Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007
35
Nghiên cứu, thành lập bản đồ phân vùng hạn
tỉnh Nghệ An để phòng chống và giảm nhẹ thiên tai
Nguyễn Văn Đông
(a)Tóm tắt. Trong bài báo này, chúng tôi tiến hành lựa chọn và phân cấp chỉ tiêu
hạn theo ba mức độ: hạn nhẹ, hạn vừa và hạn nặng. Từ đó thành lập bản đồ phân vùng
hạn theo mùa, vạch ranh giới các vùng bị hạn, phân tích diễn biến hạn theo không gian
và thời gian trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
1. Đặt vấn đề
Hạn là một trong những thiên tai nguy hiểm ở Việt Nam cũng nh ở Nghệ An.
Do đó phòng chống hạn ở cả nớc nói chung và Nghệ An nói riêng là nhiệm vụ quan
trọng của các ngành kinh tế quốc dân và quốc phòng.
Nghiên cứu hạn hán ở Nghệ An là vấn đề không mới nhng luôn phải quan tâm
và có ý nghĩa thiết thực đối với sản xuất nông - lâm nghiệp: giúp các nhà quản lý và
sản xuất nông nghiệp chủ động phòng chống hạn và tới tiêu hợp lý trên những địa
bàn có hệ thống thuỷ lợi tốt; đồng thời lựa chọn giống, cơ cấu cây trồng và mùa vụ
phù hợp với điều kiện tự nhiên từng vùng, né tránh đợc tối đa tác động xấu do hạn
hán gây ra đối với những địa phơng đang còn dựa vào nớc trời là chủ yếu. Trong
sản xuất lâm nghiệp đó là vấn đề cảnh báo và phòng chống nguy cơ cháy rừng.
Kết quả phân vùng hạn tỉnh Nghệ An trong bài này đóng góp một phần nhỏ để
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007
36
Có hai đại lợng bốc hơi: lợng bốc hơi Piche và lợng bốc hơi PET. Trong bài
viết này, chúng tôi sử dụng lợng bốc hơi PET vì đây là chỉ số có khả năng phản ánh
tơng đối chính xác nhất phần chi của cán cân nớc, nó bao hàm nhiều yếu tố khí
tợng nh nhiệt độ, bức xạ, số giờ nắng, gió v.v
PET là lợng bốc hơi khả năng tính theo phơng pháp thực nghiệm do các
chuyên gia của tổ chức FAO giới thiệu.
trong đó: Ht: là lợng bức xạ tịnh
At: Chỉ số động lực khí quyển
C: Hệ số hiệu chính phụ thuộc vào độ cao địa lý và nhiệt độ.
Từ điều kiện địa lý tự nhiên tỉnh Nghệ An, kết quả tính toán lợng bốc hơi
(PET) nh sau:
Bảng 1. Lợng bốc hơi PET (mm) một số trạm khí tợng tỉnh Nghệ An.
(Nguồn: Viện Địa lý - Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia)
Tháng
Trạm
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
Quì Châu
41.2
40.0
58.3
83.4
128.0
105.1
94.2
78.1
60.9
46.5
Tây Hiếu
43.4
41.2
56.4
81.9
124.3
117.0
131.4
106.6
90.6
53.7
51.5
Quỳnh Lu
53.0
54.0
69.4
96.6
147.6
134.1
160.0
123.7
105.6
89.6
66.6
57.7
60.2
92.8
128.0
120.7
140.6
125.8
93.6
80.5
508
44.8
Vinh
40.6
42.0
56.7
88.5
132.4
2.26
0.95
0.54
0.49
0.57
0.35
0.29
0.33
1.45
2.61
Quì Hợp
1.64
1.50
1.96
1.11
0.41
0.26
0.27
0.88
1.83
Tơng Dơng
5.63
3.97
2.57
1.22
0.92
0.76
0.93
0.52
0.37
1.83
Con Cuông
1.27
1.21
1.50
1.09
0.65
0.74
0.83
0.42
0.26
0.26
0.56
1.35
Đô Lơng
1.33
0.96
1.14
1.33
0.57
0.19
0.16
0.30
0.64
1
C
At)Ht (C
PET
+
+
=
x
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007
giữa - cuối mùa Đông (tháng XII, I và II) và mùa Xuân (tháng III và IV). Đợt 2 xảy
ra vào giữa mùa Hạ (tháng VI và VII).
3.1. Hạn mùa Đông
Tháng XII: Hạn nặng xảy ra ở thung lũng thợng nguồn sông Cả thuộc địa bàn
trung tâm hai huyện Kỳ Sơn và Tơng Dơng. Đây là khu vực nằm khuất và kẹp
giữa khối núi Pu Hoạt ở phía đông bắc và Pu Xai Lai Leng ở phía Tây Nam. Các xã
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007
38
xung quanh thung lũng sông Cả bị hạn nặng là Tam Quang, Yên Thắng, Yên Hòa,
Tam Đình, Tam Thái, Thạch Giám, Xá Lợng, Lu Kiền (huyện Tơng Dơng),
Chiêu Lu, Hữu Kiệm, Mờng Xén và Tà Cạ (huyện Kỳ Sơn). Khu vực hạn vừa là
miền núi phía bắc và tây bắc Nghệ An gồm các huyện Tơng Dơng, Quế Phong, Quì
Châu, Quì Hợp, Nghĩa Đàn và bắc Con Cuông. Tháng XII, hạn không xảy ra ở Vinh,
Cửa Lò, Hng Nguyên, Nghi Lộc, và một phần miền núi giáp Lào - Tây Nam Con
Cuông, Anh Sơn và Thanh Chơng. Còn lại các huyện đồng bằng và trung du hạn
chỉ xảy ra nhẹ.
Tháng I: Đây là tháng hạn nhất ở tỉnh Nghệ An. Hạn xảy ra trên diện rộng.
Hạn nặng vẫn tập trung ở các xã nằm dọc thung lũng thợng nguồn sông Cả thuộc
địa phận hai huyện Kỳ Sơn và Tơng Dơng. Ngoài ra, hạn nặng còn xảy ra ở các xã
Tân Sơn, Quỳnh Tam, Quỳnh Châu, Ngọc Sơn (huyện Quỳnh Lu), Diễn Lâm (Diễn
Châu), Tân Thành (Yên Thành). Bộ phận phía bắc của tỉnh đều nằm trong tình
kiện gây ma. Ngoài ra hạn vừa còn xảy ra ở khu vực Mờng Xén (Kỳ Sơn), Yên
Hoà, Hoàng Mai (Tơng Dơng), các xã giáp ranh của các huyện: Bắc Sơn (Quì Hợp),
Đồng Văn (Tân Kỳ), Thọ Sơn (Anh Sơn) và Thạch Ngàn (Con Cuông). Khu vực
không hạn, có lợng ma khá vẫn là các xã nằm dọc biên giới Việt - Lào của các
huyện Con Cuông, Anh Sơn và Thanh Chơng. Khu vực khác trong tỉnh chỉ xảy ra
hạn nhẹ.
3.2. Hạn mùa Hạ
Tháng V và VI, trên địa bàn tỉnh Nghệ An lợng ma đã tăng mạnh do ảnh
hởng của ma Tiểu Mãn đã cắt đứt đợt hạn khá dài, cung cấp lợng nớc khá lớn
cho cây trồng và nguồn ẩm làm dịu bớt cái nóng gay gắt do những đợt gió mùa Tây
Nam đầu mùa mang lại.
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007
40
Hạn đợt 2 xảy ra vào tháng VI và VII nhng tháng VII là tháng hạn nặng hơn
do ảnh hởng mạnh của gió mùa Tây Nam. Mặc dù lợng ma khá cao trên dới
100mm/tháng nhng với một nền nhiệt độ cao, số giờ nắng lớn và tốc độ gió mạnh đã
gia tăng lợng bốc thoat hơi nớc.
Tháng VII: Hạn nặng lại chuyển sang khu vực đông nam của tỉnh. Đó là các xã
ven biển huyện Quỳnh Lu nh: Quỳnh Bảng, Quỳnh Thanh, Quỳnh Hng, Quỳnh
Diên, Quỳnh Yên, An Hoà, Sơn Hải, Quỳnh Thuận, hầu khắp các xã huyện Diễn
Châu, tất cả các xã huyện Nghi Lộc, các xã phía đông nam của huyện Đô Lơng nh
Đại Sơn, Trù Sơn, Hiến Sơn, Thợng Sơn. Miền núi phía tây và tây bắc của tỉnh
không còn hạn nữa, lợng ma tăng lên khá lớn. Chỉ còn khu vực Yên Hoà (Tơng
Dơng) vẫn còn hạn nặng. Các xã trung tâm huyện Quỳnh Lu, phía tây huyện Yên
Thành. Tháng VII, hạn nặng lại xảy ra ở khu vực phía đông nam của tỉnh đó là các
huyện đồng bằng ven biển Quỳnh Lu, Yên Thành, Diễn Châu, Nghi Lộc.
- Tuy nhiên do sự diễn biến thất thờng của thời tiết và khí hậu nên tính chất
và mức độ hạn cũng thay đổi tùy từng năm. Do đó cần phải nghiên cứu sâu hơn tình
hình hạn hán của tỉnh để có chơng trình và kế hoạch phòng chống hạn hán và ngăn
ngừa hoang mạc hóa hiệu quả nhất, giảm nhẹ những tổn thất do chúng gây ra.
tài liệu tham khảo
[1] Nguyễn Trọng Hiệu, Nguyên nhân, giải pháp phòng ngừa và ngăn chặn quá
trình hoang mạc hoá vùng Trung Trung Bộ, Chơng trình KHCN 07 - 02, 2001.
[2] Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn Trọng Hiệu, Khí hậu và tài nguyên khí hậu Việt Nam,
NXB Nông nghiệp, 2004.
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007
42
[3] Nguyễn Đức Ngữ, Tìm hiểu về hạn hán và hoang mạc hoá, NXB Khoa học và Kỹ
thuật, 2002.
[4] Phạm Đức Thi, Hạn hán và ảnh hởng của nó đến sản xuất nông nghiệp ở Việt
Nam, Viện Khí tợng Thuỷ văn,1998.
[5] Các tác giả của Nhà xuất bản Bản đồ, Việt Nam - Tập bản đồ hành chính, NXB
Bản đồ, 2004.
[6] Viện Địa Lý, Trung tâm KHTN & CNQG, Tập số liệu khí hậu Nghệ An, Lu trữ
phòng Địa lý khí hậu, Năm 2003.