Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng Cộng Sản Việt Nam trong
sạch, vững mạnh
A, Mở đầu
Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ kính yêu của dân tộc ta, đã hiến dâng tất cả tình cảm, trí
tuệ và cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Người đã để lại di sản vô giá
là hệ thống quan điểm, tư tưởng trong sáng, mẫu mực, kết tinh những truyền thống của dân
tộc,của nhân loại và thời đại. Hệ thống quan điểm, tư tưởng của Người đã soi sáng những con
đường cho Đảng Cộng sản Việt Nam và cả dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tư
tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh giữ một vị trí đặc biệt
quan trọng. Là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam trong cuộc đời
cách mạng của mình, Hồ Chí Minh không ngừng chăm lo xây dựng, rèn luyện Đảng ta thành một
Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, tiêu biểu cho trí tuệ, đạo đức, lương tâm và danh dự của
dân tộc, Đảng xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ trung thành của nhân dân ta. Nhờ vậy
Đảng Cộng sản Việt Nam của ta ngày càng khẳng định được sự đúng đắn trong đường lối cũng
như trong hành động trên con đường cách mạng cũng như trên con đường xây dựng, bảo vệ Nhà
nước Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa.
B, Nội dung
I, Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng Cộng Sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh.
1. Sơ lược về sự ra đời của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
a. Hoàn cảnh ra đời của Đảng Cộng Sản Việt Nam
Xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của nước Nga và của phong trào nhân dân Châu Âu. Trong
nước ta lúc này, với sự xuất hiện của ba tổ chức cộng sản thành lập và ba tổ chức cộng sản đều
tuyên bố ủng hộ Quốc tế Cộng sản, kêu gọi Quốc tế Cộng sản thừa nhận tổ chức của mình và đều
tự nhận là đảng cách mạng chân chính. Trong quá trình phát triển tổ chức của mình, các đảng
cộng sản không thể không tranh giành ảnh hưởng trong quần chúng nhân dân, và không tránh
khỏi công kích lẫn nhau. Tình hình đó sớm muộn sẽ gây ra sự chia rẽ trong phong trào công
nhân, dẫn đến sự tổn thất cho phong trào cách mạng. Một đòi hỏi khách quan là phải thống nhất
các tổ chức cộng sản lại làm một. Vì vậy, ngày 27-10-1929 Quốc tế Cộng sản đã gửi một lá thư,
tri thức Việt Nam là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự kết hợp các yếu tố cho sự ra đời của Đảng
Cộng Sản Việt Nam. Tuy số lượng tri thức không nhiều nhưng lại là “ ngòi nổ ” cho các phong
trào yêu nước bùng phát chống thực dân Pháp và bọn tay sai, cũng như sự thúc đẩy cách tân và
chấn hưng đất nước.
2. Xây dựng Đảng – Quy luật tồn tại và phát triển của Đảng
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng Cộng Sản Việt Nam trong sạch vững mạnh chiếm
một vị trí đặc biệt quan trọng trong toàn bộ di sản tư tưởng của Người. Hồ Chí Minh xây dựng
Đảng như một nhiệm vụ tất yếu, thường xuyên để Đảng hoàn thành vai trò chiến sĩ tiên phong
trước giai cấp, dân tộc và nhân dân. Xây dựng Đảng là nhiệm vụ vừa cấp bách vừa lâu dài. Khi
cách mạng gặp khó khăn, Đảng giúp cán bộ, đảng viên củng cố lập trường quan điểm, bình tĩnh,
sáng suốt, không tỏ ra bị động lúng túng hay bi quan. Ngay cả khi thắng lợi xây dựng Đảng để
xây dựng những quan điểm, tư tưởng, ngăn ngừa chủ quan, tự mãn và rơi vào căn bệnh “ kiêu
ngạo cộng sản ” – theo cách nói của Lênin.
Tính tất yếu khách quan của công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng được Hồ Chí Minh lí giải hết
sức thuyết phục theo căn cứ sau đây:
- Xây dựng, chỉnh đốn Đảng bị chế định bởi quá trình phát triển liên tục của sự nghiệp
cách mạng do Đảng lãnh đạo. sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo là một quá
trình bao gồm nhiều thời kỳ và giai đoạn, mỗi giai đoạn có những yêu cầu riêng và
nhiệm vụ cụ thể vì thế Đảng phải tự chỉnh đốn, tự đổi mới để vươn lên làm tròn trọng
trách. Đảng ta lớn lên, trưởng thành gắn liền với sự phát triển của đất nước và dân
tộc, Đảng thực sự là một cơ thể sống luôn tự hoàn thiện và vượt lên.
- Hồ Chí Minh chỉ rõ: Đảng là một bộ phận hợp thành xã hội vì thế mỗi cán bộ, đảng
viên đều chịu ảnh hưởng, tác động của cái xấu và cái tốt. Do đó mỗi cán bộ, đảng
viên phải thường xuyên rèn luyện; Đảng phải thường xuyên chú ý đến việc chỉnh đốn
Đảng. Đặc biệt trong thời kỳ quá đọ lên chủ nghĩa xã hội như việt nam hiên nay thì
việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng càng phải được chú ý, quan tâm đặc biệt.
- Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là cơ hội để mỗi cán bộ đảng viên tự rèn luyện, giáo dục
và tu dưỡng tốt hơn, hoàn thiện hơn. Xây dựng chỉnh đốn Đảng là làm cho mỗi cán
bộ đảng viên hiểu rõ, hiểu đúng và thực hành tốt quan điểm, đường lối, chính sách
của Đảng. đặc biệt là giữ được phẩm chất đạo đức cách mạng tiêu biểu.
Chủ nghĩa Mác-LêNin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho đường lối của Đảng. Trong việc
tiếp nhận và vận dụng chủ nghĩa Mác-LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh lưu ý:
- Một là, việc học tập nghiên cứu, tuyên truyền chủ nghĩa Mác-LêNin phải luôn phù
hợp với từng đối tượng.
- Hai là, việc vận dụng chủ nghĩa Mác-LêNin phải luôn phù hợp với từng hoàn cảnh,
tránh giáo điều, đồng thời chống việc xa rowifcacs nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa
Mác-LêNin.
Ba là, trong quá trình hoạt động, Đảng ta phải chú ý học tập, kế thừa những kinh
nghiệm tốt của đảng cộng sản khác, đồng thời Đảng ta phải tổng kết kinh nghiệm của
mình để bổ sung vào chủ nghĩa Mác-LêNin. Chủ nghĩa Mác-LêNin là học thuyết nêu
lên vấn đề cơ bản nhất nên mỗi đảng cần vận dụng vào điều kiện riêng của mình.
- Bốn là, Đảng ta phải tăng cường đấu tranh để bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa
Mác-LêNin. Chú ý chống giáo điều, cơ hội, xét lại chủ nghĩa Mác-LêNin, chống lại
những luận điểm sai trái, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác-LêNin.
Page 4
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng Cộng Sản Việt Nam trong
sạch, vững mạnh
b , Xây dựng Đảng về chính trị
+ Xây dựng đường lối chính trị, bảo vệ chính trị,xây dựng và bảo vệ nghị quyết, xây dựng và
bảo vệ hệ tư tưởng chính trị,củng cố lập trường chính trị, nâng cao bản lĩnh chính trị….
+ Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo của mình chủ yếu bằng việc ra cương lĩnh, đường lối chiến
lược, phương hướng phát triển kinh tế-sách lược và quy định những mục tiêu phát triển của xã
hội theo hướng lâu dài cũng như của từng giai đoạn.
+ Đường lối chính trị phải dựa trên cương lĩnh chính trị của Mác-Lênin, vận dụng nó vào hoàn
cảnh cụ thể của nước ta ở từng thời kỳ.
+ Giáo dục đường lối ,chính sách của Đảng, thong tin cho cán bộ, đảng viên để họ luôn kiên
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng Cộng Sản Việt Nam trong
sạch, vững mạnh
Người luôn nhắc cán bộ, đảng viên phải nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá
nhân. Theo Người, “do chủ nghĩa cá nhân mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hoá,
lãng phí, xa hoa... do chủ nghĩa cá nhân mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém
tinh thần trách nhiệm…, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân”; đồng thời, cũng do
chủ nghĩa cá nhân mà dẫn đến hàng loạt “bệnh” nguy hiểm đối với sự tồn tại và phát triển của
Đảng, như: bệnh chủ quan, bệnh kiêu ngạo, bệnh hẹp hòi, óc địa phương, bè phái, bệnh phô
trương, hình thức “hữu danh, vô thực”, bệnh sách vở, thói ba hoa, tham lam, lười biếng, tị nạnh,
bệnh xu nịnh, a dua, xa rời quần chúng v.v... Chính vì vậy, Người cảnh báo: “Một dân tộc, một
đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và
ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào
chủ nghĩa cá nhân”
Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá nhân là một loại bệnh rất dễ mắc phải, nhất là sau khi đảng đã
giành được chính quyền, nhưng lại là căn bệnh không dễ chữa trị. Để có thể chữa được căn bệnh
này, cán bộ, đảng viên phải tích cực học tập, rèn luyện, nêu cao tính đảng, thấm nhuần và thực
hành đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
Hai là, nêu cao tính tiên phong của Đảng và sự gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc, một mong mỏi lớn của Hồ Chí Minh đối với Đảng và
mọi cán bộ, đảng viên của Đảng. Theo Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiền phong
lãnh đạo của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, Đảng lãnh đạo
cách mạng bằng chủ trương, đường lối, bằng công tác tư tưởng, lý luận, đồng thời qua hành động
tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Người cho rằng, “Nói lãnh đạo mà không gương mẫu thì lãnh đạo làm sao được?”. Để xứng
đáng với vai trò tiền phong lãnh đạo, Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên phải không ngừng học
tập, rèn luyện, nâng cao trình độ trí tuệ, phẩm chất chính trị, đạo đức. Đảng phải thật sự tiền
phong cả về tư tưởng, nhận thức, đạo đức và hành động, phải đề ra đường lối đúng đắn, sáng tạo,
đội ngũ cán bộ, đảng viên phải hăng hái đi trước, nêu gương cho quần chúng noi theo.
Trước hết phải là tiên phong về trí tuệ, tư tưởng lý luận. Trong tác phẩm “Đường cách
mệnh”(1927), Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh, để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải
ta phải là một hạt nhân vững chắc, lãnh đạo đồng bào thi đua yêu nước, cần kiệm xây dựng nước
nhà. Mỗi cấp uỷ Đảng phải là động cơ mạnh mẽ thúc đẩy phong trào cách mạng sôi nổi tiến lên".
Ba là, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng.
1- Dân chủ tập trung. Hồ Chí Minh cho rằng, đây là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng, là một
nguyên tắc bất di bất dịch, nhưng lại được thể hiện một cách sinh động trong tổ chức và hoạt
Page 7
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng Cộng Sản Việt Nam trong
sạch, vững mạnh
động của Đảng. Đảng tổ chức theo nguyên tắc dân chủ tập trung, nghĩa là: Đảng “có đảng
chương thống nhất, kỷ luật thống nhất, cơ quan lãnh đạo thống nhất. Cá nhân phải phục tùng
đoàn thể, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục
tùng Trung ương. Trong Đảng, bất kỳ cấp trên hoặc cấp dưới, đảng viên cũ hoặc đảng viên mới,
đều nhất định phải giữ kỷ luật của giai cấp vô sản”.
Theo Hồ Chí Minh, dân chủ và tập trung có quan hệ gắn bó và thống nhất với nhau, là hai mặt
của một vấn đề. Dân chủ không đối lập với tập trung, mà chỉ đối lập với tình trạng độc đoán,
chuyên quyền. Tập trung không đối lập với dân chủ, mà chỉ đối lập với tình trạng tản mát, tự do
tùy tiện, vô tổ chức. Dân chủ là “cơ sở của tập trung”, để đi đến tập trung, dưới sự chỉ đạo của
tập trung. Tập trung phải trên “nền tảng dân chủ”, sự tập trung đích thực chỉ có thể đạt được trên
cơ sở phát huy dân chủ thật sự trong Đảng. Để bảo đảm tính dân chủ và tính tập trung đích thực
trong nhận thức và hành động, Hồ Chí Minh yêu cầu tư tưởng phải được tự do. Người cho rằng,
đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một
quyền lợi mà cũng chính là nghĩa vụ của mọi người. “Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm
thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý”. Như vậy, chân
lý, sự đúng đắn, hợp quy luật trong các quyết sách của Đảng chính là sự kết tinh của dân chủ,
đồng thời việc thực hiện thắng lợi những quyết sách đó cũng là biểu hiện cao nhất của tập trung.
2-Tự phê bình và phê bình. Hồ Chí Minh coi đây là nguyên tắc sinh hoạt đảng, đồng thời là quy
luật phát triển của Đảng. Người chỉ rõ: “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một
Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà
sự lãnh đạo và chấp hành những nghị quyết của Đảng”. Mỗi đảng viên dù ở cương vị nào, mỗi
chi bộ, mỗi cấp ủy dù ở cấp nào, cũng đều phải nghiêm túc chấp hành kỷ luật của Đảng, biến kỷ
luật thành ý thức và hành động tự giác. Có kỷ luật thống nhất mới có sự thống nhất ý chí, thống
nhất hành động và Đảng ta mới có sức mạnh.
4- Giữ gìn và củng cố sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Theo Hồ Chí Minh, đây là một
nguyên tắc đặc biệt quan trọng trong hoạt động lãnh đạo và hoạt động xây dựng nội bộ của
Đảng. Người khẳng định: “Với sự đoàn kết nhất trí và lòng cương quyết quật cường của Đảng,
của Chính phủ và của toàn dân, chúng ta nhất định khắc phục được mọi khó khăn để đi đến hoàn
toàn thắng lợi”. Trong bài nói tại lớp chỉnh huấn đầu tiên của Trung ương (11-5-1952), Người chỉ
rõ “Là một Đảng lãnh đạo, Đảng ta cần phải mạnh mẽ, trong sạch, kiểu mẫu. Toàn Đảng phải tư
tưởng nhất trí, hành động nhất trí, đoàn kết nhất trí mới làm trọn nhiệm vụ của Đảng”.
Hồ Chí Minh thấm nhuần nguyên lý đoàn kết thống nhất của Đảng cộng sản bằng cả lý trí và tình
cảm. Người đã vận dụng nhuần nhuyễn, sáng tạo và làm phong phú thêm nội dung của nguyên lý
đoàn kết thống nhất trong Đảng trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta. Trong Di chúc
thiêng liêng để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta, Người còn căn dặn: “Đoàn kết là một truyền thống
cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ
gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.
Bốn là, chỉnh đốn tác phong lãnh đạo, lề lối làm việc, tăng cường công tác kiểm tra.
Theo Hồ Chí Minh chỉnh đốn tác phong, lề lối làm việc là một yêu cầu có tính cấp bách đối với
hoạt động lãnh đạo của một đảng cầm quyền ra đời ở một nước nông nghiệp lạc hậu, thuộc địa,
nửa phong kiến như Đảng ta. Bởi vậy, trong suốt quá trình lãnh đạo, rèn luyện Đảng ta, Hồ Chí
Minh luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên các cấp của Đảng, Chính phủ và đoàn thể phải chỉnh đốn
tác phong công tác và lề lối làm việc. Trong bài nói tại lớp chỉnh huấn đầu tiên của Trung ương,
Người đã nhấn mạnh: “Các đồng chí đều là cán bộ cao cấp, đều giữ những trách nhiệm quan
trọng. Công việc thành hay là bại một phần lớn là do nơi tư tưởng đạo đức, thái độ và lề lối làm
việc của các đồng chí”.
Người yêu cầu cán bộ phụ trách ở trung ương "cần phải thường xuyên đi kiểm tra và giải quyết
công việc tại chỗ, phải chống bệnh giấy tờ, hội họp nhiều, đi kiểm tra giúp đỡ ít ...", "Phải sửa
đổi lề lối làm việc cho thiết thực, để giải quyết công việc cho tốt, cho nhanh"; làm việc gì cũng
phải có tổ chức tốt, lãnh đạo phải sâu sát thực tế; lề lối làm việc phải dân chủ, cấp trên phải
Người chỉ rõ, công việc của Đảng và Nhà nước ngày càng nhiều. “Muốn hoàn thành tốt mọi việc,
thì toàn thể đảng viên và cán bộ phải chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và chính sách của Đảng.
Và muốn như vậy, thì các cấp uỷ đảng phải tăng cường công tác kiểm tra. Vì kiểm tra có tác
dụng thúc đẩy và giáo dục đảng viên và cán bộ làm trọn nhiệm vụ đối với Đảng, đối với Nhà
nước, làm gương mẫu tốt cho nhân dân. Do đó mà góp phần vào việc củng cố đảng về tư tưởng,
về tổ chức”.
Người thường nhắc các cấp uỷ đảng phải “có tinh thần phụ trách, theo dõi, kiểm tra, giúp đỡ cán
bộ”, lãnh đạo phải theo dõi thật sát, kịp thời tổng kết rút kinh nghiệm. Người phê bình một số
cấp uỷ đảng chỉ mải mê công việc hành chính, sự vụ, “không chịu theo dõi việc làm hàng ngày
của cán bộ, đảng viên”; hoặc “Cán bộ chỉ lo viết cho nhiều chỉ thị, thông tư... Nhưng không lo
việc làm phải ăn khớp với lời nói, chỉ thị phải có thể thực hành. Cán bộ nhầm tưởng rằng cứ gửi
nhiều thông tư, chỉ thị, là xong việc; mà không theo dõi, đôn đốc giúp đỡ địa phương, không
kiểm tra công việc thực tế”.
Năm là, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, công tác cán bộ là “việc gốc” của Đảng.
Đây là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà Hồ Chí
Minh dành nhiều thời gian và tâm huyết nhất. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, ở đâu và
lúc nào, Hồ Chí Minh cũng luôn quan tâm đến vấn đề cán bộ và công tác cán bộ. Theo Hồ Chí
Minh, cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng
hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ
hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng. “Vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “huấn luyện
cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Để xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, trình độ và
năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng, Hồ Chí Minh đã nêu ra nhiều biện pháp cụ thể,
thiết thực:
1- Tăng cường huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Hồ Chí Minh cho rằng, “Phải ra sức bồi
dưỡng cán bộ, phải rèn luyện tư tưởng, nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, cũng như trình độ
chiến thuật và kỹ thuật của cán bộ. Đó là khâu chính trong các thứ công tác”.
Người đã nhiều lần nhấn mạnh, huấn luyện cán bộ là việc rất quan trọng, nhưng không phải là
một việc đơn giản, phải thiết thực, chu đáo, muốn làm được thì phải hiểu cho thấu. Nội dung
huấn luyện phải thiết thực, bao gồm những nội dung cơ bản là: Huấn luyện nghề nghiệp, “phải
thực hành khẩu hiệu, làm việc gì, học việc ấy”; Huấn luyện chính trị, cán bộ nào cũng phải học,
mà cũng phải biết khuyết điểm của họ, không nên chỉ xem công việc của họ trong một lúc, mà
phải xem cả công việc của họ từ trước đến nay. Biết rõ ràng cán bộ, mới có thể cất nhắc cán bộ
một cách đúng mực.
4- Thực hiện tốt chính sách đối với cán bộ. Theo Hồ Chí Minh, đây là biện pháp có quan hệ mật
thiết đối với nhiều khâu trong công tác cán bộ và có tác dụng lâu dài trong xây dựng đội ngũ cán
bộ của Đảng. Biện pháp này có nhiều nội dung như: phải có gan cất nhắc cán bộ; phải quan tâm,
yêu thương cán bộ; phải chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, cất nhắc cán bộ miền núi và cán bộ nữ
vào các cơ quan lãnh đạo, nhất là các ngành hoạt động thích hợp.
d, Xây dựng Đảng về đạo đức
Đại hội IX của Đảng ta đã đưa ra một mệnh đề cấu thành định nghĩa rất chuẩn xác về tư
tưởng Hồ Chí Minh, rằng "Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu
sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam". Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh cần
được nghiên cứu không phải dưới góc độ những ý kiến, những suy nghĩ riêng lẻ, cụ thể, mà trong
sự tổng hợp có tính hệ thống, tức là nghiên cứu dưới góc độ một học thuyết chính trị - cách
mạng. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một bộ phận của tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh. Nói
cách khác, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là một bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn
hóa, và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa lại là một bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh nói
chung. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương tiêu biểu, một mẫu mực tuyệt vời về đạo đức,
không chỉ đạo đức của con người xã hội mà còn là đạo đức của một lãnh tụ cách mạng, suốt đời
hy sinh, phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và xã hội, vì hạnh phúc
Page 11
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng Cộng Sản Việt Nam trong
sạch, vững mạnh
của nhân dân. Tuy nhiên, nghiên cứu tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ là nghiên cứu
những phẩm chất cao quý thể hiện trong cuộc sống của Người, mà còn là nghiên cứu những quan
điểm của Người về đạo đức, những quan điểm đó đã, đang và sẽ còn chỉ đạo dài lâu cho sự
nghiệp của Đảng ta xây dựng văn hóa dân tộc nói chung và xây dựng văn hóa trong Đảng nói
riêng.
luôn luôn chịu khó học tập, cầu tiến bộ, luôn luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa chữa
điều dở... Đối với người thì không nịnh hót cấp trên, không xem khinh người dưới; luôn luôn giữ
thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc. Đối với việc thì để việc
công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà... Cần, kiệm, liêm, chính luôn luôn đi liền với chí công,
vô tư, tức là hết lòng chăm lo công việc chung, không tơ hào, tư lợi.
Trung, hiếu, nhân, nghĩa, trí, dũng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư đều là những
khái niệm vốn có từ Nho học và đạo đức từ lâu đời của ông cha ta, song đã được Chủ tịch Hồ
Chí Minh đổi mới và phát triển, thậm chí có những khái niệm đổi mới hẳn về nội dung, như xưa
kia là trung với vua, hiếu với cha mẹ, nay là trung với nước, hiếu với dân. Do đó, những phẩm
chất đạo đức được Người nêu lên chính là những phẩm chất của đạo đức mới, của con người mới
Page 12
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng Cộng Sản Việt Nam trong
sạch, vững mạnh
và nền văn hóa mới. Nó là sự kết hợp tinh thần cách mạng của giai cấp công nhân với truyền
thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc và những tinh hoa đạo đức của nhân loại.
Đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh còn có tầm
sâu rộng hơn, vượt qua khuôn khổ quốc gia để tạo nên sự kết hợp hài hòa và nhuần nhuyễn giữa
chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, xem "bốn phương vô sản đều là anh em"...
II, Sự vận dụng của Đảng ta
1, Bối cảnh thế giới và trong nước(Lam)
a , Bối cảnh thế giới.
b, Bối cảnh trong nước.
2, Những thách thức và cơ hội đặt ra cho Đảng trong công cuộc đổi mới và xây dựng ĐCSVN
vững mạnh.
a , Đảng quyết định đổi mới đất nước
Việc đổi mới, chỉnh đốn Đảng đã đạt kết quả rất quan trọng, là nhân tố quyết định để công cuộc
đổi mới trên đất nước ta giành được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Đất nước đã ra
khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện; kinh tế tăng trưởng khá
kế hoạch phát triển một số ngành, vùng, nhất là quy hoạch sử dụng đất đai, tài nguyên khoáng
sản còn yếu, gây lãng phí, thất thoát lớn.
+ Các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại còn một số mặt hạn chế. Nhận thức về quốc
phòng toàn dân và an ninh nhân dân của một số cán bộ, đảng viên trong các ngành, các cấp chưa
đầy đủ, sâu sắc, thiếu cảnh giác trước âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch và
“tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Công tác bảo vệ an ninh trong một số lĩnh vực còn
có những thiếu sót; xử lý tình hình phức tạp nảy sinh ở cơ sở có lúc, có nơi còn bị động, tội phạm
hình sự, tệ nạn xã hội, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở một số địa bàn còn diễn biến
phức tạp. Việc gắn kết giữa phát triển kinh tế với củng cố, tăng cường sức mạnh quốc phòng, an
ninh, đặc biệt là tại các vùng chiến lược, biển, đảo còn chưa chặt chẽ. Công nghiệp quốc phòng,
an ninh chưa đáp ứng yêu cầu trang bị cho các lực lượng vũ trang. Công tác nghiên cứu, dự báo
chiến lược về đối ngoại có mặt còn hạn chế. Sự phối hợp giữa đối ngoại của Đảng, ngoại giao
Nhà nước và ngoại giao nhân dân, giữa các lĩnh vực chính trị, kinh tế và văn hoá đối ngoại chưa
thật đồng bộ.
+ Dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chưa được phát huy đầy đủ. Quyền làm chủ
của nhân dân ở một số nơi, trên một vài lĩnh vực còn bị vi phạm. Việc thực hành dân chủ còn
mang tính hình thức; có tình trạng lợi dụng dân chủ gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ, gây
rối, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Chủ trương, quan điểm của Đảng về đại đoàn kết toàn
dân tộc, về quyền và lợi ích của các giai cấp, tầng lớp nhân dân chưa được thể chế đầy đủ thành
pháp luật; hoặc đã thể chế hoá nhưng chưa được thực hiện nghiêm túc; công tác kiểm tra, đôn
đốc chưa thường xuyên; giữa chủ trương và tổ chức thực hiện còn cách biệt. Việc tuyên truyền,
vận động, tập hợp, thu hút nhân dân tham gia các phong trào, cuộc vận động của Mặt trận Tổ
quốc, các đoàn thể nhân dân còn hạn chế. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân
dân chưa sâu sát các tầng lớp nhân dân và cơ sở.
+ Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế và
quản lý đất nước. Năng lực xây dựng thể chế, quản lý, điều hành, tổ chức thực thi pháp luật còn
yếu. Tổ chức bộ máy ở nhiều cơ quan còn chưa hợp lý, biên chế cán bộ, công chức tăng thêm;
chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan chưa đủ rõ, còn chồng chéo. Chất lượng đội ngũ cán
bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới của đất nước. Cải cách
hành chính chưa đạt yêu cầu đề ra; thủ tục hành chính còn gây phiền hà cho tổ chức và công dân.
chưa cổ vũ ý chí phấn đấu vươn lên, sự gắn bó, tận tụy của cán bộ đối với công việc. Năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của không ít tổ chức đảng còn thấp; công tác quản lý đảng viên chưa
chặt chẽ, sinh hoạt đảng chưa nền nếp, nội dung sinh hoạt nghèo nàn, tự phê bình và phê bình
yếu. Việc xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài còn chậm, vai trò của tổ chức đảng ở đây mờ nhạt. Động cơ phấn đấu vào Đảng của
một số người có biểu hiện lệch lạc, cơ hội. Việc xử lý, sử dụng và quản lý cán bộ, đảng viên có
vấn đề lịch sử chính trị còn phiến diện, thiếu chặt chẽ. Việc xem xét, giải quyết những vấn đề
chính trị hiện nay của cán bộ, đảng viên còn lúng túng. Nhiều cấp uỷ, tổ chức đảng chưa quan
tâm chỉ đạo đúng mức công tác này. Nhiều cấp uỷ, tổ chức đảng chưa làm tốt công tác kiểm tra,
giám sát và thi hành kỷ luật đảng, chất lượng và hiệu quả kiểm tra, giám sát chưa cao; chưa coi
trọng việc kiểm tra, giám sát thực hiện đường lối, chủ trương, chỉ thị, nghị quyết, thi hành Điều
lệ Đảng, kiểm tra, giám sát phòng ngừa tiêu cực và phát huy nhân tố tích cực. Nhiều khuyết
điểm, sai lầm của đảng viên và tổ chức đảng chậm được phát hiện. Tình trạng thiếu trách nhiệm,
cơ hội, suy thoái đạo đức, lối sống vẫn diễn ra khá phổ biến trong một bộ phận cán bộ, đảng
viên. Kỷ luật, kỷ cương ở nhiều tổ chức đảng không nghiêm. Sự đoàn kết, nhất trí ở không ít cấp
uỷ chưa tốt. Một số tổ chức đảng, chính quyền, mặt trận và đoàn thể nhân dân chưa quan tâm
đúng mức công tác dân vận. Nội dung, phương thức vận động, tập hợp quần chúng vẫn nặng tính
hành chính. Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
chính trị - xã hội trên một số nội dung chưa rõ, chậm đổi mới. Chức năng, nhiệm vụ của đảng
đoàn, ban cán sự đảng chưa được xác định rõ ràng, cụ thể nên hoạt động còn lúng túng. Phong
cách, lề lối làm việc đổi mới chậm; hội họp vẫn nhiều. Nguyên tắc tập trung dân chủ còn bị vi
phạm, ảnh hưởng đến sự đoàn kết
+ Các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hoá, xã hội, môi trường còn nhiều
hạn chế, yếu kém, gây bức xúc xã hội. Chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu
Page 15
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng Cộng Sản Việt Nam trong
sạch, vững mạnh
phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao vẫn còn hạn chế; chưa chuyển mạnh sang
đề xã hội, môi trường.
- Thuận lợi:
+ Đảng lãnh đạo xây dựng và không ngừng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của dân, do dân và vì dân. Lãnh đạo quá trình cụ thể hóa, thể chế hóa Cương lĩnh, đường lối của
Page 16
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng Cộng Sản Việt Nam trong
sạch, vững mạnh
Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước, lãnh đạo xây dựng, hoàn thiện bộ máy Nhà
nước và chính quyền các cấp, bố trí cán bộ trong bộ máy chính quyền Nhà nước, kiểm tra, giám
sát hoạt động của Nhà nước bảo đảm cho Nhà nước phát huy cao độ hiệu lực, hiệu quả quản lí,
thực hiện đúng đắn đường lối của Đảng, lợi ích và quyền làm chủ của nhân dân. Nhà nước không
ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách để quản lí tốt nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, thực hiện tốt các chính sách xã hội, an sinh xã hội, chăm lo đời sống của nhân
dân, tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh và mở rộng quan hệ đối ngoại. Quốc hội không
ngừng đổi mới để thực hiện tốt hơn chức năng lập pháp, quyết định những vấn đề to lớn của đất
nước và giám sát tối cao. Đẩy mạnh cải cách hành chính để Chính phủ và chính quyền các cấp
thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ quản lí hành chính nhà nước. Cải cách thể chế hành chính, tổ
chức bộ máy, nâng cao chất lượng và trách nhiệm của đội ngũ công chức, cải cách tài chính công
là những vấn đề bức thiết hiện nay. Đẩy mạnh cải cách tư pháp. Nắm vững quan điểm: Quyền
lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ
quan làm chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
Nhà nước và mọi quyền lực thuộc về nhân dân.
+ Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện;
chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng tiếp tục được thể chế hoá thành luật pháp, cơ chế, chính
sách ngày càng đầy đủ, đồng bộ hơn; môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện; các yếu tố
thị trường và các loại thị trường tiếp tục hình thành, phát triển; nền kinh tế nhiều thành phần có
bước phát triển mạnh.
+ Quốc phòng, an ninh, đối ngoại được tăng cường. Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn
+ Khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông
dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng tiếp tục được mở rộng và tăng cường trên cơ
sở thống nhất về mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân phát huy tốt hơn vai trò tập hợp, xây dựng khối đại
đoàn kết toàn dân tộc; củng cố, mở rộng tổ chức, phát triển đoàn viên, hội viên, tổ chức nhiều
phong trào thi đua, nhiều cuộc vận động có hiệu quả thiết thực...; cùng Nhà nước chăm lo, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội,
góp phần tích cực vào những thành tựu của đất nước.
+ Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh, hiệu lực và hiệu quả
hoạt động được nâng lên.Quốc hội tiếp tục được kiện toàn về tổ chức, có nhiều đổi mới, nâng
cao chất lượng hoạt động. Hệ thống pháp luật được bổ sung. Hoạt động giám sát đã tập trung vào
những vấn đề bức xúc, quan trọng nhất của đất nước. Việc thảo luận, quyết định kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách nhà nước, các dự án, công trình trọng điểm quốc gia có
chất lượng và thực chất hơn. Cơ cấu tổ chức, bộ máy của Chính phủ được sắp xếp, điều chỉnh,
giảm đầu mối theo hướng tổ chức các bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực. Quản lý, điều hành của
Chính phủ, các bộ năng động, tập trung nhiều hơn vào quản lý vĩ mô và giải quyết những vấn đề
lớn, quan trọng. Cải cách hành chính tiếp tục được chú trọng, đã rà soát, bước đầu tổng hợp
thành bộ thủ tục hành chính thống nhất và công bố công khai.
Tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp có một số đổi mới. Việc thực hiện các thủ tục tố
tụng ngày càng tốt hơn, hạn chế được tình trạng điều tra, truy tố, xét xử oan, sai hay bỏ lọt tội
phạm. Nhiều vụ án tham nhũng được đưa ra xét xử. Trên một số lĩnh vực, lãng phí, tham nhũng
từng bước được kiềm chế.
+ Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được tăng cường. Công tác lý luận đã chủ động nghiên
cứu nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn của công cuộc đổi mới, diễn biến mới của tình hình thế
giới; giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Công tác
tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng có đổi mới. Coi trọng hơn nhiệm vụ xây dựng đạo đức
trong cán bộ, đảng viên và nhân dân,chủ động hơn trong đấu tranh chống “diễn biến hoà bình”,
bác bỏ các quan điểm sai trái, luận điệu tuyên truyền của các thế lực thù địch. Các hoạt động
thông tin, báo chí, xuất bản được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo; chú trọng ngăn ngừa, khắc phục
những lệch lạc, nhất là biểu hiện xa rời tôn chỉ, mục đích. Công tác thông tin đối ngoại được đẩy
- Tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ một số vấn đề về đảng cầm
quyền, về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta và những vấn đề mới
nảy sinh trong quá trình đổi mới, không ngừng phát triển lý luận, đề ra đường lối và chủ trương
đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước; khắc phục một số mặt lạc hậu, yếu kém của công tác nghiên
cứu lý luận. Tổng kết 30 năm đổi mới đất nước.
- Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục,
hiệu quả của công tác tư tưởng, tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền, cổ vũ
động viên các nhân tố mới, điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt, giáo dục truyền thống
yêu nước, cách mạng. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động "diễn biến
hoà bình" của các thế lực thù địch. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện
"tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ ta; khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên (đây là điểm mới so với Đại hội
X).
3.3- Rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân
- Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là nhiệm vụ quan trọng thường
xuyên, lâu dài của cán bộ, đảng viên, của các chi bộ, tổ chức đảng và các tầng lớp nhân dân (đây
là điểm mới so với Đại hội X). Mỗi cán bộ, đảng viên không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức
cách mạng, thực sự là một tấm gương về phẩm chất đạo đức, lối sống. Cán bộ cấp trên phải
gương mẫu trước cán bộ cấp dưới, đảng viên và nhân dân.
- Cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần trách nhiệm trước Tổ quốc, trước Đảng và nhân dân,
hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Các tổ chức đảng tạo điều kiện để đảng
Page 19
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng Cộng Sản Việt Nam trong
sạch, vững mạnh
viên công tác, lao động có năng suất, chất lượng, hiệu quả, đóng góp vào sự phát triển chung của
đất nước. Đẩy mạnh tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng.
- Triển khai thực hiện tốt Quy chế dân vận trong hệ thống chính trị; đổi mới và nâng cao chất
3.6- Đổi mới công tác cán bộ, coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ
- Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ công tác cán bộ. Thực hiện tốt Chiến lược cán bộ thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đổi mới tư duy, cách làm, khắc phục những yếu kém
trong từng khâu của công tác cán bộ. Xây dựng và thực hiện nghiêm các cơ chế, chính sách phát
hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; trọng dụng những người có đức, có tài. Nâng cao
chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; khắc phục tình trạng chạy theo bằng cấp. Làm tốt
công tác quy hoạch và tạo nguồn cán bộ, chú ý cán bộ trẻ, nữ, dân tộc thiểu số, chuyên gia trên
các lĩnh vực; xây dựng quy hoạch cán bộ cấp chiến lược. Đánh giá và sử dụng đúng cán bộ trên
cơ sở những tiêu chuẩn, quy trình đã được bổ sung, hoàn thiện, lấy hiệu quả công tác thực tế và
sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu. Không bổ nhiệm cán bộ không đủ đức, đủ tài,
Page 20
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng Cộng Sản Việt Nam trong
sạch, vững mạnh
cơ hội chủ nghĩa. Thực hiện nghiêm quy chế thôi chức, miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ lãnh
đạo, quản lý.
- Có chế tài xử lý nghiêm những trường hợp chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy tội, chạy
tuổi, chạy bằng cấp, chạy huân chương (đây là điềm mới so với Đại hội X).
- Nghiên cứu ban hành và thực hiện tốt chính sách sử dụng và quản lý cán bộ, đảng viên có vấn
đề về lịch sử chính trị. Chú trọng nắm và giải quyết vấn đề chính trị hiện nay.
3.7- Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát
- Các cấp uỷ, tổ chức đảng phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, thực hiện tốt hơn nhiệm vụ kiểm
tra, giám sát theo Điều lệ Đảng.
- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và hoạt động của hệ thống uỷ ban kiểm tra các cấp. Hoàn
thiện quy chế phối hợp giữa uỷ ban kiểm tra đảng với các tổ chức đảng và các cơ quan bảo vệ
pháp luật trong việc xem xét khiếu nại, tố cáo và xử lý kỷ luật cán bộ, đảng viên.
3.8- Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
- Tập trung rà soát, bổ sung, điều chỉnh, ban hành mới, xây dựng đồng bộ hệ thống các quy chế,
quy định, quy trình công tác để tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng Cộng Sản Việt Nam trong
sạch, vững mạnh
Nghị quyết Đại hội XI chỉ rõ: Đất nước ta đã vượt qua những khó khăn, thách thức to lớn và
đang vững bước đi lên. Tình hình thế giới thay đổi nhanh chóng, tạo cho nước ta nhiều thời cơ
nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức. Đại hội XI của Đảng khẳng định quyết tâm của toàn Đảng,
toàn dân ta tận dụng tốt thời cơ, vượt qua thách thức, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến
đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, phát
triển đất nước nhanh, bền vững, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
b, Quan tâm đến công tác xây dựng Đảng, thực sự coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt ở
tất cả các cấp, các nghành
– Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, sự suy yếu thoái hóa, biến chất của tổ chức Đảng, làm cho
vai trò cầm quyền của Đảng bị suy giảm, dẫn đến mất ổn định chính trị – xã hội là một nguy cơ
lớn. Chăm lo xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là điều kiện tối cần thiết và là điều kiện tiên
quyết để giữ vững ổn định chính trị – xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa theo định hướng xã hội
chủ nghĩa.
– Toàn Đảng phải quán triệt đầy đủ quan điểm xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Tính chất
then chốt của nhiệm vụ xây dựng Đảng thể hiện trong các điểm sau:
Một là, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả của nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, thu hút và
phát huy tiềm năng trí tuệ của toàn dân tộc.
Trong thực hiện nhiệm vụ này, cần quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh: Xây dựng xã hội mới là
công việc “rất to lớn, nặng nề, và phức tạp, mà cũng là rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến đấu
chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Để giành lấy thắng
lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân,
dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân” .
Hai là, cần đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trong điều kiện cơ chế kinh tế
thị trường và hội nhập quốc tế hiện nay, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ đức và tài,
đầy tinh thần trách nhiệm trước Đảng, trước dân tộc, năng động, dám nghĩ dám làm,… không chỉ
là sự quan tâm, phát huy nhân tố con người trong Đảng, mà còn để phát huy sức mạnh của toàn
ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tầu không có bàn chỉ nam”.
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính
nhất chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Lấy chủ nghĩa đó “làm cốt”, suốt quá
trình lãnh đạo Đảng ta, Hồ Chí Minh luôn kiên định lập trường xây dựng Đảng theo chủ nghĩa
Mác – Lênin và Người vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Đảng
ta, của cách mạng nước ta.
Hai, Đảng phải theo, phải thực hiện tốt các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng là tập trung
dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; tự phê bình và phê bình; kỷ luật nghiêm, tự giác;
đoàn kết, thống nhất trong Đảng.
Về tập trung dân chủ, Hồ Chí Minh chỉ rõ đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong học thuyết
về Đảng cộng sản. Trong nguyên tắc này, tập trung và dân chủ thống nhất biện chứng với nhau
“Tập trung trên nền tảng dân chủ”, “dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung”. Theo Hồ Chí Minh, thực
hiện tập trung trong Đảng là thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, địa phương
phục tùng Trung ương, tất cả mọi đảng viên phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết của tổ chức
Đảng. Về tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, Hồ Chí Minh chỉ rõ đây là nguyên tắc lãnh đạo của
Đảng. Theo Hồ Chí Minh: “Lãnh đạo độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc. Phụ trách không
do cá nhân, thì sẽ đi đến cái tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Kết quả cũng là hỏng việc”. Về tự
phê bình và phê bình, Hồ Chí Minh coi đó là quy luật phát triển của Đảng, là vũ khí sắc bén làm
cho Đảng ta trong sạch, vững mạnh. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Một đảng mà giấu diếm khuyết điểm
của mình là một đảng hỏng. Một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những
Page 23
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng Cộng Sản Việt Nam trong
sạch, vững mạnh
cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiểm mọi
cách để sửa chữa khuyết điểm đó, như thế là một đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân
chính”. Về kỷ luật nghiêm, tự giác, Hồ Chí Minh coi đây là nguyên tắc làm cho Đảng thực sự là
một tổ chức chiến đấu chặt chẽ, có sức mạnh và Người đòi hỏi “mỗi đảng viên cần phải làm kiểu
Page 24
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng Cộng Sản Việt Nam trong
sạch, vững mạnh
Năm, Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn. Chỉ rõ thường xuyên tự đổi mới, tự
chỉnh đốn bản thân Đảng là yêu cầu của sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, Hồ Chí
Minh nhấn mạnh, trong điều kiện cách mạng chuyển sang giai đoạn mới càng cần quan tam công
tác xây dựng Đảng, việc “cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”. Hồ Chí Minh chỉ ra
Đảng phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn trên những nội dung: Tăng cường công tác xây dựng Đảng cả
về chính trị, tư tưởng, tổ chức, phương thức lãnh đạo, đạo đức, lối sống; luôn luôn chú ý đề
phòng và khắc phục những biểu hiện tiêu cực, thoái hóa, biến chất; thường xuyên giáo dục, rèn
luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên toàn tâm, toàn ý phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ
nhân dân; vươn lên kịp thời đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới do sự biến đổi của
tình hình trong nước và tình hình quốc tế.
e,Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng
Xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân là quan điểm tư tưởng nhất quán
của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là kim chỉ nam định hướng cho toàn bộ quá trình tổ chức, xây dựng
và hoạt động của Nhà nước ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền của
dân, do dân và vì dân là bước phát triển mới và sự vận dụng sáng tạo của chủ nghĩa Mác - Lê nin
kết hợp chủ nghĩa yêu nước, truyền thống văn hóa Việt Nam, tinh hoa văn hóa phương Đông và
phương Tây
Nhà nước của dân, do dân và vì dân theo Hồ Chí Minh là Nhà nước thực hiện quyền lực của
nhân dân, dựa vào sức mạnh của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động. Nhân dân theo quan
niệm của Hồ Chí Minh là toàn dân, là tất cả đàn ông, đàn bà, người già người trẻ , không phân
biệt giai cấp, dân tộc, đảng phái, tôn giáo,
sNgười cho rằng “ trong bầu trời không có
gì quí bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”
Trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta (1946) do đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo,