LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là luận văn được nghiên cứu độc lập của riêng tôi. Tất
cả các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực,
đáng tin cậy và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về luận văn này.
Hải Phòng, ngày
tháng
Tác giả
Bùi Thị Ngọc Tuyết
i
năm 2016
LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập theo chương trình Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý kinh
tế tại trường Đại học Hàng hải Việt Nam, rất phấn khởi tôi đã hoàn thành chương
trình học và hoàn thiện luận văn tốt nghiệp của mình với đề tài: “Một số biện pháp
nâng cao hiệu quả kiểm soát chi ngân sách nhà nước của Kho bạc nhà nước
quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng"
Để hoàn thành chương trình học tập và luận văn này, bản thân tôi đã nhận
được sự giúp đỡ tận tình của Lãnh đạo Viện Sau đại học, trường Đại học Hàng
Viiẹt Nam, các thầy giáo, cô giáo, các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên của Kho bạc
Nhà nước Dương Kinh. Tôi xin được trân trọng gửi lời cảm ơn tới các Thầy giáo,
cô giáo của Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, các đồng chí lãnh đạo, chuyên
viên của Kho bạc Nhà nước quận Dương Kinh, và đặc biệt gửi lời cảm ơn sâu sắc
đến cô giáo – PGS.,TS. Nguyễn Thị Phương - Trường Đại học Giao thông vận
tải là người trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
Ngân sách nhà nước
Ngân sách trung ương
Kho bạc nhà nước
Đầu tư xây dựng
Quản lý dự án
Cơ quan tài chính
Xã hội chủ nghĩa
Hội đồng nhân dân
Ủy ban nhân dân
Cán bộ công chức
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
iv
Số bảng
2.1
2.2
Tên bảng
Số lượng đơn vị và tài khoản giao dịch với Kho bạc nhà
nước Dương Kinh, Thành Phố Hải Phòng
Tình hình chi ngân sách nhà nước của Kho bạc nhà nước
Dương Kinh
Trang
32
33
1.2
Quy trình chi Ngân sách nhà nước bằng tiền mặt
18
1.3
Quy trình chi Ngân sách bằng chuyển khoản
19
3.1
Mô hình kiểm soát chi “một cửa”
58
vi
LỜI MỞ ĐẦU
1. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Quản lý NSNN là một trong những nhiệm vụ quan trọng của quản lý nhà
nước trong mọi thời kỳ. Nhất là trong bối cảnh chung của đất nước trong vài năm
trở lại đây tình hình kinh tế đang gặp nhiều khó khăn, thu ngân sách đạt kết quả
thấp thì quản lý ngân sách nhà nước càng có vai trò quan trọng. Trong đó quản lý
chi ngân sách là yêu cầu không thể thiếu. Quản lý chi ngân sách đúng quy định góp
phần vào giúp nhà nước quản lý sử dụng và phân bổ kinh phí đúng mục đích, có
thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát chi NSNN tại địa phương trong thời
gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các khoản chi thường xuyên và chi Đầu tư xây dựng
cơ bản của KBNN cấp huyện.
Phạm vi nghiên cứu là hoạt động kiểm soát chi NSNN của KBNN Dương
Kinh, với số liệu chi NSNN từ năm 2011 đến 2015. Bên cạnh đó đề tài nghiên cứu
hoạt động kiểm soát chi trong mối quan hệ với các nhân tố bên trong và bên ngoài
tác động đến kiểm soát chi NSNN của KBNN Dương Kinh, Thành phố Hải Phòng.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng; duy vật lịch sử,
cùng với các phương pháp so sánh, thống kê, phân tích, hệ thống…
5. Kết cấu của Luận văn
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quản lý và kiểm soát chi NSNN qua
KBNN.
Chương 2: Thực trạng hiệu quả kiểm soát chi NSNN tại KBNN Dương
Kinh, Thành phố Hải Phòng.
Chương 3: Biện pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát chi NSNN qua
KBNN Dương Kinh, Thành phố Hải Phòng.
2
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ VÀ KIỂM SOÁT CHI
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC
1.1. CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.1. Chi ngân sách nhà nước
1.1.1.1. Ngân sách nhà nước
nhiệm vụ, hoạt động của các cơ quan đơn vị
b. Phân loại chi ngân sách nhà nước
Phân loại chi là việc xắp xếp các khoản chi theo quy định vào các sự nghiệp,
nhiệm vụ chi theo quy định.
Về nội dung chi NSNN tùy thuộc vào vai trò của nhà nước trong quản lý
kinh tế, chính trị, xã hội ở mỗi thời kỳ lịch sử mà chi NSNN có những nội dung và
cơ cấu khác nhau.
Việc phân loại chi NSNN có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác quản lý
chi ngân sách. Qua việc phân loại đó sẽ có biện pháp quản lý hiệu quả, phù hợp với
đặc điểm, tính chất của từng nội dung chi. Mục đích của việc phân loại chi NSNN
là nhằm: Thực hiện kế toán chi NSNN; thống kê tình hình chi NSNN, giúp cho
việc xây dựng dự toán chi ngân sách hợp lý chính xác, giúp cho cơ quan có thẩm
quyền đề ra những chính sách thích hợp nhất trong việc quản lý và điều hành chi,
tạo điều kiện cho các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách theo dõi, kiểm tra, giám
sát, thực hiện và sử dụng nguồn lực Tài chính công của đơn vị
Thông thường, việc phân loại chi NSNN gắn liền với tiêu thức phân loại và
có một số tiêu thức phân loại chủ yếu sau:
Theo mục đích kinh tế - xã hội của các khoản chi, thì chi NSNN được chia
thành chi đầu tư phát triển và chi cho tiêu dùng
Theo tính chất của các khoản chi, thì chi NSNN được chia thành: Chi Sự
nghiệp y tế; Sự nghiệp giáo dục; Quản lý hành chính; Phúc lợi xã hội; Đầu tư phát
triển kinh tế - xã hội.
Theo yếu tố, thì chi NSNN được chia thành: Chi đầu tư xây dựng cơ bản; chi
thường xuyên và chi khác.
Theo đối tượng trực tiếp của mỗi khoản chi, thì chi NSNN có thể chia thành:
Chi cho con người (bao gồm chi trả lương, các khoản có tính chất lương…); chi
4
Chi NSNN được quản lý bằng pháp luật. Mọi Nhà nước đều quản lý chi
NSNN bằng Luật. Đây là đặc điểm quan trọng nhìn nhận và đánh giá đúng đặc
điểm này sẽ giúp Nhà nước và các cơ quan chức năng đưa ra các cơ chế, chính
sách quản lý và điều hành chi đúng luật, đảm bảo tính hiệu quả và công khai.
Quản lý chi NSNN sử dụng tổng hợp nhiều biện pháp. Nhưng quan trọng
nhất là biện pháp hành chính – tổ chức. Biện pháp này tác động vào đối tượng
quản lý theo 2 hướng sau:
Nhà nước tác động trực tiếp đối với các chủ thể sử dụng nguồn lực chi
NSNN. Bằng việc ra các mệnh lệnh hành chính bắt buộc đảm bảo sự tuân thủ một
cách vô điều kiện.
Cơ quan quyền lực Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật.
Quy định biện pháp tổ chức, sắp xếp, bố trí các hoạt động chi NSNN vào những
khuôn mẫu đã được định hình.
Biện pháp hành chính – tổ chức đảm bảo tính thống nhất, tính chỉ huy,
quyền lực của Nhà nước trong quản lý chi NSNN. Đặc điểm này thể hiện rõ nét
trong cơ chế quản lý chi NSNN ở Việt Nam. chi NSNN Việt Nam là Ngân sách
được quản lý tập trung thống nhất, đảm bảo quyền quyết định của Quốc hội và sự
điều hành thống nhất của Chính phủ đối với chi NSNN; đồng thời có phân công,
phân cấp quản lý, tăng cường trách nhiệm của chính quyền địa phương.
Hiệu quả của công tác quản lý chi NSNN khó đo được bằng các chỉ tiêu
định lượng. Trong nhiều trường hợp kết quả của các khoản chi NSNN đem lại có
thể lượng hóa được. Nhưng đối với kết quả của công tác quản lý chi NSNN lại rất
trừu tượng và khó định lượng. Ví dụ, chất lượng của dự toán chi NSNN, chất
lượng của công tác kiểm soát chi… Tuy nhiên, hiệu quả công tác quản lý chi
NSNN sẽ góp phần quyết định đến hiệu quả của các khoản chi NSNN. Vì vậy, khi
xem xét hiệu quả công tác quản lý chi NSNN đòi hỏi chúng ta phải có quan điểm
biện chứng, quan điểm toàn diện.
giao theo quy định của pháp luật; thực hiện việc huy động vốn cho NSNN, cho đầu
7
tư phát triển qua hình thức phát động công trái, trái phiếu theo qui định của pháp
luật. KBNN có chức năng cơ bản là:
- Quản lý nhà nước về quỹ NSNN, các quỹ Tài chính nhà nước và các quỹ
khác của nhà nước được giao quản lý.
- Huy động vốn cho NSNN, cho đầu tư phát triển qua hình thức phát hành
công trái và trái phiếu.
Thực hiện và cụ thể hóa các chức năng nêu trên, Chính phủ, Bộ Tài chính
quy định nhiệm vụ của KBNN bao gồm những nhiệm vụ chuyên môn theo chức
năng và nhiệm vụ quản lý nội ngành.
1.2.1.3. Nhiệm vụ của KBNN
Tập trung các khoản thu NSNN (bao gồm cả thu viện trợ, vay nợ trong nước
và ngoài nước); thực hiện hạch toán số thu NSNN cho các cấp ngân sách theo qui
định của pháp luật.
Tổ chức chi, kiểm soát, thanh toán, chi trả các khoản chi từ NSNN theo qui
định của pháp luật
KBNN có quyền trích từ tài khoản tiền gửi của tổ chức, cá nhân để nộp
NSNN hoặc áp dụng các biện pháp hành chính khác để thu chi NSNN theo quy
định của pháp luật; có quyền từ chối thanh toán, chi trả các khoản chi không đúng,
không đủ điều kiện theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc ủy
thác của các đơn vị.
Tổ chức huy đọng vốn trong nước và ngoài nước cho NSNN và cho đầu tư
phát triển thông qua phát hành công trái, trái phiếu theo đúng quy định của pháp
luật; thực hiện một số dịch vụ tín dụng nhà nước theo qui định của pháp luật và
phải chịnh trách nhiệm về quyết định của mình.
Tổ chức hạch toán kế toán NSNN, hạch toán các quỹ và tài sản của nhà
giao cho. Tuy nhiên, việc lượng hóa các kết quả của các khoản chi NSNN thường
rất khó khăn và nhiều khi không toàn diện. Mặt khác, lợi ích của các khoản chi
NSNN mang lại thường ít gắn với lợi ích cụ thể, cục bộ. Vì thế, sự quan tâm của
người sử dụng NSNN phần nào bị hạn chế. Do vậy, cần thiết khoản chi của NSNN
để đảm bảo cho việc Nhà nước sẽ nhận được những kết quả tương xứng với số
kinh phí mà Nhà nước đã bỏ ra.
9
Chi NSNN là diễn ra trên phạm vi rộng, liên quan đến nhiều đối tượng
trong xã hội. Trong khi đó, cơ chế quản lý chi NSNN thì chỉ quy định được những
vấn đề chung nhất, mang tính nguyên tắc, không thể bao quát hết tất cả các vấn đề
nảy sinh trong quá trình thực hiện chi NSNN. Hơn nữa, cùng với sự phát triển kinh
tế - xã hội, hoạt động chi NSNN cũng ngày càng đa dạng hơn, phức tạp hơn. Điều
này làm cho cơ chế quản lý chi nhiều khi không theo kịp với sự biến động của hoạt
động chi NSNN. Ví dụ như: Cấp phát nhưng thực chất chỉ mang tính chất xuất quỹ
NSNN, cho đơn vị rút về chi tiêu; phân bổ dự toán không chính xác; hệ thống tiêu
chuẩn, định mức không đồng bộ, xa rời thực tế.
Chính sách và cơ chế kiểm soát chi phải làm cho hoạt động của NSNN đạt
hiệu quả cao, tác động tích cực đến sự phát triển của nền kinh tế, tránh tình trạng
làm cho quỹ NSNN bị cắt đoạn, phân tán, gây căng thẳng trong quá trình điều hành
NSNN của chính quyền các cấp. Vì vậy, chính sách và cơ chế kiểm soát chi phải
quy định rõ ràng các điều kiện, trình tự và các quy trình cụ thể để cơ quan Tài
chính thực hiện cấp phát kinh phí trên cơ sở dự toán được cấp có thẩm quyền giao.
Kho bạc trực tiếp thực hiện chi, trả các khoản chi NSNN cho các đơn vị thụ hưởng
đảm bảo đúng chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu của Nhà nước.
Công tác kiểm soát chi NSNN là một quy trình phức tạp, bao gồm nhiều
khâu, nhiều bước, từ lập dự toán, phân bổ dự toán đến cấp phát, thanh toán, hạch
toán và quyết toán NSNN. Một quy trình có liên quan đến nhiều ngành nhiều cấp,
tài chính) có trách nhiệm thẩm định dự toán và thông báo dự toán cho các đơn vị
sử dụng kinh phí ngân sách; kiểm tra việc sử dụng kinh phí, xét duyệt quyết toán
chi của các đơn vị và tổng hợp quyết toán chi NSNN.
KBNN có trách nhiệm kiểm soát các hồ sơ, chứng từ, điều kiện chi và thực
hiện cấp phát, thanh toán kịp thời các khoản chi NSNN theo đúng quy định; tham
gia với các cơ quan Tài chính, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong việc
kiểm tra tình hình sử dụng NSNN và xác nhận số thực chi NSNN qua KBNN của
các đơn vị sử dụng NSNN.
KBNN có quyền tạm đình chỉ, từ chối thanh toán, chi trả và thông báo cho
đơn vị sử dụng NSNN biết, đồng thời gửi cơ quan Tài chính đồng cấp giải quyết
trong các trường hợp sau:
11
Chi không đúng mục đích, đối tượng theo dự toán được duyệt.
Chi không đúng chế độ, định mức chi tiêu tài chính của Nhà nước.
Không đủ các điều kiện chi theo quy định.
Mọi khoản chi NSNN được hạch toán bằng đồng Việt Nam theo từng niên
độ ngân sách và theo Mục lục NSNN. Các khoản chi NSNN bằng ngoại tệ, hiện
vật, ngày công lao động được quy đổi và hạch toán chi bằng đồng Việt Nam theo
tỷ giá ngoại tệ, giá hiện vật, ngày công lao động do cơ quan có thẩm quyền quy
định.
Trong quá trình quản lý, cấp phát, quyết toán chi NSNN các khoản chi sai
phải thu hồi giảm chi. Căn cứ vào quyết định của cơ quan Tài chính hoặc quyết
định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, KBNN thực hiện việc thu hồi giảm chi
NSNN.
b. Điều kiện cấp phát, thanh toán
KBNN chỉ thực hiện chi trả, thanh toán các khoản NSNN khi có đủ các điều
kiện sau:
ngân sách phê duyệt làm căn cứ để kiểm soát.
Đã được chuẩn chi:
Chuẩn chi là đồng ý chi, cho phép chi hoặc quyết định chi trong quản lý và
điều hành NSNN. Khi thẩm định hồ sơ thanh toán, KBNN phải kiểm soát việc
quyết định chi của chủ tài khoản đối với bất kỳ khoản chi nào hay gọi là kiểm tra
lệnh chuẩn chi. Thẩm quyền chuẩn chi phải là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị
hoặc người được uỷ quyền (gọi chung là chủ tài khoản) đã được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền phê duyệt. Tất cả các chủ tài khoản phải đăng ký chữ ký bằng tay,
mẫu dấu cơ quan, đơn vị và các văn bản pháp lý chứng minh quyền lực (quyết định
đề bạt, văn bản uỷ quyền) với cơ quan KBNN nơi giao dịch. Giấy rút dự toán phải
ghi rõ ràng, đầy đủ các yếu tố theo đúng mẫu qui định. Đối với các khoản chi được
cơ quan tài chính cấp trực tiếp bằng “Lệnh chi tiền”; cơ quan tài chính có nhiệm vụ
kiểm tra, kiểm soát nội dung, tính chất của từng khoản chi bảo đảm các điều kiện
cấp phát NSNN theo qui định. KBNN có trách nhiệm thanh toán, chi trả cho đơn vị
sử dụng NSNN theo nội dung ghi trong “Lệnh chi tiền” của cơ quan tài chính.
13
Có đầy đủ hồ sơ, chứng từ thanh toán:
Mỗi khoản chi đều phải lập theo mẫu chứng từ đã được quy định và hồ sơ
chứng từ thanh toán kèm theo phải đảm bảo tính hợp pháp, hợp lệ. KBNN có trách
nhiệm kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ trước khi thanh toán, chi trả kinh phí NSNN
cho đơn vị sử dụng.
1.2.3. Nội dung, đặc điểm của kiểm soát chi NSNN của KBNN
1.2.3.1. Nội dung của kiểm soát chi NSNN của KBNN
Kiểm soát chi NSNN của KBNN là việc KBNN thực hiện kiểm tra, kiểm
soát các khoản chi KBNN theo các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn và định mức và
phương pháp quản lý tài chính trong quá trình cấp phát, thanh toán và chi trả các
khoản chi của NSNN.
tắc lập chứng từ kế toán, các yếu tố ghi trên chứng từ phải đảm bảo tính đúng đắn;
phải có đầy đủ con dấu, chữ ký của chủ tài khoản, kế toán trưởng (hoặc người
được uỷ quyền) đúng với mẫu dấu, chữ ký đã đăng ký tại Kho bạc khi mở tài
khoản.
Kiểm tra các điều kiện chi theo chế độ quy định gồm: Các khoản chi phải
còn đủ số dư dự toán để thực hiện chi trả; bảo đảm đúng chế độ, tiêu chuẩn, định
mức do cấp có thẩm quyền quy định; có đầy đủ các hồ sơ, hoá đơn, chứng từ liên
quan tuỳ theo tính chất của từng khoản chi.
Kiểm tra tồn quỹ NSNN của cấp ngân sách tương ứng với khoản chi. Tồn
quỹ ngân sách phải đủ để cấp phát theo yêu cầu của đơn vị sử dụng NSNN (KBNN
tỉnh, KBNN huyện không phải kiểm tra tồn quỹ NSNN cấp trung ương khi chi
NSTW)
1.2.3.2. Đặc điểm kiểm soát chi NSNN của KBNN
Kiểm soát chi NSNN có một số đặc điểm sau đây:
Kiểm soát chi NSNN gắn liền với những khoản chi thường xuyên. Do vậy,
phần lớn công tác kiểm soát chi diễn ra đều đặn trong năm, ít có tình thời vụ, ngoại
trừ những khoản chi mua sắm tài sản, sửa chữa lớn tài sản cố định…
Kiểm soát chi NSNN diễn ra trên nhiều lĩnh vực và rất nhiều nội dung nên
rất đa dạng và phức tạp. Chính vì thế, những quy định trong kiểm soát chi cũng
15
hết sức phong phú, với từng lĩnh vực chi có những quy định riêng, từng nội dung,
từng tính chất nguồn kinh tế cũng có những tiêu chuẩn, định mức riêng…
Kiểm soát chi NSNN bị áp lực lớn về mặt thời gian vì phần lớn những khoản
chi đều mang tính cấp thiết như: Chi về tiền lương, tiền công, học bổng… gắn với
cuộc sống hàng ngày của cán bộ, công chức, học sinh, sinh viên; các khoản chi về
chuyên môn nghiệp vụ nhằm đảm bảo duy trì hoạt động thường xuyên của bộ máy
nhà nước nên những khoản chi này cũng đòi hỏi phải được giải quyết kinh phí
Chuyển tiền
thưởng
trong nội bộ
một KBNN
Thanh toán
bù trừ điện
tử với
NHNN
Thanh toán
điện tử
trong hệ
thống
KBNN
Đơn vị hưởng tiền trên chứng từ do chủ tài
khoản4chỉ định
Sơ đồ 1.1: Quy trình chi NSNN của KBNN
16
Ghi chú:
(1) Gửi hồ sơ, chứng từ.
(2) Xử lý chứng từ: Thực hiện kiểm soát đối chiếu các khoản chi so với dự
toán NSNN giao, đảm bảo có trong dự toán được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
giao. Kiểm tra, kiểm soát tính hợp pháp, hợp lệ của các hồ sơ, chứng từ theo qui
định đối với từng khoản chi, kiểm tra, kiểm soát các khoản chi đảm bảo đúng chế
(3)
(1)
Kế toán
KBNN
(2)
(5)
Người nhận tiền
(4)
Thủ quỹ
KBNN
Sơ đồ 1.2: Quy trình chi NSNN bằng tiền mặt
Ghi chú:
(1) Đơn vị lập giấy rút dự toán NSNN kèm theo hồ sơ, chứng từ thanh toán
gửi cán bộ kiểm soát chi KBNN (bộ phận kế toán, thanh toán vốn đầu tư hoặc bộ
phận kế hoạch tùy theo từng loại nguồn vốn)
(2) Cán bộ kiểm soát chi KBNN tiếp nhận hồ sơ, chứng từ chi để kiểm tra,
kiêm soát và xử lý như sau:
Nếu các khoản chi chưa đủ điều kiện thanh toán do hồ sơ, chứng từ chưa đầy
đủ, viết sai các yếu tố trên chứng từ… trả lại hồ sơ, chứng từ và hướng dẫn đơn vị
hoàn chỉnh theo quy định.
Nếu khoán chi không đúng chế độ quy định thì trực tiếp từ chối thanh toán,
hoặc trình Giám đốc Kho bạc từ chối thanh toán, trả lại hồ sơ, chứng từ và thông
báo cho đơn vị biết nội dung từ chối thanh toán.
Nếu hồ sơ thủ tục đầy đủ theo quy định thì trình lãnh đạo Kho bạc duyệt cấp
Ngân hàng
phục vụ
Người nhận tiền
Sơ đồ 1.3: Quy trình chi NSNN bằng chuyển khoản
Ghi chú:
(1) Đơn vị lập giấy rút dự toán NSNN kèm theo hồ sơ, chứng từ thanh toán
gửi cán bộ kiểm soát chi KBNN (bộ phận kế toán, thanh toán vốn đầu tư hoặc bộ
phận kế hoạch tùy theo từng loại nguồn vốn).
(2) Cán bộ kiểm soát chi KBNN tiếp nhận hồ sơ, chứng từ chi để kiểm tra,
kiểm soát và xử lý như sau:
19