MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
“Văn hóa đọc” hiện nay đang là một khái niệm chưa hoàn thiện, ít nhiều
trong chúng ta đã nghe hay đọc khái niệm này ít nhất một lần. Mỗi người có một
quan niệm khác nhau về văn hóa đọc. Có người cho rằng: “Văn hoá đọc là một khái
niệm có hai nghĩa, một nghĩa rộng và một nghĩa hẹp. Văn hoá đọc, theo nghĩa
rộng, đó là nền văn hoá đọc của mỗi quốc gia thể hiện qua chủ trương, đường lối,
chính sách của Nhà nước, của cộng đồng và ý thức của mỗi thành viên trong xã
hội về xây dựng phát triển cơ sở vật chất(thư viện,phòng đọc; xuất bản phát hành
sách,tài liệu...) nhằm phát triển văn hóa đọc. Văn hoá đọc, theo nghĩa hẹp là đọc
có văn hoá, đó là ứng xử đối với việc đọc: thể hiện qua thói quen đọc, sở thích đọc
và kỹ năng đọc của mỗi người đọc” hay “văn hóa đọc là ứng xử, giá trị và chuẩn
mực đọc của mỗi cá nhân”. Như vậy, có thể dễ dàng hiểu, văn hóa đọc là cách thức
ứng xử và đánh giá đọc của mỗi cá nhân thông qua thói quen đọc, sở thích đọc và
kỹ năng đọc của bản thân.
Tại sao văn hóa đọc hiện nay đang được đặc biệt quan tâm? Một thực tế của
xã hội hiện nay đó là sự bùng nổ khoa học công nghệ, con người trở nên “lười” hơn
bởi những công cụ hiện đại. Việc đọc sách cũng vậy, đọc sách online, sách điện tử
(e-book), báo điện tử (e-journal), chính phủ điện tử (e-government), học trực tuyến
(e-learning), v.v… đang trở nên phổ biến hơn, mua sách lậu, giá rẻ, nhanh chóng,
dễ dàng hơn so với việc đến thư viện và tìm kiếm thủ công, mất thời gian và công
sức, có nhiều lúc không thỏa mãn yêu cầu của mình. Do vậy, người ta lo ngại nhiều
vấn đề sẽ dẫn đến văn hóa đọc bị “xuống cấp”, bị “lấn át” và đang dần bị mai một
hay “đọc” sẽ vẫn thắng “xem”, văn hóa đọc không bao giờ triệt tiêu?
Phát triển văn hóa đọc hiện nay không phải là làm tăng số lượng sách, báo
trong xã hội mà làm tăng hiệu quả chất lượng sử dụng chúng. Từ việc phân tích tâm
lý người dùng tin, những ảnh hưởng đến nhu cầu tin của họ, thư viện cần đưa ra
những phương thức giải quyết và nâng cao hiệu quả phục vụ của mình. Bộ Văn hóa
Thể thao và Du lịch đã xây dựng dự thảo đề án “Phát triển văn hóa đọc trong cộng
đồng giai đoạn 2011-2020”. Để phát triển văn hóa đọc cho cộng đồng UNESCO
cũng sáng lập ngày sách quốc tế là ngày 23 tháng 4 hàng năm để cổ vũ phong trào
viên Đại học Quốc Gia Hà Nội” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ ngành Thông
tin – Thư viện của mình.
-8-
2. Tình hình nghiên cứu
"Văn hoá đọc" gần đây đã được nhiều người đề cập với ý nghĩa là một hoạt
động văn hoá của con người thông qua việc đọc sách báo, tài liệu để tiếp nhận và
xử lý thông tin, tri thức một cách khoa học và bổ ích. Văn hoá đọc góp phần to lớn
vào việc bồi dưỡng, nâng cao kiến thức, hình thành và phát triển nhân cách con
người. Để tôn vinh những giá trị mà văn hóa đọc mang lại, đã có bài báo khẳng
định “Đọc sách là hành trình của trí tuệ và tâm hồn”, “Đọc sách là biểu tượng của
văn hóa và văn minh” hay một trang web quen thuộc với bạn đọc đăng tải những
thông tin về vấn đề đọc sách và văn hóa đọc “sachhay.com”. Từ nhiều năm nay, tại
các quốc gia ở châu Âu, Bắc Mỹ, châu Phi các hoạt động quảng bá cho ngày đọc
sách được trình diễn khắp nơi trên đường phố, trên các phương tiện giao thông
cộng cộng, trong giảng đường, thư viện, … Tiêu biểu nghiên cứu văn hóa đọc ở
Đức cho thấy văn hóa đọc Ðức đã có một sự phát triển liên tục, bén rễ sâu xa trong
đời sống xã hội và đời sống tinh thần người Ðức. Hội chợ sách Leipzip, một truyền
thống giao lưu văn hóa đọc từ thế kỷ 17, được tổ chức vào tháng 3 mỗi năm cũng
đang thu hút một số lượng lớn người triển lãm. Trên thế giới đã thiết lập “một ngày
tôn vinh để giữ gìn và phát triển văn hóa đọc” vào 23/04 hàng năm và người Việt
Nam cũng thực sự chờ mong một ngày Tết đọc sách đến cho người Việt.
Bộ Văn Hóa Thể Thao và Du Lịch đã tổ chức cuộc hội thảo với chủ đề
“Định hướng và giải pháp phát triển văn hóa đọc ở Việt Nam”. Ngoài ra, Bộ còn
xây dựng dự thảo Đề án “Phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng giai đoạn 20112020, tầm nhìn 2030” . Đề án là bước cụ thể hóa thực hiện Chiến lược phát triển
văn hóa đến năm 2020 với mục tiêu “Xây dựng phong trào đọc sách trong xã hội,
góp phần xây dựng có hiệu quả thế hệ đọc tương lai”.
Tuy nhiên, không phải ai cũng nhận thấy được tầm quan trọng của văn hóa
và mục đích cuối cùng là đưa ra những giải pháp, chiến lược nhằm phát triển văn
hóa đọc, khẳng định vai trò văn hóa đọc trong đời sống xã hội.
Như vậy, đề tài “Văn hóa đọc của sinh viên Đại học Quốc Gia Hà Nội,” đi
sâu tìm hiểu văn hóa đọc của sinh viên Đại học Quốc Gia Hà Nội để từ đó đưa ra
định hướng phát triển văn hóa đọc cho sinh viên là một nghiên cứu hoàn toàn mới,
chưa có đề tài nào nghiên cứu trước đó.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- 10 -
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích những yếu tố ảnh hưởng tác động
đến văn hóa đọc và nghiên cứu thực trạng văn hóa đọc của sinh viên Đại học Quốc
Gia Hà Nội, tác giả luận văn muốn đưa ra các giải pháp nhằm phát triển văn hóa
đọc cho sinh viên Đại học Quốc Gia Hà Nội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu cơ sở lý luận về văn hóa đọc nói chung và văn hóa đọc của sinh viên
nói riêng.
- Nghiên cứu khái quát đặc điểm của ĐHQGHN và Trung tâm Thông tin thư
viện cùng các khoa của các trường thành viên.
- Nghiên cứu điều kiện sống và học tập của sinh viên ĐHQGHN.
- Nghiên cứu thực trạng văn hóa đọc của sinh viên Đại học Quốc Gia Hà Nội.
- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển văn hóa đọc cho sinh viên Đại học
Quốc Gia Hà Nội.
4. Giả thiết nghiên cứu
Nếu văn hóa đọc của sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội được cải thiện và
phát triển thì sẽ nâng cao được kỹ năng tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên, đồng
thời Nhà trường, các khoa và thư viện sẽ phát huy được hiệu quả tổ chức và hoạt
luận văn có bố cục gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiền về văn hóa đọc của sinh viên Đại học
Quốc Gia Hà Nội
Chương 2: Thực trạng văn hóa đọc của sinh viên Đại học Quốc Gia Hà Nội
Chương 3: Giải pháp phát triển văn hóa đọc cho sinh viên Đại học Quốc Gia
Hà Nội.
- 12 -
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VĂN HÓA ĐỌC
CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
1.1. Những vấn đề lý luận chung về văn hóa đọc
1.1.1. Khái niệm văn hóa đọc
Văn hóa đọc - một bộ phận của Văn hóa – là một trong những động lực thúc
đẩy sự hình thành nên con người mới, những công dân có hiểu biết, có trí tuệ để có
thể thích ứng với sự phát triển của xã hội hiện đại – xã hội dựa trên nền tảng của
nền kinh tế tri thức..
Như vậy, để hiểu về văn hóa đọc trước hết cần làm rõ khái niệm về văn hóa.
Đây là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan
đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người.
Theo Wikipedia định nghĩa “Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của
con người, và như vậy, văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất
của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa,
quần áo, các phương tiện, v.v... Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và
đó là một phần của văn hóa”.
Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Nhà xuất bản Đà Nẵng
và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2004 thì đưa ra một loạt quan niệm về văn
hóa: “Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con
yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
Từ khi chữ viết ra đời, con người bắt đầu có nhu cầu đọc chữ và sách, báo
chính là sản phẩm của công nghệ in ấn phát triển. Sách được đánh giá là nguồn lưu
trữ tri thức, văn hóa của một quốc gia, dân tộc với số lượng lớn, chính xác và dễ
khai thác nhất. Đồng thời, sách còn là cơ sở cho giao lưu văn hóa giữa các nền văn
hóa. Vì vậy, hoạt động đọc của con người ngày càng trở nên phổ biến hơn trong xã
hội. Đọc không còn chỉ là "để biết", để thừa nhận và tiếp nhận tri thức nhân loại mà
là đọc để phát hiện, để chứng minh chân lý. Khi đó, con người định hướng đến
sách, đến các bộ sách, đến các công trình lớn, đến các lý luận và học thuyết. Sự đọc
này ngầm định sự giao tiếp và tranh luận.
Ngày nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ, con người được tiếp thu
mọi lĩnh vực tri thức thông tin qua truyền thanh, truyền hình và các phương tiện
truyền thông khác nhưng sách vẫn giữ vai trò vô cũng quan trọng đối với cuộc
sống. Đọc sách là một hoạt động có tính chất văn hóa của người đọc. Tuy nhiên,
- 14 -
đọc sách gì và đọc như thế nào cũng là một phương diện của văn hóa mà chúng ta
vẫn gọi là Văn hóa đọc.
"Văn hóa đọc" là một khái niệm mới, chưa có định nghĩa cũng như khái
niệm nào nói văn hóa đọc là gì và nó như thế nào? Mặc dù vậy, theo thời gian cũng
như sự phát triển của xã hội, thuật ngữ “văn hóa đọc” ngày càng được nói nhiều
hơn trên các phương tiện thông tin đại chúng và trở thành đề tài khoa học.
Có nhiều quan niệm khác nhau về văn hóa đọc:
Văn hoá đọc là một khái niệm có hai nghĩa, một nghĩa rộng và một nghĩa
hẹp.:
+ Ở nghĩa rộng, đó là ứng xử đọc, giá trị đọc và chuẩn mực đọc của mỗi cá
nhân, của cộng đồng xã hội và của các nhà quản lý và cơ quan quản lý nhà nước.
Như vậy, văn hoá đọc ở nghĩa rộng là sự hợp thành của ba yếu tố, hay chính xác
hơn là ba lớp như ba vòng tròn không đồng tâm, ba vòng tròn giao nhau.
tạo, trí tưởng tượng thì văn hóa đọc lại làm giàu thêm những thứ đó. Đọc sách vẫn
luôn được coi là một cách thưởng thức văn hóa sang trọng và có chiều sâu. Vì thế
chúng ta không cần quá lo lắng việc trong Xã hội phát triển văn hóa đọc sẽ mất đi,
cái cần làm là chúng ta hãy mở rộng hơn những cách tiếp cận việc đọc.
1.1.2. Nội dung của văn hóa đọc
Từ định nghĩa trên, Văn hóa đọc được biểu hiện qua các đặc điểm của người
đọc đó là nhu cầu đọc, thói quen đọc và sở thích đọc, kỹ năng đọc và văn hóa ứng
xử với tài liệu
1. Nhu cầu đọc
Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý trong cấu trúc tâm lý chung của con
người. Nhu cầu đọc là đòi hỏi khách quan của chủ thể (cá nhân, nhóm, xã hội) đối
với việc tiếp nhận và sử dụng tài liệu nhằm duy trì và phát triển các hoạt động sống
của con người. Nói cách khác, nhu cầu đọc là thái độ của chủ thể với việc đọc như
một hoạt động sống không thể thiếu được.
Yêu cầu đọc là biểu hiện cụ thể của nhu cầu đọc. Khi người đọc đã xác định
được đối tượng tài liệu cụ thể thỏa mãn được nhu cầu của mình thì họ đưa ra yêu
cầu tương ứng. Yêu cầu tương tự sễ lặp đi lặp lại nhiều lần ở những đối tượng cụ
thể khác nhau. Tuy nhiên cũng có trường hợp đặc biệt, yêu cầu đọc không phản ánh
nhu cầu mà xuất phát từ những yêu cầu công việc đột xuất. Ví dụ để thực hiện bài
tập của một môn học ở một thời điểm cụ thể nào đó [20, tr. 69].
Nhu cầu đọc bắt nguồn từ yêu cầu tiếp nhận thông tin khi con người tham
gia các hoạt động sống khác nhau, nhưng nó chỉ thực sự hình thành với điều kiện
- 16 -
chủ thể có khả năng giải mã thông tin được mã hóa trong tài liệu. Khi đòi hỏi đối
với việc đọc trở nên cấp bách, thường xuyên, nhu cầu đọc xuất hiện.
Nhu cầu đọc bao giờ cũng gắn liền với số lượng và chất lượng tài liệu được
lưu hành trong một xã hội cụ thể. Thư viện là nơi lưu trữ và truyền tải tri thức
thông qua vốn tài liệu và công tác phục vụ bạn đọc. Vì vậy, nhu cầu đọc là nguồn
chia thói quen thành hai loại là thói quen tốt và thói quen xấu.
Thói quen đọc hay sở thích đọc là một hoạt động hay mối quan tâm của con
người liên quan đến việc đọc sách, báo, tài liệu có tính chất lặp lại nhiều lần trong
thời gian rảnh rỗi nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của bản thân.
Có những thói quen đọc sách bắt nguồn từ việc đọc sách thường xuyên trong
thời gian dài ví dụ như một ngày luôn giành từ 2 đến 3 giờ đề đọc sách hay từ hứng
thú đọc một loại sách nhất định như truyện tranh, tiểu thuyết, sách văn học, sách về
khoa học viễn tưởng, … Vì vậy, nhu cầu đọc và hứng thú đọc là nhân tố kích thích
hoạt động đọc làm cho hoạt động đọc đạt hiệu quả cao (tăng cường sức chú ý,
cường độ đọc cao, có sự tham gia đến mức tối ưu của các quá trình tư duy, tưởng
tượng, trí nhớ) dẫn tới việc thụ cảm tài liệu ở mức độ cao.
Ngày nay, giới trẻ nói chung, sinh viên nói riêng ngày càng tiếp cận nhiều
hơn với các loại hình truyền thông đa phương tiện, trở nên “lười” đọc sách, thư
viện cũng vì vậy ngày càng vắng bóng sinh viên. Bạn đọc có xu hướng tìm kiếm
một cách nhanh chóng, ngắn gọn, dễ hiểu thay vì ngồi đọc, nghiền ngẫm suy nghĩ,
ghi chép thông tin. Như vây, việc hình thành thói quen đọc sách và tạo hứng thú
đọc cần được rèn luyện không chỉ trong môi trường giáo dục gia đình, Nhà trường
mà cả sự quan tâm của Thư viện.
3. Kỹ năng đọc
Việc đọc được miêu tả như một phương tiện giao tiếp và mục tiêu chính của
đọc là hiểu được ý nghĩa của các tài liệu in ấn hoặc các tài liệu viết. Đọc có nghĩa là
“đọc và hiểu”, nhưng để hiểu được các vấn đề đã đọc thì bản thân mỗi người đọc
cần có kỹ năng.
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kỹ năng và thường được nhắc đến
trong đời sống hàng ngày như kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng chuyên
môn, kỹ năng mềm, .... Tuy nhiên hầu hết chúng ta đều thừa nhận rằng kỹ năng
được hình thành khi chúng ta áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Kỹ năng học được
do quá trình lặp đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó một cách
có ý thức. Kỹ năng luôn có chủ đích và định hướng rõ ràng [22, tr.1].
- Thể hiện được tính hệ thống, tính liên tục trong quá trình lựa chọn tài liệu
đọc (đọc từ trình độ thấp lên trình độ cao, từ các vấn đề đơn giản tới phức tạp).
- Biết cách tiếp nhận tối đa và sâu sắc nội dung tài liệu đọc, kể cả cách ngồi,
khoảng cách giữa mắt và tài liệu đọc,v...v...
- 19 -
- Biết vận dụng các biện pháp kỹ thuật để củng cố và đào sâu những nội
dung đã đọc như ghi chép, lập hộp phiếu thư mục, soạn tóm tắt, viết chú giải, trao
đổi với bạn bè, đồng nghiệp...
- Biết vận dụng vào thực tiễn những nội dung đã đọc.
Trong kỹ năng đọc yếu tố nào cũng quan trọng, không được coi nhẹ một yếu
tố nào. Nếu không biết vận dụng các cách đọc khác nhau đối với từng loại tài liệu
đọc, đọc tài liệu nghiên cứu cũng như đọc tài liệu giải trí, không thể tiếp nhận được
nội dung sâu sắc của tài liệu nghiên cứu. Vì mục đích cuối cùng của kỹ năng đọc là
đọc có hiệu quả cao nhất, nắm chắc nội dung cốt lõi và biết vận dụng những điều
đã đọc được vào cuộc sống của chính người đọc [33, tr.3].
Trong giai đoạn hiện nay, giáo dục đại học đã bắt đầu chuyển qua đào tạo
theo học chế tín chỉ đòi hỏi sinh viên hình thành thói quen tích cực tự học. Tức là
sinh viên cần phải “Tự nghiên cứu, tìm tòi- Tự thể hiện- Tự kiểm tra và điều chỉnh”
nhằm hình thành phẩm chất cần cù, nghiêm túc, không ỷ lại, trông chờ, chủ động,
tích cực và sáng tạo. Như vậy, bản thân mỗi sinh viên cần tự rèn luyện cho mình kỹ
năng đọc để có thể đáp ứng được các yêu cầu trong học tập.
4. Văn hóa ứng xử với tài liệu
Ứng xử là sự phản ứng của con người đối với sự tác động của người khác
trong những tính huống xác định. Ứng xử không thể hiện sự chủ động trong giao
tiếp mà chủ động trong phản ứng có sự lựa chọn, tính toán, thể hiện qua thái độ,
hành vi, cử chỉ, cách nói năng - tuỳ thuộc vào tri thức, nhân cách nhằm đạt kết quả
giao tiếp cao nhất.
Vậy, kết hợp với định nghĩa văn hóa ở trên, văn hóa ứng xử là cách mà con
hiện đại, ngoài sách, con người còn tiếp nhận thông tin của các phương tiện đại
chúng như: Truyền hình, phim ảnh, internet…đặc biệt kể từ khi xuất hiện Internet,
chỉ với một chiếc máy tính, con người ta có thể ngồi một chỗ và tìm hiểu văn hóa,
lịch sử, thông tin của cả thế giới. Văn hóa đọc vì thế thay đổi để bắt kịp cuộc sống
hiện đại.
Nhiều ý kiến cho rằng sự phát triển này sẽ khiến cho văn hóa đọc ngày càng
bị lãng quên, con người sẽ “chạy” theo các thiết bị hiện đại làm cho con người nhàn
hơn, ít phải suy nghĩ hơn. Tuy nhiên, nếu nhìn lại sự thay đổi với sự phát triển
nhanh của Xã hội, để bắt nhịp với cuộc sống hiện đại chúng ta cũng nên có một cái
nhìn khách quan hơn với các phương tiện điện tử nói riêng và văn hóa đọc nói
chung. Chúng ta không nên gạt bỏ một công nghệ hiện đại khi mà nó hoàn toàn có
khả năng thúc đẩy sự phát triển văn hóa đọc.
- 21 -
Lứa tuổi
Mỗi giai đoạn lứa tuổi của con người có những đặc điểm tâm lý riêng do
hoạt động chủ đạo chi phối. Tâm lý học phân chia 4 giai đoạn lứa tuổi tương ứng
với những hoạt động chủ đạo có tính chất khác nhau: trước tuổi học; học tập; tham
gia lao động sản xuất; nghỉ lao động.
Các đặc điểm tâm lý lứa tuổi ảnh hưởng khá rõ rệt tới nội dung và phương
thức thỏa mãn nhu cầu đọc.
Trình độ văn hóa
Trình độ văn hóa có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tinh thần của con
người (nhu cầu hiểu biết và nhu cầu thẩm mỹ phát triển).
Là một nhu cầu tinh thần, nhu cầu tin và nhu cầu đọc cũng bị chi phối bởi
trình độ văn hóa của con người (nội dung và phương thức thỏa mãn)
Sự phát triển của khoa học công nghệ
Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, các
phương tiện truyền thông điện tử, tin học đã đem đến rất nhiều tiện ích cho con
Thư viện là kho tàng chứa tất cả của cải tinh thần của loài người
(G.V.Leibniz), là nơi thông tin được tổ chức, nơi dễ dàng tìm thấy thông tin mà tất
cả mọi người cần hoặc muốn. Thư viện bổ sung và cập nhật những kiến thức mới,
những phương pháp giảng dạy tiên tiến làm cho việc học tập và giảng dạy thêm
sinh động và hấp dẫn.. Thư viện chỉ có giá trị khi nó có thông tin và có người biến
thông tin trở nên hữu ích hay nói cách khác thư viện là cầu nối giữa thông tin và
người sử dụng.
Hoạt động của thư viện bao gồm việc tổ chức, quản lý và phát triển tất cả
các sản phẩm và dịch vụ của thư viện như : bổ sung tài liệu, cung cấp tài liệu, khai
thác thông tin, hoạt động tuyên truyền, giới thiệu tài liệu, hội nghị, hội thảo bạn
đọc, …
Mỗi loại hình thư viện phục vụ chuyên sâu cho một loại người đọc xác định
trong xã hội và có mục đích, yêu cầu, nội dung hoạt động không giống nhau. Tuy
nhiên, mục tiêu cuối cùng của hoạt động thư viện là nhằm thu hút số lượng lớn bạn
đọc thuộc mọi trình độ khác nhau, mọi thành phần xã hội, mọi lứa tuổi và giúp họ
thỏa mãn nhu cầu tin của bản thân. Như vậy, để đáp ứng mục tiêu đó, trước hết thư
viện cần nghiên cứu nhu cầu tin và đặc điểm của các nhóm người dùng tin khác
nhau của một thư viện cụ thể. Từ đó thư viện cần đa dạng hóa, hiện đại hóa các loại
hình sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện, tăng cường hướng dẫn sử dụng thư
viện, quảng bá nguồn lực thông tin, vốn tài liệu và dịch vụ thư viện. Việc phát triển
- 23 -
dịch vụ thư viện phải được xem là một trong những giải pháp mang ý nghĩa chiến
lược trong việc xây dựng và phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng trong bối cảnh
của nước ta hiện nay.
Ví dụ như hoạt động tuyên truyền, hướng dẫn việc đọc sách, hướng dẫn sử
dụng thư viện trong học tập đã gây dựng, nuôi dưỡng và định hình thói quen đọc,
giúp hình thành sở thích đọc tích cực, lành mạnh, uốn nắn những sở thích đọc lệch
lạc và góp phần từng bước giáo dục kỹ năng đọc cho người đọc. Quan trọng hơn là
năng lực tư duy độc lập, sự sinh động và hấp dẫn của các buổi học. Từ năm 2010,
phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ đã được áp dụng cho hầu hết các trường
Đại học và Cao Đẳng trong cả nước. Phương pháp dạy và học mới đòi hỏi một số
điều kiện tiên quyết cho phép người học “phát huy nội lực” và người dạy “dạy cách
phát huy nội lực”. Phương pháp này sẽ rút ngắn thời gian giảng dạy lý thuyết trên
cơ sở sinh viên được cung cấp nguồn thông tin dồi dào trước khi lên lớp, tăng thời
gian tự học của sinh viên.
Tự học có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình học tập theo hệ thống
tín chỉ của sinh viên ở các trường đại học hiện nay. Tự học nhằm phát huy tính tự
giác học và nghiên cứu. Đào tạo theo hệ thống tín chỉ xác định rõ trọng tâm của
người học là bắt buộc nhận thức việc tự học của mình là chính.
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ đòi hỏi sinh viên phải hình thành kỹ năng tự
học và tự nghiên cứu. Muốn thực hiện tốt vấn đề liên quan đến học tập, sinh viên
phải tự đến thư viện tìm tài liệu liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu, thảo luận.
Thư viện có đầy đủ sách báo, tài liệu điện tử, vv... về mọi lĩnh vực tri thức trong
chương trình đào tạo của nhà trường. Những điều sinh viên phát kiến, tìm tòi được
sẽ khắc sâu vào tâm trí của sinh viên, vì đó là những điều họ tự tìm ra chứ không
phải là những điều mà họ phải cố nhớ. Từ đó sinh viên sẽ tự hình thành cho mình
thói quen đọc sách và văn hóa đọc tốt đẹp.
Vì vậy, để phát huy hiệu quả của mô hình đào tạo theo hệ thống tín chỉ,
ngoài nỗ lực từ phía nhà trường trong việc xây dựng chương trình đào tạo phù hợp,
đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cấp cơ sở vật chất, sắp xếp lại hệ thống và
quy trình quản lý thì bản thân mỗi sinh viên phải chủ động trong học tập, tự xây
dựng cho mình kế hoạch học tập riêng, xây dựng kỹ năng đọc phù hợp với năng lực
học tập, hoàn cảnh gia đình và sở thích cá nhân.
- 25 -
1.2. Khái quát về Đại học Quốc Gia Hà Nội
- 26 -
- Nghiên cứu khoa học nhằm phát triển khoa học - công nghệ và giải quyết
các vấn đề thực tiễn do kinh tế - xã hội nước ta đặt ra, tham gia tư vấn các vấn đề
chiến lược, chính sách và các giải pháp phát triển khoa học - công nghệ, giáo dục đào tạo, kinh tế - xã hội cho các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước ở Trung ương và
địa phương, kết hợp chặt chẽ đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất, dịch vụ
khoa học - công nghệ.
- Quản lý, điều hành sử dụng, chia sẻ các nguồn lực và cơ sở vật chất dùng
chung trong Đại học quốc gia đảm bảo tính hữu cơ, đồng bộ và hiệu quả; huy động
nguồn lực của xã hội để xây dựng Đại học quốc gia thành trung tâm đào tạo, nghiên
cứu khoa học đạt chuẩn quốc tế.
1.2.3. Cơ cấu tổ chức của Đại học Quốc gia Hà Nội
ĐHQGHN hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao; được làm
việc trực tiếp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về những vấn đề liên quan đến
hoạt động và phát triển của ĐHQGHN.
Đại học Quốc gia Hà Nội có cơ cấu tổ chức đặc biệt (so với các trường đại
học khác ở Việt Nam) bao gồm:
- Các trường đại học thành viên: Là những cơ sở đào tạo đại học, sau đại học
và nghiên cứu khoa học, công nghệ về một hoặc một số lĩnh vực chuyên môn, kinh
tế xã hội liên quan với nhau.
- Các viện nghiên cứu khoa học - công nghệ thành viên: Là những cơ sở
nghiên cứu khoa học, công nghệ và đào tạo sau đại học về một hoặc một số lĩnh
vực khoa học, công nghệ liên quan với nhau.
- Các khoa trực thuộc: Là những đơn vị đào tạo đại học, sau đại học và nghiên
cứu khoa học, công nghệ về một số ngành thuộc một lĩnh vực chuyên môn kinh tế xã hội.
- Các trung tâm nghiên cứu khoa học và trung tâm đào tạo: Là những đơn vị
thực hiện một số nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu, dịch vụ, chuyển giao khoa học công nghệ đáp ứng yêu cầu kinh tế - xã hội đặt ra.
chuẩn chất lượng tương ứng, có phẩm chất đạo đức tốt, năng lực, kiến thức, kỹ
năng đáp ứng yêu cầu thực hiện sứ mạng, tầm nhìn, mục tiêu chiến lược phát triển
ĐHQGHN nhanh chóng đạt chuẩn quốc tế.
- 28 -
Đồng thời, ĐHQGHN cũng đang xây dựng cơ chế, chính sách để nâng cao
hơn nữa tính chủ động, sáng tạo, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị đối với
công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển, quản lý cán bộ.
1.3. Khái quát về các đơn vị đáp ứng nhu cầu tin cho sinh viên của Đại học
Quốc Gia Hà Nội
1.3.1. Trung tâm Thông tin Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội
Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội (Tên Tiếng Anh là
Library and Information Center Vietnam National University, Hanoi – Viết tắt là
LIC) được thành lập năm 1997 là một đơn vị sự nghiệp trực thuộc ĐHQGHN.
Về chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm
Trung tâm có chức năng lưu giữ, quản lý thông tin, tư liệu và thư viện phục
vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng và quản lý của
ĐHQGHN; nghiên cứu, thu thập, xử lý, thông báo, phổ biến và cung cấp tin, tài
liệu khoa học phục vụ cán bộ, viên chức, học sinh, sinh viên, học viên cao học,
nghiên cứu sinh của ĐHQGHN; nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực thông tin –
thư viện.
Với chức năng như trên, Trung tâm có các nhiệm vụ sau:
- Xây dựng kế hoạch ngắn hạn và chiến lược phát triển; tổ chức và điều phối
toàn bộ hệ thống thông tin, tư liệu, thư viện trong ĐHQGHN
- Thu thập, bổ sung - trao đổi, phân tích - xử lí tài liệu và tin. Tổ chức sắp xếp,
lưu trữ, bảo quản kho tư liệu ĐHQGHN bao gồm tất cả các loại hình ấn phẩm và
vật mang tin.
- Xây dựng hệ thống tra cứu tìm tin thích hợp; thiết lập mạng lưới truy nhập
- Khối các phòng phục vụ bạn đọc: 74 cán bộ
Trung tâm Thông tin – Thư viện ĐHQGHN được tổ chức trên cơ sở hợp
nhất các thư viện của các trường đại học thuộc ĐHQGHN, bao gồm:
Các phòng ban chức năng:
+ Ban Giám đốc
+ Phòng hành chính tổng hợp
+ Phòng Tài vụ
+ Phòng Bổ sung – Trao đổi
+ Phòng Phân loại – Biên mục
+ Phòng Thông tin – nghiệp vụ
+ Phòng phát triển tài nguyên số
+ Phòng Tin học
- 30 -
Các phòng phục vụ bạn đọc tại các trường Đại học trực thuộc ĐHQGHN
Phòng phục vụ bạn đọc chung: tại 144 Xuân Thuỷ, Cầu Giấy, Hà Nội
Phòng phục vụ bạn đọc ngoại ngữ: tại 1 Phạm Văn Đồng, Cầu Giấy,
Hà Nội.
Phòng phục vụ bạn đọc Khoa học Xã hội Nhân văn và Khoa học Tự
nhiên: tại 336 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội.
Phòng phục vụ bạn đọc Mễ Trì: tại 182 đường Lương Thế Vinh, Thanh
Xuân, Hà Nội.
Về cơ sở vật chất
Trung tâm có 4 phòng Phục vụ bạn đọc đặt tại các khu vực có cơ sở đào tạo
và ký túc xá của ĐHQGHN với tổng cộng 1.300 chỗ ngồi; cung cấp các dịch vụ
đọc tại chỗ, mượn về nhà, mượn liên thư viện, hướng dẫn cách tra cứu tìm tin trên
mạng, tìm kiếm các cơ sở dữ liệu và thông tin trực tuyến theo yêu cầu bạn đọc.
Hệ thống máy tính cấu hình cao với 10 máy chủ và 300 máy trạm; kết nối
mạng ĐHQGHN VNUnet và Internet 24/24 giờ. Hiện nay, Trung tâm đang ứng