LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, công nghệ viễn thám trên thế giới phát triển khá đa dạng, có rất
nhiều thiết bị thu nhận các hình ảnh có độ phân giải mặt đất từ vài centimet đến
hàng chục mét, có thể chụp ở cự ly rất gần vài chục mét cho đến khoảng cách rất xa
hàng trăm kilomet. Tuỳ thuộc vào cự ly chụp và tính chất vật lý sóng chụp của các
thiết bị thu nhận hình ảnh mà có thể phân loại thành các công nghệ như: chụp ảnh
vệ tinh, chụp ảnh hàng không bằng máy bay có người lái và không người lái
(UAV), công nghệ quét Lidar.
Công tác thành lập bản đồ địa hình trong dãy bản đồ tỷ lệ cơ bản 1:2.000,
1:5.000, 1:10.000, 1:25000 và 1:50.000 ở nước ta chủ yếu sử dụng phương pháp đo
vẽ ảnh lập thể, nguồn tư liệu đầu vào cho phương pháp đo vẽ ảnh từ toàn năng, giải
tích đến đo vẽ ảnh số được phát triển từ phim nhựa hàng không, đến tư liệu ảnh số
được chụp từ máy ảnh kỹ thuật số chuyên dụng. Tuy nhiên việc thu thập các dữ liệu
ảnh chụp vệ tinh quang học và ảnh chụp hàng không có người lái có lúc không được
kịp thời và bị ảnh hưởng rất lớn trong điều kiện thời tiết có mây Việt Nam nằm
trong vùng khí hậu nhiệt đới, tỷ lệ diện tích của lãnh thổ bị mây che phủ lên đến
70% nên hiệu suất có được ảnh vệ tinh không mây là rất thấp.
Tư liệu ảnh hàng không chụp từ thiết bị bay không người lái bằng máy chụp
ảnh phổ thông sẽ được bổ sung cho sự thiếu hụt về thu nhận dữ liệu từ vệ tinh và
máy bay có người lái, nhằm nghiên cứu địa hình ở độ cao thấp bằng cách gắn các
thiết bị máy chụp ảnh phổ thông và máy quay video chuyên dụng.
Mặt khác, các phần mềm đo ảnh ở Việt Nam được các cơ quan, doanh
nghiệp nhập rất nhiều, các phần mềm đều là các phần mềm thương mại, các mã
nguồn đều bị khóa không có thể can thiệp vào chương trình. Đối với máy chụp ảnh
số phổ thông, qua các kết quả nghiên cứu trên thế giới sai số lớn nhất chủ yếu tập
trung vào sai số méo hình kính vật. Vì lý do đó, việc xử lý sai số méo hình của máy
chụp ảnh phổ thông bằng phần mềm của Việt Nam tự viết cho phù hợp với các công
xác làm cơ sở giải quyết các vấn đề đặt ra.
- Phương pháp thực nghiệm: thành lập bản đồ tỷ lệ 1:10.000 bằng ảnh máy
bay không người lái.
5. Cấu trúc của đồ án
2
Đồ án gồm có 3 chương với 37 hình và 3 bảng.
Chương 1: Tổng quan nội dung nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở khoa học sử dụng ảnh chụp bằng máy bay không
người lái phục vụ thành lập bản đồ địa hình
Chương 3: Thực nghiệm thành lập bản đồ địa hình bằng ảnh máy bay
không người lái
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Để hoàn thành đồ án, bản thân em không ngừng học tập, tìm hiểu công nghệ
và tham khảo rất nhiều tài liệu. Trong quá trình thực hiện, em đã nhận được nhiều
sự giúp đỡ quí báu có hiệu quả từ các thầy, cô trong khoa Trắc địa – Bản đồ,
Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội và các bạn bè đồng nghiệp. Đặc
biệt cho em gửi lời biết ơn chân thành tới ThS: Đỗ Thị Hoài - người đã trực tiếp tận
tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt thời gian thực hiện đồ án tốt nghiệp.
Mặc dù em đã có nhiều rất cố gắng nhưng trong quá trình làm đồ án không
thể tránh được những sai sót. Em rất mong nhận được ý kiến của các thầy cô cùng
các bạn đồng nghiệp để kiến thức của em sẽ hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, tháng 6 năm 2015.
3
+ Bản đồ địa hình tỷ lệ nhỏ 1:100.000 đến 1:200.000.
- Nhóm bản đồ địa hình khái quát: tỷ lệ 1:250.000 đến 1:1.000.000.
4
- Nhóm bản đồ địa hình khái quát bao gồm các bản đồ có tỷ lệ nhỏ hơn
1:1.000.000.
c. Phân loại bản đồ theo mục đích sử dụng
Bản đồ địa hình cơ bản: là loại bản đồ phản ánh các yếu tố địa hình địa vật
trên bề mặt lãnh thổ ở thời điểm đo vẽ với độ chính xác và tin cậy cao, mức độ chi
tiết và tương đối đồng đều.
Bản đồ địa hình chuyên dụng: là loại bản đồ thành lập để giải quyết mục đích
cụ thể của một hay nhiều ngành. Trên bản đồ ưu tiên phản ánh các đối tượng địa
hình, địa vật phục vụ cho mục đích chuyên dụng hoặc chuyên ngành thì được phản
ánh một cách chi tiết, mặt khác thì phản ánh sơ sài hơn đối với những đối tượng địa
hình, địa vật ít sử dụng.
Bản đồ nền địa hình: là loại bản đồ đã được lược bớt đi một số đặc điểm tính
chất của các yếu tố địa hình, địa vật nhằm giảm nhẹ trọng tải của bản đồ, có thể coi
bản đồ đã được đơn giản hóa. Về hình thức trình bày bản đồ nền địa hình vẫn giữ
nguyên hệ thống ký hiệu của bản đồ địa hình cơ bản nhưng có giảm bớt số lượng
màu in. Bản đồ này dùng làm cơ sở địa hình thể hiện các yếu tố của bản đồ chuyên
môn, chuyên đề.
3. Vai trò bản đồ địa hình
Bản đồ địa hình cho phép ta bao quát những phạm vi bất kỳ của bề mặt Trái
Đất. Bản đồ địa hình tạo ra bề mặt nhìn thấy được của nhiều yếu tố, như dáng đất
hình dạng kích thước và vị trí tương quan của các đối tượng.
Từ bản đồ ta có thể xác định được các đặc trưng như toạ độ, phương hướng
diện tích, độ cao độ dốc ... Bản đồ địa hình còn chứa nhiều thông tin về các đại
lập.
1.1.2. Cơ sở toán học bản đồ địa hình
Cơ sở toán học của bản đồ địa hình nhằm đảm bảo độ chính xác của bản đồ,
đáp ứng yêu cầu sử dụng, đồng thời có thể ghép nhiều mảnh bản đồ lại với nhau mà
vẫn giữ được tính nhất quán.
1. Phép chiếu
Để biểu thị các yếu tố địa hình, địa vật lên mặt phẳng tờ bản đồ sao cho
chính xác, ít bị biến dạng nhất ta phải sử dụng phép chiếu hình bản đồ thích hợp.
Các yếu tố địa hình, địa vật là tập hợp của vô số điểm có quy luật nhất định trong
6
không gian và ta chỉ cần biểu thị một số đặc điểm đặc trưng rồi dựa vào quy luật đó
để nội suy, khái quát hoá các điểm khác.
Trong khi lựa chọn hệ quy chiếu phải đặc biệt ưu tiên giảm nhỏ đến mức có
thể ảnh hưởng của biến dạng phép chiếu đến kết quả thể hiện các yếu tố trên bản đồ.
Hiện nay, có hai phép chiếu đẳng góc có khả năng sử dụng cho bản đồ địa
hình ở Việt Nam đó là phép chiếu Gauss - krueger (trong hệ HN - 72) và phép chiếu
UTM (trong hệ VN - 2000).
a. Phép chiếu Gauss - krueger
Hình 1.1: Phép chiếu Gauss - krueger
Đặc điểm:
- Là phép chiếu đồng góc;
- Kinh tuyến giữa của múi 6o là các đoạn thẳng có độ dài bằng độ dài của
kinh tuyến thực và vuông góc với xích đạo;
tuyến giữa của mỗi múi;
- Xích đạo sau khi chiếu là đoạn thẳng vuông góc với kinh tuyến giữa. Các vĩ
tuyến khác là những đường cong quay bề lõm về phía hai cực và đối xứng với nhau
qua đường xích đạo;
- Hình chiếu của các kinh tuyến vuông góc với hình chiếu của các vĩ tuyến;
- Hai đường kinh tuyến chuẩn nằm về hai phí của kinh tuyến trục trên đường
chuẩn không có biến dạng, càng xa đường chuẩn biến dạng càng tăng, biến dạng lớn
nhất là giao của xích đạo với hai kinh tuyến biên và kinh tuyến giữa (ko = 0,9996).
8
Hiện nay, để thuận lợi cho việc sử dụng hệ toạ độ chung trong khu vực cũng
như toàn cầu, trong hệ toạ độ quốc gia mới VN - 2000 sử dụng phép chiếu UTM
thay cho phép chiếu Gauss.
So với phép chiếu hình Gauss, phép chiếu UTM có ưu điểm là độ biến dạng
được phân bố đồng đều và có trị số nhỏ. Tỷ lệ độ dài trên kinh tuyến trục là
k=0,9996 còn hai kinh tuyến biên lớn hơn 1.
2. Hệ tọa độ
Để xác định vị trí của các điểm trên bề mặt Trái Đất, trong trắc địa - bản đồ
đã sử dụng nhiều hệ toạ độ khác nhau [1].
a. Hệ toạ độ địa lý ( , )
Trong hệ toạ độ địa lý nhận quả đất là hình cầu, gốc toạ độ là tâm O, hai mặt
phẳng toạ độ là mặt phẳng xích đạo và mặt phẳng chứa kinh tuyến gốc Greenwich.
Toạ độ địa lý của một điểm M(,) được xác định:
+ : vĩ độ địa lý, là góc hợp giữa phương của đường dây dọi qua M và hình
chiếu của nó trên mặt phẳng xích đạo, = 0o ÷ 90o.
+ : kinh độ địa lý, là góc nhị diện hợp bởi mặt phẳng kinh tuyến đi qua
độ được xác định bởi tung độ N (Bắc) và hoành độ E (Đông). Cũng giống như trong
phép chiếu hình Gauss, trục tung cũng được dịch đi 500km.
10
Hình 1.5: Hệ tọa độ vuông góc UTM
Nếu cùng một kích thước Elipsoid và ở trên cùng một múi chiếu thì ta có thể
tính chuyển (X,Y) sang (N,E) và ngược lại thông qua hệ số tỷ lệ chiếu bằng 0,9996.
3. Cơ sở trắc địa
Cơ sở trắc địa của bản đồ được đặc trưng bởi Ellipxoid Trái Đất và hệ thống
mạng lưới khống chế trắc địa.
- Hiện nay các bản đồ địa hình Việt Nam được thành lập trong hệ quy chiếu
và hệ toạ độ quốc gia VN - 2000 với các thông số như sau:
+ Elipxoid quy chiếu quốc gia là Elipsoid WGS-84.
+ Vị trí Elipxoid quy chiếu quốc gia là Ellipxoid WGS-84 toàn cầu được xác
định phù hợp với lãnh thổ Việt Nam trên cơ sở sử dụng các điểm GPS cạnh dài có
độ cao thuỷ chuẩn phân bố trên toàn bộ lãnh thổ.
+ Điểm gốc toạ độ quốc gia: Điểm N00 đặt tại khuôn viên Viện nghiên cứu
địa chính. Điểm gốc độ cao được lấy tại Hòn dấu - Hải Phòng.
- Hệ thống mạng lưới khống chế trắc địa:
+ Là hệ thống các điểm được chọn và đánh dấu mốc vững chắc trên mặt đất,
chúng liên kết với nhau tạo thành các mạng lưới. Mạng lưới khống chế trắc địa
được xây dựng theo nguyên tắc từ tổng thể đến cục bộ, từ độ chính xác cao đến độ
chính xác thấp.
11
Ví dụ về mảnh bản đồ tỷ lệ 1:250.000: F-48-D-4
12
d. Phân mảnh và đặt phiên hiệu mảnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1:100.000
Mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1.000.000 chia thành 96 mảnh có kích thước 30’ x 30’
đặt bằng các số Ả Rập từ 1 đến 96. Phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:100.000 gồm
nhiều phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1.000.000 kèm theo số thự tự mảnh chia đó.
Ví dụ về mảnh bản đồ tỷ lệ 1:100.000: F-48-96(6151)
e. Phân mảnh và đặt phiên hiệu mảnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1:50.000
Mảnh bản đồ tỷ lệ 1:100.000 chia thành 04 mảnh có kích thước 15’x15’ đặt
bằng các chữ cái A, B, C, D. Phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:50.000 gồm phiên hiệu
mảnh bản đồ tỷ lệ 1:100.000 và dấu hiệu chữ cái mảnh 1:50.000.
Ví dụ về mảnh bản đồ tỷ lệ 1:50.000: F-48-96-D(6151 IV)
f. Phân mảnh và đặt phiên hiệu mảnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1:25.000
Mỗi mảnh bản đồ tỷ lệ 1:50.000 chia thành 4 mảnh có kích thước 7’30” x
7’30” đặt bằng a,b,c,d. Phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:25.000 gồm phiên hiệu mảnh
bản đồ tỷ lệ 1:50.000 và ký hiệu mảnh bản đồ đó.
Ví dụ về mảnh bản đồ tỷ lệ 1:25.000: F-48-96-D-d
g. Phân mảnh và đặt phiên hiệu mảnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1:10.000
Mỗi mảnh bản đồ tỷ lệ 1:25.000 chia làm 4 mảnh có kích thước 3’45” x
3’45” ký hiệu bằng số Ả Rập 1,2,3,4. Phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:10.000 gồm
phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:25.000 tiếp sau đó là ký hiệu mảnh bản đồ đó.
Ví dụ về mảnh bản đồ tỷ lệ 1:10.000: F-48-96-D-d-4
h. Phân mảnh và đặt phiên hiệu mảnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1:5.000
Mỗi mảnh bản đồ tỷ lệ 1:100.000 chia làm 256 mảnh có kích thước 1’52.5” x
1’52” ký hiệu bằng số Ả Rập từ 1 đến 256. Phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:5.000
gồm phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:100.000 và ký hiệu mảnh bản đồ đó đặt trong
1:1.000.000
(F-48)
4 mảnh
96 mảnh
(12x8)
1:500.000
1:100.000
(A,B,C,D)
(1÷96)
4 mảnh
1:250.000
(1,2,3,4)
256 mảnh (16x16)
4 mảnh
1:5.000
(1÷256)
1:50.000
(A,B,C,D)
9 mảnh
1.1.3. Nội dung của bản đồ địa hình
Nội dung bản đồ địa hình được xác định theo ý nghĩa, tác dụng và các yêu
cầu đối với bản đồ. Việc xác định nội dung bản đồ rất quan trọng trong công tác
biên tập thành lập bản đồ. Những yếu tố cơ bản của nội dung bản đồ bao gồm:
- Cơ sở Toán học
- Dân cư
- Thủy hệ
- Giao thông
- Thực vật
- Ranh giới
- Địa hình
1. Cơ sở toán học
Cơ sở toán học gồm: hệ thống tỉ lệ bản đồ, phép chiếu bản đồ, Ellipsoid sử
dụng để định vị, hệ tọa độ vuông góc, hệ độ cao, mạng lưới kinh vĩ tuyến, lưới
kilomet, mạng lưới các điểm khống chế trắc địa, khung bản đồ, sơ đồ bố cục, sự
phân mảnh đánh số bản đồ.
Bên cạnh đó là những địa vật định hướng. Đó là những đối tượng khu vực,
nó cho phép ta xác định vị trí nhanh chóng và chính xác trên bản đồ ví dụ như các
tòa nhà cao, các nhà thờ, cột cây số… Các địa vật định hướng cũng bao gồm một số
địa vật không nhô cao so với mặt đất nhưng dễ dàng nhận biết như ngã ba, ngã tư
đường sá, các giếng ở ngoài vùng dân cư…
2. Dân cư
Các điểm dân cư là một trong những yếu tố quan trọng nhất của bản đồ địa
hình. Khi thể hiện các điểm dân cư trên bản đồ phải giữ được đặc trưng về quy
hoạch, cấu trúc.
Tỷ lệ bản đồ địa hình càng lớn thì mức độ càng chi tiết. Khi thu nhỏ tỷ lệ
tích bên trong đường viền thì vẽ các ký hiệu quy ước đặc trưng cho từng loại thực
vật hoặc đất. Ranh giới của các loại thực vật và đất cần được thể hiện chính xác về
phương diện đồ hoạ, thể hiện rõ ràng những chỗ ngoặt có ý nghĩa định hướng.
6. Ranh giới
Bản đồ địa hình khi thể hiện ranh giới, địa giới hành chính thì ngoài đường
biên giới quốc gia còn thể hiện đầy đủ địa giới hành chính của các cấp. Các ranh
giới phân chia hành chính, theo các tài liệu nhà nước. Các mốc địa giới khi đo vẽ
17
phải xác định chính xác và vẽ đúng vị trí. Đường ranh giới hành chính cấp cao được
thay thế cho đường ranh giới hành chính cấp thấp và được khép kín.
Các đường ranh giới phân chia hành chính – chính trị đòi hỏi phải thể hiện rõ
ràng chính xác và theo đúng quy định trong quy phạm.
7. Địa hình
Trên bản đồ hình học được biểu thị bằng các đường bình độ và các điểm độ
cao. Ngoài đường bình độ và độ cao ra còn sử dụng rất nhiều các ký hiệu khác bổ
trợ để mô tả rõ hơn đặc điểm của các dạng địa hình như đèo hố, gò, vách sụt, vách
đá, bãi đá.
Quy định chung trên một tờ bản đồ chỉ có một khoảng cao đều, trong trường
hợp địa hình có đột biến như núi và đồng bằng kề nhau, chen nhau thì cho phép trên
một mảnh mảnh bản đồ có hai loại khoảng cao đều.
Bảng 1.1: Khoảng cao đều các đường bình độ trên bản đồ địa hình
Tỷ lệ
bản đồ
Khoảng cao đều (m)
1
2
1:100.000
20
20
40
1:5.000
1
2
5
1:250.000
20
40
40
1:10.000
1:50.000
10
10
20
Để thể hiện đầy đủ các tính chất đặc trưng của địa hình, đặc biệt là đối với
các vùng đồng bằng, người ta còn vẽ thêm các đường bình độ nửa khoảng cao đều
và đường bình độ phụ ở những nơi cần thiết. Khoảng cao đều lớn nhất thường chỉ
dùng cho những vùng núi cao.
Trên các bản đồ địa hình cần phải thể hiện chính xác và rõ ràng các dạng địa
hình có liên quan đến sự hình thành tự nhiên của dáng đất như các dãy núi, các đỉnh
18
núi, yên núi, thung lũng, các vách nứt, rãnh sói, đất trượt và các dạng có liên quan
với sự hình thành nhân tạo như chỗ đắp cao, chỗ đào sâu…. Sử dụng bản đồ có thể
thu nhận được những số liệu về độ cao, về độ dốc với độ chính xác cao, đồng thời
phải đảm bảo phản ánh đúng đắn sự cắt xẻ ngang và cắt xẻ đứng của bề mặt...
1.1.4. Các phương pháp thành lập bản đồ địa hình
Các phương pháp thành lập bản đồ địa hình
Đo vẽ
Đo vẽ
Hình 1.7: Sơ đồ các phương pháp thành lập bản đồ địa hình
Thành lập bản đồ địa hình ở Việt Nam có nhiều hướng:
- Thành lập bản đồ địa hình bằng phương pháp biên vẽ chuyển tiếp từ bản đồ
địa hình tỷ lệ lớn hơn vừa mới đo vẽ kế cận và tỷ lệ nhỏ hơn.
- Thành lập bản đồ địa hình bằng phương pháp đo vẽ trực tiếp ngoài thực địa.
- Thành lập bản đồ địa hình bằng phương pháp đo vẽ trực tiếp sử dụng ảnh
hàng không hoặc ảnh vệ tinh.
19
Thành lập bản đồ địa hình bằng phương pháp biên vẽ chuyển tiếp từ bản đồ
địa hình tỷ lệ lớn hơn vừa mới đo vẽ kế cận và tỷ lệ nhỏ hơn.
Thành lập bản đồ địa hình bằng phương pháp biên vẽ chuyển tiếp được tiến
hành khi:
Trên khu vực cần biên vẽ đã có bản đồ địa hình tỷ lệ lớn hơn kế cận kế cận
mới được thành lập, đảm bảo độ tin cậy chính xác về cơ sở toán học cũng như yêu
cầu nội dung bản đồ theo quy định theo quy định quy phạm, ký hiệu hiện hành.
Đặc điểm của phương pháp: dùng bản đồ tỷ lệ lớn đã có chuyển về tỷ lệ kế
cận và thông qua việc biên vẽ kết hợp với tổng quát hóa, khái quát và nội dung trên
bản đồ tỷ lệ lớn hơn về tỷ lệ nhỏ hơn kế cận đảm bảo dung lượng trọng tải bản đồ
hợp lý đúng theo quy phạm và ký hiệu hiện hành.
Hiện nay việc thực hiện thành lập bản đồ bằng phương pháp biên vẽ hoàn
toàn trên máy tính là chưa thực hiện được là bởi vì là còn nhiều bất cập trong biên
vẽ. Vì vậy quá trình tổng hợp, khái quát, lựa chọn thể hiện nội dung để lập bản vẽ
hiện nay vẫn nằm trên giấy. Còn lại các công đoạn khác đều thực hiện trên máy
tính, công nghệ kết hợp được áp dụng khi tài liệu chính để thành lập bản đồ là các
file bản đồ số cũ hoặc gốc mới hoặc cũng có thể là bản đồ giấy ở tỷ lệ lớn hơn. Hiện
dung được thực hiện phần lớn ở ngay khâu điều vẽ. Vì vậy công tác điều vẽ là công
tác vô cùng quan trọng, công việc này đòi hỏi người điều vẽ phải có sự hiểu biết về
địa hình, địa vật cũng như các nguyên tắc khái quát, lựa chọn tổng hợp nội dung
theo quy định của quy phạm và ký hiệu hiện hành.
- Phương pháp đo ảnh tương tự
Được thực hiện trên cơ sở sử dụng các tấm ảnh chụp bằng các máy chụp ảnh
quang học để xây dựng lại mô hình tương tự của đối tượng chụp và tiến hành đo đạc
các yếu tố hình học của các đối tượng đó trên mô hình. Đây là một phương pháp
kinh điển. Trước năm 2000 thì phương pháp đo ảnh tương tự được sử dụng phổ biến
trong đo đạc vẽ bản đồ và ngày nay phương pháp gần như không còn được sử dụng
nữa.
- Phương pháp đo ảnh giải tích
Về cơ bản thì phương pháp đo ảnh giải tích có cùng nguyên lý và quy trình
công nghệ với phương pháp đo ảnh tương tự. Nó khác nhau cơ bản là phương pháp
đo ảnh giải tích lấy phương thức tính toán để hiển thị điều kiện giao hội của các tia
chiếu trong không gian thay cho phương thức giao hội quang cơ của phương pháp
đo ảnh tương tự.
21
Phương pháp này có công thức tính toán chặt chẽ và đạt độ chính xác cao.
Ngày nay ở Việt Nam vẫn còn một số cơ sở sản xuất vẫn sử dụng phương pháp đo
ảnh giải tích.
- Phương pháp đo ảnh số
Với nguyên lý cơ bản vẫn dựa theo phương pháp đo ảnh giải tích, biến đổi độ
xám của ảnh thành các tín hiệu điện và sử dụng các máy tính, các phần mềm chuyên
ngành, chuyên dụng để xử lý các tín hiệu này rồi tiến hành quá trình tự động đo vẽ
nghiệp gần nhất tính theo khoảng cao đều đường bình độ cơ bản không vượt quá
các giá trị trong bảng.
Bảng 1.2: Sai số trung phương độ cao các đường bình độ cơ bản
Khoảng cao đều đường
Sai số trung phương về độ cao
bình độ cơ bản
1:10.000
1m
1/4
2.5 m
1/3
1/3
5m
1/3
1/3
1/3
1/2
- Sai số giới hạn của điểm khống chế độ cao đo vẽ sau bình sai so với độ cao
của mốc độ cao gần nhất không vượt quá 1/5 khoảng cao đều cơ bản ở vùng đồng
bằng và 1/3 khoảng cao đều ở vùng rừng núi.
- Sai số trung bình đo vẽ dáng đất so với điểm khống chế độ cao gần nhất,
tính theo khoảng cao đều cơ bản không vượt quá 1/4 khoảng cao đều đối với vùng
đồng bằng và 1/3 khoảng cao đều so với rừng núi.
1.2. Tổng quan về tình hình sử dụng ảnh máy bay không người lái
1.2.1. Trên thế giới
Trên thế giới, việc nghiên cứu và sử dụng ảnh chụp bằng máy chụp ảnh số
phổ thông lắp trên máy bay không người lái trong công nghệ đo vẽ ảnh số để thành
lập bản đồ địa hình, bản đồ chuyên ngành và các mục đích đo đạc công trình khác.
Về bản chất, đây là phương pháp đo ảnh khoảng cách gần, nhưng có đặc điểm cơ
bản là không dùng máy chụp ảnh chuyên dụng mà thay vào đó là máy chụp ảnh số
phổ thông.
1.2.2. Tại Việt Nam
Tại Việt Nam, việc nghiên cứu sử dụng máy chụp ảnh số phổ thông trong
phương pháp đo ảnh khoảng cách gần đã được một số các cơ quan, các nhà khoa
học đề cập và tạo được nền tảng cơ sở ban đầu cho quá trình nghiên cứu, ứng dụng.
Năm 2011, Bộ Quốc phòng đã thử nghiệm và nhập hệ thống thiết bị của Công ty
Microdone để nghiên cứu và sản xuất theo nhiệm vụ của Quốc phòng. Thực tế cho
thấy việc nghiên cứu, xây dựng và áp dụng phương pháp chụp ảnh bằng máy chụp
ảnh số phổ thông gắn trên các loại thiết bị bay không người lái ở nước ta còn nhiều
hạn chế và chưa triển khai sản xuất đại trà ở các dự án. Các phần mềm xử lý cho
công nghệ này hoàn toàn có thể áp dụng được các phần mềm đo vẽ ảnh mà phần
mềm này ở Việt Nam được các cơ quan, doanh nghiệp nhập rất nhiều, các phần
mềm đều là các phần mềm thương mại đều có thể sử dụng được. Viện khoa học Đo
đạc và Bản đồ ngoài các phần mềm đã được trang bị, trong dự án tăng cường năng
lực đã được đầu tư phần mềm Envi, Scanex Image processor V3.0 có khả năng thực
hiện bài toán này.
bao gồm thành lập bản đồ dưới lòng đất, thành lập bản đồ dưới nước và thành lập
bản đồ của các hành tinh hay thiên thể như của Mặt trăng hay sao Hỏa.
Ngoài ra còn có rất nhiều ứng dụng phi địa hình của đo ảnh như: trong đo
đạc chính xác các công trình công nghiệp, trong y học, sinh trắc học, thành lập bản
25