên Có: tiền lương, tiền công và các khoản khác phải trả cho người
lao động thực tế phát sinh trong kỳ.
Dư Có: tiền lương, tiền công và các khoản khác còn phải trả cho
người lao động.
Dư Nợ (nếu có): số trả thừa cho người lao động.
TK 334 bao gồm 2 TK cấp 2:
TK 3341 “Phải trả công nhân viên”: Phản ánh các khoản phải trả và
tình hình thanh toán các khoản phải trả cho người lao động của doanh
nghiệp về tiền lương, tiền thưởng có tính chất lương, BHXH và các khoản
khác thuộc về thu nhập của họ.
TK 3348 “Phải trả người lao động khác”: Phản ánh các khoản phải

TK 3385 “Phải trả về cổ phần hoá”
TK 3386 “Nhận ký quỹ, ký cược ngắn hạn”
TK 3387 “Doanh thu chưa thực hiện”
TK 3388 “Phải nộp khác”
Trong từng nội dung trên, kế toán lại phân ra phải trả, phải nộp, phải
nộp ngắn hạn khác.
Ngoài ra trong quá trình hạch toán, kế toán còn sử dụng một số TK
khác có liên quan như 111, 112, 138…
1.3.2 Phương pháp hạch toán
Hàng tháng, tính ra tổng số tiền lương và các khoản phụ cấp mang
tính chất tiền lương phải trả cho công nhân viên (bao gồm tiền lương, tiền
công, phụ cấp khu vực, chức vụ, đắt đỏ, tiền thưởng trong sản xuất - kể cả
lương phép trong các doanh nghiệp không trích trước tiền lương phép của
công nhân trực tiếp sản xuất…) và phân bổ cho các đối tượng sử dụng, kế
toán ghi:
Nợ TK 622 (chi tiết đối tượng): phải trả cho công nhân trực tiếp sản
xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện các lao vụ, dịch vụ.
Nợ TK 623 (6231): phải trả công nhân sử dụng máy thi công.
Nợ TK 627 (6271 – chi tiết phân xưởng): phải trả nhân viên quản lý
phân xưởng.
Nợ TK 641 (6411): phải trả cho bộ phận nhân viên bán hàng, tiêu thụ
sản phẩm, lao vụ, dịch vụ.
Nợ TK 642 (6421): phải trả cho bộ phận nhân công quản lý doanh
nghiệp.
Nợ TK 241: phải trả lao động bộ phận xây dựng cơ bản
Có TK 334: tổng số thù lao lao động phải trả
Trích BHXH, BHYT và kinh phí công đoàn theo tỷ lệ quy đinh:
Nợ các TK 622 (chi tiết đối tượng): phần tính vào chi phí nhân công
trực tiếp.
Nợ TK 623 (6231): phần tính vào chi phí sử dụng máy thi công

Nếu thanh toán bằng vật tư, hàng hoá:
- BT1: Ghi nhận giá vốn vật tư, hàng hoá:
Nợ TK 632: ghi tăng giá vốn hàng bán trong kỳ.
Có TK liên quan (152, 153, 154, 155…)
- BT2: ghi nhận giá thanh toán:
Nợ TK 334: tổng giá thanh toán (cả thuế GTGT)
Có TK 512: giá thanh toán không có thuế GTGT
Có TK 3331 (33311): thuế GTGT đầu ra phải nộp
Nộp BHXH, BHYT, KPCĐ:
Nợ TK 338 (3382, 3383, 3384): ghi giảm số phải nộp.
Có TK liên quan (111, 112…)
Chi tiêu kinh phí công đoàn để lại doanh nghiệp:
Nợ TK 338 (3382): ghi giảm kinh phí công đoàn
Có TK 111, 112…: ghi giảm số tiền
Cuối kỳ, kết chuyển số tiền công nhân đi vắng chưa lĩnh:
Nợ TK 334: ghi giảm số phải trả người lao động.

Trích đoạn Phần2: Thực trạng kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty Cổ phần Đạt Phương TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status