Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí tại Công ty Cổ phần
khách sạn du lịch thương mại Ngôi Sao Hải Phòng
Sinh viên: Nguyễn Thị The – Lớp QT1001P
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc hội nhập và phát triển đất nước đòi hỏi mỗi doanh nghiệp
phải tự chủ trong sản xuất kinh doanh, tự quyết định, tự chịu trách nhiệm về kết
quả thực hiện của mình. Và để hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao
thì các doanh nghiệp phải chú trọng đến thực trạng, xu thế biến động của môi
trường kinh doanh trong nước và ngoài nước.
Việc Việt Nam gia nhập WTO từ tháng 11/2006 sẽ tạo cho các doanh
nghiệp khách sạn Việt Nam cơ hội mở rộng quan hệ hợp tác đầu tư , chuyển
giao công nghệ quản lý với đối tác nước ngoài, cung cấp cho các doanh nghiệp
nguồn khách, trang thiết bị, sản phẩm dịch vụ, công nghệ, thông tin, mạng lưới
thị trường khách, học hỏi kinh nghiệm đầu tư, kỹ năng quản lý kinh doanh…
Cùng với hội nhập kinh tế quốc tế, sự cạnh tranh trong nước ngày càng
quyết liệt, các doanh nghiệp khách sạn sẽ phải đương đầu với nhiều đối thủ là
các doanh nghiệp nước ngoài rất mạnh, rất chuyên nghiệp, ngay trên địa bàn
truyền thống của mình.
Một vấn đề đặt ra là làm thế nào để các doanh nghiệp khách sạn nâng cao
được năng lực cạnh tranh, kinh doanh có hiệu quả hơn trong điều kiện hội nhập
và toàn cầu hóa kinh tế.
Đối với hoạt động kinh doanh du lịch, kinh doanh khách sạn có vai trò và
vị trí quan trọng. Tuy nhiên quan hệ cung cầu về dịch vụ lưu trú là chưa tương
xứng. Hệ thống khách sạn chỉ phát triển mạnh sau năm 1995 nên kinh nghiệm
quản lý, tay nghề còn hạn chế, đầu tư nước ngoài chưa nhiều, các dịch vụ vui
chơi giải trí còn ít. Điều này dẫn đến tình trạng cạnh tranh gay gắt giữa các
doanh nghiệp khách sạn trên cùng địa bàn.
Xem xét, phân tích và đánh giá lại thực trạng sản xuất kinh doanh, nâng
cao chất lượng sản phẩm dịch vụ của mình là một việc làm cần thiết, trong đó
khách sạn
Nêu ra những điểm mạnh, điểm yếu để từ đó đưa ra những biện pháp bố
trí hợp lý hoạt động của các bộ phận trong khách sạn.
Đưa ra những chiến lược kinh doanh mới, các biện pháp nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng chi phí trong kinh doanh khách sạn
Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí tại Công ty Cổ phần
khách sạn du lịch thương mại Ngôi Sao Hải Phòng
Sinh viên: Nguyễn Thị The – Lớp QT1001P
3
3. Đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng
Đối tượng nghiên cứu: chi phí sản xuất kinh doanh khách sạn nhà hàng, lữ
hành và các dịch vụ khác thuộc Công ty Cổ phần khách sạn du lịch thương mại
Ngôi Sao Hải Phòng.
3.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong khi làm luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính
sau:
- Phương pháp phân tích tổng hợp so sánh
Phương pháp này được sử dụng để xử lý tư liệu về tình hình sử dụng chi
phí của Công ty trong những năm qua để có những đánh giá xác thực về tiềm
năng và những hạn chế của khách sạn
- Phương pháp dự báo
Tiềm năng của khách sạn đã được phân tích và dự báo phát triển du lịch
Việt Nam, Hải Phòng trong tương lai để đưa ra những dự báo về sự phát triển
của khách sạn trong tương lai, xác định cho khách sạn một tầm cao mới, một cái
đích để khách sạn theo đuổi.
4. Những đề xuất hoặc giải pháp của luận văn
Nêu lên những khái niệm cơ bản về khách sạn, chi phí kinh doanh khách
sạn.
1.1.1. Khái niệm khách sạn
Khách sạn là một loại hình tổ chức lưu trú, là một khâu đóng vai trò quan
trọng trong kinh doanh du lịch. Khi nói đến khách sạn người ta sẽ hiểu cơ bản
rằng khách sạn là cơ sở kinh doanh về dịch vụ lưu trú. Do nhu cầu hàng ngày
càng cao và đa dạng, đồng thời các chủ doanh nghiệp muốn mở rộng phạm vi
của mình nên ngoài dịch vụ lưu trú khách sạn còn kinh doanh các dịch vụ ăn
uống và các dịch vụ bổ sung khác.
Như vậy khách sạn là cơ sở kinh doanh dịch vụ khách lưu trú trong một
thời gian ngắn, đáp ứng các nhu cầu về các mặt ăn uống, nghỉ ngơi, vui chơi giải
trí và các dịch vụ cần thiết khác. Chất lượng và sự đa dạng của dịch vụ hoạt
động trong kinh doanh khách sạn là thu được lợi nhuận.
Có thể nói khách sạn chính là một loại cơ sở lưu trú không những đáp ứng
nhu cầu nghỉ ngơi, ăn uống mà còn làm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng khác của
các loại khách du lịch từ các nước khác nhau, trình độ nghề nghiệp với các mục
đích khác nhau.
1.1.2. Khái niệm kinh doanh khách sạn
Xuất phát từ việc nghiên cứu về các loại hình kinh doanh lưu trú ta có thể
định nghĩa kinh doanh khách sạn như sau: Kinh doanh khách sạn là hoạt động
kinh doanh các dịch vụ cho thuê buồng ngủ, ăn uống và các dịch vụ bổ sung
khác của khách sạn nhằm thỏa mãn nhu cầu chính đáng của khách du lịch tại
điểm du lịch với mục đích thu lợi nhuận.
Như vậy kinh doanh khách sạn phải bao gồm cả 3 hoạt động đó là:
+ Hoạt động cho thuê buồng ngủ
+ Hoạt động kinh doanh ăn uống
+ Hoạt động kinh doanh các dịch vụ bổ sung
Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí tại Công ty Cổ phần
khách sạn du lịch thương mại Ngôi Sao Hải Phòng
Sinh viên: Nguyễn Thị The – Lớp QT1001P
6
Do đó nếu thiếu một trong ba hoạt động trên thì không được coi là hoạt
khách sạn du lịch thương mại Ngôi Sao Hải Phòng
Sinh viên: Nguyễn Thị The – Lớp QT1001P
7
- Chức năng tổ chức tiêu thụ sản phẩm: Tạo ra điều kiện cần thiết với tiện
nghi đầy đủ, chất lượng phục vụ cao để khách tiêu thụ sản phẩm tại chỗ.
Ba chức năng gắn bó chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau, thiếu một trong ba
chức năng đó sẽ dẫn đến việc thay đổi hoàn toàn chất lượng của hoạt động
khách sạn (loại hoạt động cơ bản thứ hai). Ví dụ: không có chức năng sản xuất
thì không có món ăn đồ uống phục vụ khách, không có chức năng lưu thông thì
nó chỉ là hoạt động mang tính xã hội như việc cung cấp các món ăn ở bệnh viện,
nhà tập thể… không có chức năng tổ chức thì nó cũng chỉ là nơi bán cá thức ăn
đồ uống như ở các cửa hàng.
+ Đối với các dịch vụ bổ sung:
Loại hình dịch vụ này ngày càng phát triển về số lượng, thể loại và chất
lượng. Các dịch vụ bổ sung có thể được chia ra thành:
* Dịch vụ đáp ứng nhu cầu cần thiết cho sinh hoạt thường ngày của
khách.
- Thông tin các loại: Cơ sở vui chơi giải trí, mua bán hàng hóa, đồ lưu
niệm, thông tin về chính trị, kinh tế, xã hội…
- Dịch vụ sinh hoạt: Giặt là, chữa giày, dép, may đo quần áo, đổi ngoại
tệ…
- Dịch vụ môi giới: Đăng ký vé máy bay, tàu xe…
- Dịch vụ giao thông: Cho thuê ô tô, trông coi phương tiện giao thông…
- Cho thuê video, đài, dụng cụ thể thao, castle…
* Dịch vụ phục vụ khách có khả năng thanh toán cao.
- Cho thuê hướng dẫn, thư ký riêng, phiên dịch riêng.
- Cho thuê các loại nhạc cụ.
* Dịch vụ nâng cao nhận thức cho khách về địa phương, đất nước.
- Tổ chức tham quan khách sạn, địa phương.
- Tổ chức hội thảo, triển lãm trưng bày
Mặt khác, khả năng tiếp nhận của tài nguyên du lịch ở mỗi điểm du lịch sẽ
quyết định đến quy mô của các khách sạn trong vùng. Chính vì vậy khi đầu tư
vào kinh doanh khách sạn đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ các chỉ số kĩ thuật của một
công trình khách sạn khi đầu tư xây dựng và thiết kế.
Khi các điều kiện khách quan tác động tới giá trị và sức hấp dẫn của tài
nguyên du lịch thay đổi sẽ đòi hỏi sự điều chỉnh về cơ sở vật chất kỹ thuật nào
cho phù hợp. Bên cạnh đó, đặc điểm về kiến trúc quy hoạch và đặc điểm về cơ
Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí tại Công ty Cổ phần
khách sạn du lịch thương mại Ngôi Sao Hải Phòng
Sinh viên: Nguyễn Thị The – Lớp QT1001P
9
sở vật chất kỹ thuật của các khách sạn tại các điểm du lịch cũng có ảnh hưởng
tới việc làm tăng hay giảm giá trị của tài nguyên du lịch tại các trung tâm du
lịch.
Kinh doanh khách sạn đòi hỏi dung lƣợng vốn đầu tƣ lớn
Đặc điểm này xuất phát từ nguyên nhân do yêu cầu về tính chất lượng cao
của sản phẩm khách sạn: đòi hỏi các thành phần của cơ sở vật chất kĩ thuật của
khách sạn tăng lên cùng với sự tăng lên của thứ hạng khách sạn. Sự sang trọng
của các thiết bị được lắp đặt bên trong khách sạn chính là một nguyên nhân đẩy
chi phí đầu tư ban đầu của công trình khách sạn cao lên.
Ngoài đặc điểm này còn xuất phát từ một nguyên nhân khác như: chi phí
ban đầu cho cơ sở hạ tầng của khách sạn cao, chi phí đất đai cho công trình
khách sạn rất lớn.
Kinh doanh khách sạn đòi hỏi dung lƣợng lao động trực tiếp rất lớn
Sản phẩm của khách sạn chủ yếu mang tính chất phục vụ và sự phục vụ
này không thể cơ giới hóa được mà chỉ được thực hiện bởi những nhân viên
phục vụ trong khách sạn. Mặt khác, lao động trong khách sạn có tính chuyên
môn hóa khá cao, thời gian lao động lại phụ thuộc vào thời gian tiêu dùng của
khách, thường kéo dài 24/24 h mỗi ngày. Do vậy cần phải sử dụng số lượng lao
động phục vụ trực tiếp trong khách sạn.
phải tổ chức phục vụ ăn uống phù hợp với yêu cầu tập quán của khách du lịch
chứ không thể bắt khách phải tuân theo tập quán của địa phương.
- Các khách sạn thường nằm ở những nơi cách xa địa điểm cư trú thường
xuyên của khách nên các khách sạn phải tổ chức ăn uống toàn bộ cho khách du
lịch kể cả các bữa ăn chính, các bữa ăn phụ và phục vụ đồ uống.
- Phải tạo ra những điều kiện và phương thức phục vụ nhu cầu ăn uống
thuận lợi nhất cho khách tại các điểm du lịch và tại khách sạn: như tổ chức phục
vụ ăn sáng và đồ uống ngay tại những nơi mà khách ưa thích nhất như ngoài bãi
biển, các trung tâm thể thao, phòng họp… gọi là phục vụ tại chỗ.
- Việc phục vụ ăn uống cho khách đi du lịch đồng thời cũng là hình thức
giải trí cho khách. Vì thế ngoài các dịch vụ ăn uống, các doanh nghiệp khách sạn
còn chú ý tổ chức hoạt động giải trí cho khách và kết hợp những yếu tố dân tộc
cổ truyền trong cách bài trí kiến trúc, cách mặc đồng phục của nhân viên phục
vụ hay ở hình thức các dụng cụ ăn uống và các món ăn đặc sắc của nhà hàng.
Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí tại Công ty Cổ phần
khách sạn du lịch thương mại Ngôi Sao Hải Phòng
Sinh viên: Nguyễn Thị The – Lớp QT1001P
11
1.1.5. Sản phẩm của khách sạn
Theo marketing hiện đại thì cho dù sản phẩm của bất kỳ loại hình doanh
nghiệp nào đi chăng nữa thì sản phẩm cũng được hiểu là:
Sản phẩm của một doanh nghiệp là tất cả mọi hàng hóa và dịch vụ có thể
đem chào bán, có khả năng thỏa mãn một nhu cầu hay mong muốn của con
người, gây sự chú ý, kích thích sự mua sắm và tiêu dùng của họ.
Đối với một khách sạn thì sản phẩm được hiểu như sau:
Sản phẩm của khách sạn là tất cả những dịch vụ và hàng hóa mà khách
sạn cung cấp nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng kể từ khi họ liên hệ với
khách sạn lần đầu để đăng ký buồng cho tới khi tiêu dùng xong và rời khỏi
khách sạn.
vật chất kỹ thuật nhất định.
1.2. Chi phí kinh doanh khách sạn
1.2.1. Khái niệm chi phí
- Khái niệm chung: chi phí là giá trị của những gì phải từ bỏ để có thể đạt
được hoặc có được một thứ gì đó thông qua sản xuất, trao đổi và các hoạt động
của con người.
- Khái niệm riêng: chi phí kinh doanh khách sạn là giá trị toàn bộ những
hao phí lao động xã hội cần thiết ( gồm lao động sống và lao động vật hóa) để
thực hiện việc sản xuất và cung ứng các sản phẩm khách sạn – du lịch.
Chi phí trong kinh doanh khách sạn đều được biểu hiện ra bằng tiền,
khoản chi phí được biểu hiện ra bằng tiền như: chi phí tiền lương, điện, nước,
vận chuyển… Có những hao phí về hiện vật được quy ra tiền như: hao phí về tài
sản cố định, vật rẻ tiền mau hỏng, nhiên liệu, hao hụt nhiên liệu, hàng hóa…
1.2.2. Đặc điểm chi phí kinh doanh khách sạn
Chi phí kinh doanh khách sạn luôn luôn đƣợc biểu hiện dƣới hình
thái tiền tệ
Dùng tiền tệ để biểu hiện cho chi phí vì trong kinh doanh đòi hỏi nhiều
chi phí khác nhau nên cần phải thống nhất một đại lượng để xác định được toàn
bộ chi phí, các chi phí phát sinh khác nhau…
Chi phí kinh doanh khách sạn được biểu hiện dưới nhiều hình thức, trong
đó:
Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí tại Công ty Cổ phần
khách sạn du lịch thương mại Ngôi Sao Hải Phòng
Sinh viên: Nguyễn Thị The – Lớp QT1001P
13
- Biểu hiện trực tiếp là chi phí hiện vật là sự hao mòn của các tài sản cố
định, công cụ lao động, nhiên liệu, hao hụt bằng hiện vật đó cũng được chuyển
thành tiền.
- Biểu hiện trực tiếp bằng tiền đó là tiền lương, tiền trả cho các công dịch
vụ như vận chuyển, điện thoại…
sạn
Về góc độ kinh tế, tiết kiệm chi phí là một trong những biện pháp cơ bản
để doanh nghiệp có thể tăng lợi nhuận, nâng cao hiệu quả kinh tế. Đó là điều
kiện cơ bản để tái sản xuất mở rộng, tái sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống
vật chất cho cán bộ, công nhân viên.
Ngoài ra, tiết kiệm chi phí còn cho phép doanh nghiệp hạ thấp được giá
thành các sản phẩm dịch vụ, hạ giá bán sản phẩm để thu hút khách hàng. Vì thế
mà các nhà quản trị thường tìm cách để cắt giảm các chi phí không cần thiết
nhằm hạ giá thành sản phẩm, nâng cao lợi nhuận kinh doanh. Tuy nhiên, cần
xem xét lại vấn đề cắt giảm chi phí để xem chương trình này có thực sự đem lại
hiệu quả cho doanh nghiệp hay không?
“Doanh thu trong một doanh nghiệp dịch vụ nhà hàng, khách sạn chứa tỷ
lệ chi phí rất lớn: cứ 1 đô la doanh thu thì khoảng 90 xu có thể được dùng để
chi trả cho chi phí. Vì thế việc quản lý chi phí rất quan trọng. Dự toán chi phí,
phân tích chi phí là một cách để kiểm soát, quản lý chi phí nhằm cải thiện thu
nhập ròng. Một cách khác để nâng cao thu nhập ròng là cắt giảm chi phí mà
không quan tâm tới hệ quả. Hành động này có lẽ không khôn ngoan” [03; 8]
Từ thập niên 1980 trở lại đây, các chương trình cắt giảm chi phí đã trở
thành một bộ phận không thể thiếu trong cuộc sống kinh doanh nhằm gia tăng
doanh thu và lợi nhuận cho các công ty. Tuy nhiên, việc cắt giảm chi phí đơn
thuần chỉ dẫn tới những kết quả tạm thời, có thể giúp các công ty đạt được mục
tiêu lợi nhuận, song hiếm khi đem lại kết quả cải thiện bền vững về vị thế cạnh
tranh. Có ba lý do giải thích việc này:
(1) Sáng kiến cắt giảm chi phí là cách thức tuyệt vời để đẩy mạnh lợi
nhuận ngắn hạn, nhưng nó cũng có thể làm xói mòn những nỗ lực cải thiện cạnh
tranh lâu bền hơn. Động cơ cho các chương trình cắt giảm chi phí là việc phải
“thắt lưng buộc bụng” trong thời kỳ khó khăn hay là một phần của công cuộc cải
tổ cơ cấu kinh doanh sau khi thoát khỏi khủng hoảng.
Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí tại Công ty Cổ phần
khách sạn du lịch thương mại Ngôi Sao Hải Phòng
bộ hao phí về các nguồn lực mà công ty đã bỏ ra trong một giai đoạn kinh doanh
nhất định. Việc quản lý chi phí kinh doanh không chỉ đơn thuần là quản lý số
Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí tại Công ty Cổ phần
khách sạn du lịch thương mại Ngôi Sao Hải Phòng
Sinh viên: Nguyễn Thị The – Lớp QT1001P
16
liệu phản ánh tổng hợp chi phí mà phải dựa trên cả các yếu tố chi phí riêng biệt
để phân tích toàn bộ chi phí sản xuất của từng công trình, hạng mục công trình
hay theo nơi phát sinh chi phí. Dưới các góc độ xem xét khác nhau, theo những
tiêu chí khác nhau thì chi phí kinh doanh cũng được phân loại theo các cách
khác nhau để đáp ứng yêu cầu thực tế của quản lý và hạch toán.
Trên thực tế, hoạt động quản lý chi phí được tách rời đối với công tác kế
toán thống kê. Quản lý chi phí là tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng về
việc sử dụng các nguồn vốn và chi phí, từ đó đưa ra những quyết định về các chi
phí ngắn hạn cũng như dài hạn của công ty.
Nhu cầu vốn và chi phí cho sản xuất kinh doanh của công ty luôn có
những biến động nhất định trong từng thời kỳ. Vì vậy, một trong những nhiệm
vụ quan trọng của quản lý chi phí là xem xét, lựa chọn cơ cấu vốn và chi phí sao
cho tiết kiệm, hiệu quả nhất. Quản lý chi phí bao gồm:
- Tiến hành phân tích và đưa ra một cơ cấu chi phí và nguồn vốn huy
động tối ưu cho công ty trong từng thời kỳ.
- Thiết lập một chính sách phân chia chi phí cùng các mức lợi nhuận một
cách hợp lý đối với công ty, vừa bảo vệ được quyền lợi của chủ công ty và các
cổ đông, vừa đảm bảo được lợi ích hợp pháp, hợp lý cho người lao động; xác
định phần lợi nhuận còn lại từ sự phân phối này để đưa ra các quyết định về mở
rộng sản xuất hoặc đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh mới, tạo điều kiện cho
công ty có mức độ tăng trưởng cao và bền vững.
- Kiểm soát việc sử dụng cả các tài sản trong công ty, tránh tình trạng sử
dụng lãng phí, sai mục đích.
Bộ phận quản lý chi phí trong các công ty sẽ dựa vào các thống kê kế
motel, nhà nghỉ… Đó là những khoản chi về tiền lương cho cán bộ, nhân viên
phục vụ ở bộ phận kinh doanh lưu trú, về nhiên liệu, điện nước, khấu hao tài sản
cố định, sửa chữa nhà cửa, trang bị máy móc, bảo trì, bảo dưỡng tài sản và chi
phí liên quan đến khách nghỉ trọ.
- Chi phí của nghiệp vụ hướng dẫn du lịch:
Là biểu hiện bằng tiền những hao phí lao động xã hội cần thiết phát sinh
trong quá trình phục vụ khách du lịch. Đó là những chi phí trả lương cho hướng
dẫn viên, chi phí xây dựng chương trình và những chi phí phát sinh khác để tổ
chức các hoạt động:
Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí tại Công ty Cổ phần
khách sạn du lịch thương mại Ngôi Sao Hải Phòng
Sinh viên: Nguyễn Thị The – Lớp QT1001P
18
+ Tổ chức đón tiếp, vận chuyển khách du lịch.
+ Tổ chức bố trí nơi ăn chốn ở cho khách du lịch.
+Tổ chức cho khách tham quan và tham gia chương trình vui chơi giải trí.
+Tổ chức các buổi nói chuyện hoặc thuyết minh về các di tích lịch sử, các
ngày lễ hội cho khách đi tham quan được biết. Giới thiệu cho khách những
thông tin về giá cả, thị trường, địa danh du lịch, những phong tục tập quán của
dân tộc Việt Nam.
+ Tổ chức tiễn khách…
- Chi phí của các dịch vụ khác:
+ Dịch vụ dancing ( khiêu vũ)
+ Dịch vụ Karaoke
+ Dịch vụ massages
+ Dịch vụ đổi tiền, điện thoại, mua vé máy bay, tổ chức vui chơi…
1.2.4.2. Căn cứ vào nội dung kinh tế của chi phí
Phân loại chi phí theo yếu tố chi phí:
Cách phân loại này để phục vụ cho việc quản lý các chi phí theo nội dung
kinh tế ban đầu đồng nhất của nó mà không xét đến địa điểm phát sinh và chi
- Chi phí nhân công trực tiếp: gồm các khoản chi phí trả cho người lao
động trực tiếp sản xuất (chi phí tiền lương, tiền công) và các khoản trích nộp của
công nhân trực tiếp sản xuất mà doanh nghiệp phải có trách nhiệm chi trả cho
họ.
- Chi phí sản xuất chung: là các chi phí sử dụng chung cho hoạt động sản
xuất chế biến của phân xưởng, bộ phận kinh doanh của doanh nghiệp trực tiếp
tạo ra sản phẩm. Chi phí sản xuất chung bao gồm chi phí tiền lương, phụ cấp trả
cho nhân viên phân xưởng, chi phí vật liệu, dụng cụ dùng cho phân xưởng, khấu
hao tài sản cố định thuộc phân xưởng ( bộ phận sản xuất), chi phí dịch vụ mua
ngoài, chi phí khác bằng tiền phát sinh ở phân xưởng.
Ngoài ra, khi tính chỉ tiêu giá thành sản phẩm tiêu thụ thì chỉ tiêu giá
thành còn bao gồm khoản mục chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí bán
hàng.
1.2.4.3. Căn cứ vào tính chất biến động của chi phí
Trong trường hợp này chi phí được chia làm hai loại: chi phí bất biến và
chi phí khả biến.
Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí tại Công ty Cổ phần
khách sạn du lịch thương mại Ngôi Sao Hải Phòng
Sinh viên: Nguyễn Thị The – Lớp QT1001P
20
- Chi phí bất biến (định phí): là chi phí kỳ vọng sẽ không thay đổi trong
thời kỳ hoạt động ngắn hạn 1 năm hoặc ít hơn, và sẽ không thay đổi theo mức
tăng giảm doanh thu. Chẳng hạn như lương ban quản lý, chi phí bảo hiểm hỏa
hoạn, chi phí thuê trả theo diện tích m
2
hay biến phí chiến dịch quảng cáo. Dĩ
nhiên, về dài hạn, định phí có thể thay đổi nhưng về ngắn hạn chúng có lẽ không
biến đổi. Nếu định phí thay đổi trong ngắn hạn, sự thay đổi này thường chỉ sẽ
bắt nguồn từ một quyết định đặc biệt của ban quản trị cấp cao.
- Chi phí khả biến (biến phí): là loại chi phí thay đổi theo tỷ lệ trực tiếp
- Tỷ suất chi phí: là tỷ số hoặc tỷ lệ phần trăm so sánh giữa tổng chi phí
kinh doanh khách sạn và doanh thu đạt được trong một thời kỳ nhất định ( có thể
là một năm, một quý, một tháng) của doanh nghiệp.
Biểu hiện – công thức: F’= F/D*100%
Trong đó: F’: Tỷ suất chi phí của doanh nghiệp
F: Tổng chi phí kinh doanh
D: Tổng doanh thu
Ý nghĩa của tỷ suất chi phí: là chỉ tiêu chất lượng phản ánh trong một thời
kỳ nhất định, để đạt được một đồng doanh thu, doanh nghiệp cần phải bỏ ra bao
nhiêu đồng chi phí. Chỉ tiêu này có thể sử dụng để so sánh giữa các thời kỳ với
nhau trong một doanh nghiệp hoặc giữa các doanh nghiệp khách sạn trong cùng
một thời kỳ với nhau.
- Mức tăng (giảm) chi phí: chỉ tiêu này đánh giá đơn vị có quản lý tốt chi
phí hay không qua việc so sánh tỷ suất giữa kỳ này so với kỳ trước hoặc kỳ thực
hiện so với kỳ kế hoạch và chỉ tiêu biểu hiện dưới dạng số tương đối:
∆ F’ = F’
1
– F’
0
Trong đó: ∆ F’: Mức độ tăng hoặc giảm chi phí
F’
1
: Tỷ suất chi phí của kỳ này (kỳ thực hiện)
F’
0
: Tỷ suất chi phí của kỳ trước (kỳ kế hoạch)
- Đồng thời với chỉ tiêu trên chúng ta sử dụng thêm chỉ tiêu “tốc độ tăng
(giảm) chi phí”.
CF’ = ∆ F’/F’
1
+ C
2
+ C
3
Trong đó:
TC: Tổng chi phí kinh doanh của khách sạn trong kỳ phân tích.
C
1
: Chi phí cho kinh doanh lưu trú.
C
2
: Chi phí cho kinh doanh ăn uống.
C
3
: Chi phí cho kinh doanh các dịch vụ bổ sung.
Chi phí cho kinh doanh lưu trú (C
1
)
Chi phí cho kinh doanh lưu trú bao gồm tất cả các chi phí để thực hiện
dịch vụ lưu trú cho khách.
C
1
= Chi phí cố định cho kinh doanh lưu trú + chi phí thường xuyên (biến
đổi) cho kinh doanh lưu trú.
Chi phí cho kinh doanh ăn uống (C
2
)
Chi phí cho kinh doanh ăn uống bao gồm tất cả các chi phí để thực hiện
Như vậy khi doanh thu tăng lên thì số tiền tuyệt đối của chi phí có thể
tăng lên nhưng tốc độ tăng chậm dẫn đến tỷ suất chi phí có thể hạ thấp.
Đối với cấu thành doanh thu, do tính chất kinh doanh của mỗi nghiệp vụ
khác nhau, do vậy mà cấu thành doanh thu thay đổi sẽ làm cho tỷ suất chi phí
của doanh nghiệp thay đổi.
1.2.6.2. Ảnh hƣởng của năng suất lao động
Nếu năng suất lao động của doanh nghiệp tăng lên, doanh nghiệp sẽ tiết
kiệm được lao động sống, hay tiết kiệm được chi phí tiền lương. Đồng thời tăng
năng suất lao động sẽ có điều kiện tăng được thu nhập cho cán bộ, công nhân
viên, nhân viên, tuy nhiên chi phí về tiền lương sẽ phải có tốc độ tăng chậm hơn
Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí tại Công ty Cổ phần
khách sạn du lịch thương mại Ngôi Sao Hải Phòng
Sinh viên: Nguyễn Thị The – Lớp QT1001P
24
tốc độ tăng của năng suất lao động, như vậy mới hợp lý và tiết kiệm được chi
phí.
1.2.6.3. Ảnh hƣởng của việc đầu tƣ xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
Việc đầu tư xây dựng khách sạn, các cơ sở kinh doanh, mua sắm phương
tiện, trang bị các trang thiết bị dụng cụ… trong một giai đoạn nhất định sẽ làm
tăng chi phí của doanh nghiệp. Tuy nhiên việc đầu tư hợp lý có vai trò nâng cao
chất lượng phục vụ sẽ thu hút được nhanh chóng khách hàng và vì vậy sẽ phát
huy được tác dụng của việc đầu tư.
1.2.6.4. Ảnh hƣởng của trình độ tổ chức, quản lý trong doanh nghiệp
Nhân tố này có vai trò trong toàn bộ quá trình kinh doanh và ảnh hưởng
trực tiếp đến chi phí của doanh nghiệp. Nếu kết hợp các yếu tố của quá trình sản
xuất – kinh doanh một cách hợp lý, doanh nghiệp sẽ phát triển được sản xuất –
kinh doanh, tiết kiệm được chi phi hay nói cách khác, doanh nghiệp sẽ sử dụng
có hiệu quả vật tư, lao động và tiền vốn doanh nghiệp bỏ ra.
Ngoài các nhân tố chủ quan trên còn có nhiều nhân tố tác động đến chi
phí của doanh nghiệp nhưng mang tính chất khách quan như: sự phát triển của
quả… có như vậy những chi phí cố định sẽ phát huy được hiệu quả.
1.2.7.3. Lập báo cáo liên tục cho các khoản chi phí của doanh nghiệp
Các nhà quản trị cần phải có thông tin kịp thời, chính xác và xác thực, đó
là điều kiện quan trọng cho họ có những quyết định đúng đắn. Thông tin là đầu
vào của quyết định vì thế để có thông tin họ cần phải có báo cáo đầy đủ, kịp thời
qua các Báo cáo tài chính, mà trong đó báo cáo chi phí là bộ phận quan trọng, là
một vế của Bảng cân đối kế toán. Muốn có được báo cáo chi phí liên tục thì hệ
thống kiểm soát trong doanh nghiệp phải liên thông và quan trọng phải có sự
tham gia đầy đủ của mọi người. Các phòng ban, các cá nhân đều có thể tham
gia, phản ánh khi có vấn đề về chi phí, có như vậy vấn đề chi phí sẽ được phát
hiện kịp thời và chính xác từ đó đưa ra được các giải pháp thích hợp.
1.2.7.4. Nguyên tắc khách quan
Vì chi phí như đã phân tích ngay từ ban đầu là phạm trù kinh tế phức tạp,
liên quan đến nhiều người và bị chi phối bởi vấn đề lợi ích. Rõ ràng quản lý chi
phí mà không khách quan sẽ dễ đưa ra quyết định tùy tiện theo chủ kiến của
mình và khi không đúng thực tế sẽ gây ra những thông tin phản hồi thất thiệt
cho các nhà quản lý và rất dễ gây ra kết quả là sự ly tán, tâm lý nghi ngờ trong